GIỚI THIỆU SÁCH “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” -Tô Hải

Tác Giả NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC
________________________________________

DCVOnline: (*) Nhạc sĩ Tô Hải, tên thật là Tô Đình Hải (1927), tác giả ca khúc Nụ cười sơn cước, Giải thưởng Nhà nước đợt 1 (năm 2001), Theo Nhịp cầu âm nhạc còn là tác giả của hơn 500 bài báo và hơn chục đầu sách dịch, trong đó có tác phẩm của những nhà văn lớn: Victor Hugo, John Ernst Steinbeck III, Peter Adam.
Trả lời Hà Đình Nguyên của Việt Báo.vn, Tô hải nói: “Thời tiểu học, tôi học hát và tham gia ban đồng ca Saint Joseph, từng đoạt giải thưởng âm nhạc Chim Sơn Ca của Hướng đạo sinh toàn Đông Dương. Đang học dở tú tài 2 thì tôi nhập ngũ ngày 19/08/1945. Tôi viết ca khúc đầu tay Trở về đô thành (1946) rồi Nụ cười sơn cước (1947) đều do bản năng và mê nhạc mà thành. Tôi luôn tự cho mình là một người lính làm nhạc cho mình, cho đồng đội mình hát.”

Trả lời một câu hỏi khác Tô Hải nói, “Kim Bôi là một dãy núi thuộc tỉnh Hòa Bình. Dạo đó đơn vị tôi ở nhờ một làng dân tộc Mường. Tôi được ở trong một gia đình có cô con gái rất đẹp, nàng tên là Phẩm. Cũng chỉ là “để ý” thầm vậy thôi! Khi đơn vị tôi chuyển quân, với tình cảm lưu luyến hết sức chân thành tôi đã: “hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh!” và chuyển những tình cảm này thành ca khúc, ca ngợi chung những bông hoa rừng mà tôi đã từng gặp… Cô Phẩm ngày xưa giờ đã là một thiếu phụ luống tuổi, ăn mặc theo kiểu người Kinh và… chẳng biết tôi là ai cả! Nhắc lại chỉ thêm buồn… Biết vậy, cứ hãy sống với kỷ niệm xưa.”

Người hướng Tô Hải vào nghiệp âm nhạc là nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương.

HỒI KÝ của một Thằng Hèn
Nguồn: Tiếng Quê Hương

LỜI MỞ
Vì sao tôi viết hồi ký?

“Khi bắt tay vào viết hồi ký, ấy là lúc
mọi khát vọng sáng tạo đã cạn, mọi
ham mê, hoài bão đã tắt, và thần
chết đã cầm lưỡi hái hiện trước cửa sổ… ”

_______________________________________
Câu mở đầu đó, nếu tôi không nhầm, là của George Sand (1) mà tôi đã đọc, đã thương cảm và đã tự nhủ rằng rồi đây chính mình cũng sẽ phải để lại cho đời ít dòng nói thật khi bước vào tuổi 70, nếu như cái chết lãng nhách không đến bất chợt!

Biết đâu đấy, rồi đây lịch sử sẽ có thêm được một số chi tiết trong “tội ác diệt văn hóa” của nhà cầm quyền Việt Nam trong một thời gian dài trên nửa thế kỷ nhờ những chứng liệu được ghi trong hồi ký của một kẻ từng làm thứ văn nghệ gọi là “vì Đảng vì dân” trong suốt đời mình.

Hãy nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật ở miền Bắc Việt Nam mà xem.

Một lỗ hổng lớn!

Đúng vậy! Hậu thế sẽ thắc mắc: làm sao mà từ năm 1945 đến đầu thế kỷ 21, nhân tài đất Việt ở miền Bắc Việt Nam ‒ một thứ Đàng Ngoài của lịch sử lặp lại ‒ ít ỏi đến thế?

Tác phẩm của họ đâu rồi, ngoài lèo tèo mấy bài thơ của Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán…và chẳng có một tiểu thuyết, một đoạn văn nào đáng được trích giảng trong các trường từ tiểu, trung đến đại học? Vậy mà suốt thời kỳ đất nước nằm dưới “sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt” và “duy nhất đúng đắn” của những tên “xuất thân thành phần cơ bản”, trình độ học thức ở mức “đánh vần được chữ quốc ngữ”, các văn nghệ sĩ công chức ở nơi này vẫn được nhà cầm quyền trao tặng “Giải thưởng Nhà Nước”, “Giải thưởng Hồ Chí Minh” và đủ thứ bằng khen giấy khen, được trang trọng lồng kính treo kín những bức tường phòng khách!

Thử hỏi những tác phẩm được khen nức khen nở ấy giờ ra sao?

Té ra tất cả đã bị lịch sử xếp xó.

Hơn thế nữa, những tác giả được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa khen hàng loạt nọ, trong thực tế, còn là những kẻ bán rẻ lương tâm đã lợi dụng các loại hình văn nghệ để ca ngợi những điều bất nhân, bất nghĩa bị cả nhân loại phỉ nhổ: khuyến khích con đấu cha, vợ tố chồng; hô hào kích động người cùng một nước chém giết lẫn nhau; ra sức ngợi ca những tên sát nhân khét tiếng như Stalin, Mao Trạch Đông… thậm chí, còn quỳ gối khấu đầu tạ ơn những tên đao phủ và cái tổ chức tội ác là “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, dạy những đứa trẻ bập bẹ biết nói: “tiếng đầu lòng con gọi Stalin!” Nhục nhã thay cho những kẻ cam tâm bợ đít, luồn trôn kẻ giết cha mình! Cho tới cuối thế kỷ 20 vẫn còn những kẻ u mê cứ tưởng các “tác phẩm” tuyên truyền cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cho hận thù dân tộc, cho đấu tranh giai cấp của chúng là giá trị lắm! Cứ xem chúng tâng bốc nhau, nịnh bợ nhau, bôi xấu nhau, kiện cáo nhau, để được nhận cái… vết nhơ một thời làm lính văn nghệ của Đảng thì thấy.

Không thể nín nhịn mãi, nhân dịp người ta tổ chức mừng sinh nhật 70 tuổi của tôi để ghi công những năm làm nô bộc của tôi, tôi đã công khai phủ nhận tuốt tuột những gì tôi gọi là “tranh cổ động bằng âm thanh” trên Tivi Sài Gòn. Tôi kiên quyết không cho phát lại những gì tôi được nhà cầm quyền ngợi khen suốt quá trình sáng tác. Để nhắc đến những tác phẩm của tôi, tôi chỉ đồng ý lên một chương trình do chính tôi soạn thảo và đặt tên. Nó gồm những tiếng nói của trái tim bị cấm đoán, bị lên án, thậm chí bị trù dập suốt nửa thế kỷ.

Sau hết, dựa vào thời cơ “Đổi Mới”, nhờ những bạn bè đồng tình với tôi và còn giữ được một số quyền hành cuối cùng trước khi về hưu, chương trình Nửa Trái Tim Tôi của Tô Hải đã ra mắt trọn một tiếng đồng hồ với toàn những “tác phẩm bỏ tủ lạnh”, với những lời tuyên bố gây “sốc” mạnh trong giới làm nhạc ăn lương.

Những đồng nghiệp thực sự có tài và có tâm sự giống tôi thì hài lòng. Số này, khi trả lời phỏng vấn, cũng chỉ dám nhận một cách khiêm tốn con số ít ỏi những gì mình làm ra xứng đáng được gọi là tác phẩm.

Còn số khác, những “nhạc sĩ” bám chặt thành tích 500, 1000 bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác, động viên con em ra chiến trường hiện còn tiếp tục lải nhải kể công với Đảng để xin “tí tiền còm” nhân danh giải này giải nọ thì tự ái, nổi khùng, gọi tôi là “tên phản động”.

Trả lời những câu hỏi của báo chí hoặc truyền thanh truyền hình, tôi luôn nhắc lại nguyên lý bất diệt của nghệ thuật: “Chỉ những gì từ trái tim mới đến được trái tim”! Nhưng trái tim của tôi, hỡi ôi, gần một thế kỷ qua lại không đập vì…tôi! Nó bị trói buộc, bị cưỡng bức phải đập vì những cái xa lạ với tôi: vì Đảng, vì hai cuộc chiến, vì những tín điều nhập khẩu từ các nước cộng sản Nga, Tầu.

May thay, thời thế rồi cũng đổi thay.

Liên Xô, “quê hương của cách mạng vô sản toàn thế giới”, “ngọn đuốc soi đường cho nhân loại” sụp đổ cái rụp. Thần tượng Marx, Lenin, Stalin gần 70 năm được tôn thờ hơn cả Chúa Trời bị đập tan!

Đọc hồi ký, di bút của các văn nghệ sĩ vĩ đại của mọi thời đại như Beethoven, Modigliani, Rubinstein, Stravinsky, Litz, … hay của các nhà chính trị như de Gaulle, Khrutchev, Nixon, … càng thấy cái cao thượng của họ bao nhiêu càng thấy cái bẩn thỉu, thấp hèn của các nhà “chính chọe” (politicaillerie) bấy nhiêu.

Biết bao tên tuổi lớn đã chịu sự hắt hủi, lên án, thậm chí săn đuổi, cách ly của một thể chế, của tập đoàn nắm quyền lực, kể cả bị lên án là “phản bội” đã để lại cho chúng ta các tác phẩm ghi lại những gì họ suy ngẫm qua những trải nghiệm trong cuộc đời, những buồn đau, khổ cực, những chịu đựng ghê gớm cả về vật chất lẫn tinh thần để tồn tại, để tìm tòi và sáng tạo.

Trong khi đó, hồi ký của các “lãnh tụ cách mạng” chỉ là những cuốn sách viết ra cốt tự đề cao mình một lần cuối, để giải thích (chống chế thì đúng hơn) cho những hành động sai lầm, đổ tội cho người khác về những thất bại mang tính lịch sử mà kẻ viết hồi ký chính là tội phạm. Vậy thì, tôi, Tô Hải, một cái tên được nhiều người biết ở cái thời “âm nhạc phục vụ công nông binh”, ở cái thời mà âm nhạc, nếu không làm đúng yêu cầu của Đảng sẽ lập tức bị bọn “quan văn nghệ” lên án là “mất lập trường”, là “cá nhân tiểu tư sản”, thậm chí là “âm nhạc phản động”, có gì để mà hồi với ký?

Bánh xe lịch sử quay với tốc độ kinh hoàng đã cuốn phăng những “tác phẩm”, và cả những tác giả của chúng từng đoạt giải thưởng này huân chương nọ lại than ôi, có cả tôi trong đó!

Lẽ công bằng chậm chạp cho đến nay đã phục hồi một cách rụt rè (không cần một quyết định hành chính nào hết) những tác phẩm và những tác giả một thời bị đoạ đầy, bị cấm đoán. Cuộc Đổi Mới ‒ thực tế là trở lại như cũ ‒ với các quan niệm về cái đẹp đã cho những “tên tuổi lớn” một thời trong mọi lãnh vực quân sự, chính trị, văn học, nghệ thuật những cái tát tỉnh người!

Trong “cơn đau cuối đời”, một số cựu uỷ viên trung ương đảng không còn chỗ ngồi ghé trong các ban chấp hành mới, mấy ông tướng bị cho ra rìa, ngồi chơi xơi nước hoặc bị khai trừ khỏi đảng vì bất tuân thượng lệnh, đã tỉnh ngộ. Kinh nghiệm một đời theo Đảng đã cho họ cái để viết nên những trang “sám hối” có phần nào giá trị. Họ phải trả giá cho sự dám nhìn lại cuộc đời bằng con mắt khách quan và tỉnh táo bằng sự trừng trị tương đối nhẹ nhàng so với người đối kháng khác: bị giam lỏng tại nhà, bị cắt điện thoại, tịch thu computer…

Trong khi đó ‒ tôi xin nhắc lại ‒ mấy anh văn nghệ sĩ mơ ngủ vẫn xúm đen xúm đỏ chen lấn nhau để giành bằng được mấy cái giải thưởng cho những tác phẩm mà con cháu ngày nay chẳng còn coi là cái giống gì. Ấy là chưa kể những kẻ chẳng bao giờ góp mặt trong nền văn nghệ, kể cả văn nghệ “phục vụ cách mạng”, nhân dịp này dịp khác cũng được nhà nước vô sản hào phóng ban thưởng về “sáng tác”!

Một bức tranh cười ra nước mắt.

Riêng tôi, khi chẳng còn lao động nghệ thuật được nữa (đúng hơn là không còn muốn lao động nghệ thuật nữa) bỗng dưng lại được cái Nhà Nước công nông binh tặng cho cái “Huân Chương Lao Động Hạng Nhất”.

Và khi không còn sáng tác nữa (đúng ra là không muốn sáng tác nữa) lại được người ta treo lên cổ cái mề-đay “Giải thưởng Nhà Nước”! Sướng chưa?

(với Trần Hoàn)

Tội nghiệp cho mấy anh Văn Chung, Nguyễn Đình Phúc, Lê Yên, Vũ Trọng Hối, Trần Ngọc Xương, … chẳng còn sống ở trên đời để mà hưởng cái “Giải thưởng Nhà Nước” nọ. Nói thêm chút cho vui: Cái giải thưởng này quy ra tiền cũng được gần bằng một phần mười giải thưởng tặng cho hoa hậu đấy. Mà để làm hoa hậu thì cần quái gì phải có học.
Bi kịch hay hài kịch đây?

Dù sao cái giải thưởng đáng giá hai năm lương hưu của tôi cũng là món tiền thêm vào cho hai năm tôi ngồi viết những trang tiếc nuối cuộc đời mà các bạn đang cầm trong tay. Không có nó tôi đành ôm cả núi ân hận mà về với đất. Vì không có nó thì lấy gì ăn để mà viết? Cho nên tôi cũng thấy cần ghi lại ở đây “lời tri ân” đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi viết nên những dòng hồi ký này.

Thế là, với sức tàn còn lại, tôi bắt đầu…

________________________________________
Những hình ảnh đầu tiên đến với tôi rõ nét nhất chính là những thời gian, không gian, sự kiện và những con người đã mang lại cho tôi những cảm xúc, những niềm vui và nỗi buồn.

Trong đầu tôi tràn ngập hồi ức đòi được thoát ra.

Vì thế trong khi viết, tôi luôn phải cố gắng sao cho khỏi lạc “chủ đề tư tưởng” (cách nói méo mó trong ngôn từ văn nghệ cộng sản). Và trước hết, tôi phải đè bẹp được sự “hèn nhát” trong tôi là cái đã bén rễ sâu chặt do thời gian quá dài sống trong lồng kín, cách ly bầu trời tự do.

Tôi sẽ viết để bạn bè, con cháu hiểu và thông cảm nỗi đau của những người cả cuộc đời phải sống và làm việc với cái đầu và trái tim của tên nô lệ.

Tôi tình nguyện làm một trong những người vạch trần những bộ mặt chính trị dỏm, văn nghệ dỏm, những tên cơ hội, đã cản trở, giết chết tác phẩm, đẩy những tài năng vào hố sâu quên lãng.

Đáng buồn là những chuyện được giấu kín đó, tôi đều được biết, thậm chí còn được tham dự các kế hoạch hại người (được gọi là kiểm điểm, học tập, thu hoạch… ) ngay từ khi chúng mới được phác hoạ, trong suốt quá trình tôi ở cương vị cấp uỷ, lãnh đạo chỉ đạo nghệ thuật.

Để bảo vệ chỗ đứng của mình, tôi đã không dám cãi lại những lời chửi rủa bố tôi là đồ “phản động”, mẹ tôi là “Việt gian”, họ hàng nhà tôi là “tay sai đế quốc”!

Vậy thì làm sao tôi dám bảo vệ cho một Đoàn Phú Tứ là không phản bội, một Phạm Duy là không phải “dinh tê” chỉ vì không chịu được gian khổ”?

Tôi đã chọn con đường cúi đầu nín lặng mặc dù tôi biết rõ nguyên nhân vì sao ông cậu Đoàn Phú Tứ của tôi phải về Thành, biết rõ không ai không sợ chết mà lại dám một mình vác đàn, nhịn đói vượt U Bò, Ba Rền vào chiến trường Bình Trị Thiên ác liệt nhất để viết nên Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung như Phạm Duy. Tôi đã là thế đấy. Những âm mưu hạ tiện đó, tôi không phải không biết. Trái lại, tôi hiểu ra ngay từ lúc chúng mới được bàn bạc trong “nội bộ”. Lòng tôi chống lại thủ đoạn hại người, nhưng miệng tôi lại không dám nói ra.

Nỗi bất bình bị dồn nén ám ảnh tôi suốt mấy chục năm trời. Dần dà, nó biến tôi thành một núi mâu thuẫn. Mặc dầu tôi tự nguyện dồn nén, miệng núi lửa kia thỉnh thoảng lại bục ra. Những phản ứng không kìm được xảy ra ngày một nhiều và được các công bộc mẫn cán của Đảng ghi lại bằng giấy trắng mực đen trong lý lịch đảng viên của tôi, kèm theo nhận xét “không có ý thức bảo vệ Đảng”, “hay phát ngôn vô trách nhiệm”. Tôi mang tội “không có ý thức bảo vệ Đảng” chẳng qua vì tôi không chịu bảo vệ Đảng và những đảng viên có chức có quyền làm những điều sai trái.

Ngay cả với trưởng ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ quyền sinh quyền sát là thế mà tôi cũng có lần nói thẳng mặt: “Tại sao khi những người nhân danh Đảng làm bậy, chúng tôi phê phán họ thì lại bị ghép vào tội chống Đảng, chống chủ nghĩa cộng sản? Tại sao lẽ phải bao giờ cũng thuộc về họ, mặc dầu họ không có một xu kiến thức để đối thoại với chúng tôi?”

Đó là một trong những “cú liều” đem lại cho tôi nhiều thiệt thòi, cay đắng. Với những “cú liều” này, bạn bè bảo: “Tô Hải là thằng ‘có bản lãnh’”. Những người cùng nghĩ như tôi nhưng biết giữ mồm giữ miệng thì khoái lắm, vì đã có Tô Hải nói thay! Số còn chức còn quyền nhưng không đến nỗi tồi tệ quá thì cố tìm cách “hãm phanh” tôi lại để các “anh trên” đỡ vì đau đầu mà phạng lung tung. Còn tôi, ở cái tuổi ngoài 70, chẳng còn gì để mất, lại được sự cổ vũ của số lớn bạn bè, tôi cứ “nổ” khi có điều kiện.

Cũng có người cho rằng tôi “dại” có cỡ, có kẻ nhắc là “cẩn thận kẻo vào tù!” Nhưng tôi đã quyết: 55 năm miệng bị lắp khoá kéo, nay đã già, đã về hưu, có chia xẻ với bạn đọc những hồi ức của đời mình thì cũng chẳng còn phải e ngại các lời ong tiếng ve rằng mình vì tư lợi, muốn kiếm chác cái gì.

Còn về Đảng ư? Tôi đã cóc cần nó từ khuya rồi và hết sức vinh dự được trở lại hàng ngũ nhân dân đang bị một nhóm người bắt sống cuộc sống trại lính, ăn gì, mặc gì, xem gì, đọc gì, thậm chí chết kiểu gì cũng đều do họ quy định và cho phép!

Tôi đã nói và sẽ nói, nói tất, nói với bạn bè, với người thân, với con cháu, chắt, chút, chít những gì mà bộ não ông già 70 còn ghi nhớ được về cái thời tưởng mình là một cánh đại bàng bay bổng giữa trời.

Nhưng, than ôi! Gần hết cuộc đời, tôi vẫn chỉ là “con đại bàng… cánh cụt”, chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông.

Hi vọng rằng sau khi đọc hồi ký này người đọc sẽ thương cảm cho tôi, cho các bạn tôi, những người ngây thơ, tội nghiệp, cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức.

Biết đâu chẳng có ngày đất nước này hoàn toàn “đổi mới” thật sự, hồi ký này sẽ được in ra để làm tài liệu lưu trữ về một thời cay đắng và tủi nhục nhất trong lịch sử Việt Nam. Và, may ra, lạy trời, những “đại bàng cánh cụt” chúng tôi sẽ được nhắc tới, như những chứng nhân lịch sử.

Nhưng, “vừa là tội đồ vừa là tòng phạm” làm sao những con đại bàng cánh cụt kia có thể bay cao, bay xa? Thôi thì xin làm con sói của Alfred de Vigny, con bói cá của Musset tru lên tiếng rú cuối cùng, phanh ngực, xé lòng, hiến cho lịch sử một mẩu trái tim, một mẩu trí óc, một chút hơi tàn của thân xác.

Với niềm tin vô bờ bến rằng ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã đến rất gần, dù có chậm hơn ở các nước bậc cha ông, anh cả, anh hai đến vài ba thập kỷ, niềm tin ấy vẫn cháy bỏng trong tôi thúc giục tôi vứt bỏ mọi sợ hãi, mọi hèn kém để ngồi vào computer.

Tôi bắt đầu…

Đôi điều phi lộ viết … sau cùng

Tập Hồi Ký này tôi viết xong từ năm 2000, nhưng do… hèn, tôi đã không dám cho nó ra mắt bạn đọc. Vâng, do… hèn, chứ chẳng phải do cái gì khác, tôi đã giấu nó đi, lại còn cẩn thận ghi thêm một dòng ở ngoài bìa “Để xuất bản vào năm 2010”.

Như một lời di chúc dặn vợ con, khi tôi đã… chết!

Tới năm 2003, mang bản thảo ra đọc lại, thấy ngòi bút của mình sao vẫn rụt rè, vẫn lấp lửng mới biết mình vẫn chưa hết sợ sức mạnh tàn bạo của nền “chuyên chính vô sản” mà mình từng nếm trải. Nhất là sợ rồi đây vợ con mình phải chịu đựng những đòn thù bẩn thỉu của bầy dã thú đội lốt người, nếu chẳng may những gì mình viết ra rơi vào tay chúng.

Tôi thấy cần phải sửa lại cuốn sách ‒ từ cách viết, từ cái nhìn chưa đủ tinh tường về những sự kiện lịch sử ‒ và viết thêm về những con người cần được nhắc tới, mỗi người là một mảnh gương nhỏ, nhưng gộp lại người đọc có thể thấy hình ảnh một thời đại.

Và tôi viết thêm chương Tôi đã hết hèn!

Nhưng đã đến chưa, cái thời cơ có thể đưa cuốn sách mà tôi ấp ủ bấy lâu ra trình diện người đọc? Vẫn chưa phải lúc chăng? Ngẫm ra, tuy viết là “Tôi đã hết hèn”, nhưng trong thực tế cái hèn vẫn còn đó, nó vẫn bám chằng chằng, như một bộ phận của cơ thể, cái sự mình khẳng định với mình rằng đã hết hèn mới chỉ là sự mạnh dạn với bản thân khi cầm bút mà thôi! Còn đấu tranh trực diện với cái sức mạnh tăm tối đang cai trị đất nước, kìm hãm sự phát triển của cả một dân tộc là chuyện khác, không phải là điều ai cũng dám làm!

Đặc biệt, ba bốn năm gần đây tôi may mắn có điều kiện làm quen với Internet, nhờ đó được tiếp cận với rất nhiều người mà tôi vô cùng cảm phục. Dù đang sống ở trong nước, họ không hề sợ hãi trước đàn áp, ngục tù. Đó là những Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu. Bùi Minh Quốc. Đó là những Hoàng Tiến, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Thanh Giang, Vũ Cao Quận… Đó là những nhà sư, những linh mục thà chết không chịu đứng chung hàng với lũ tu sĩ “quốc doanh”, và nhiều, rất nhiều người khác nữa!

Cũng không thể không nói đến ảnh hưởng của hàng chục website cổ võ dân chủ trên khắp thế giới, cũng như những gì bạn bè tôi, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên phải bỏ nước, bỏ cả vợ con ra đi để được viết lên Sự Thật, mở mắt cho bao người còn đang sống hèn như tôi.

Không có những cái đó thì nhân dân còn tiếp tục bị lừa dối bởi lũ bồi bút cho đến nay vẫn ra rả ca tụng một chủ nghĩa phi nhân đã lỗi thời với cả nhân loại.

Tôi cũng mong sao mỗi người trong số các văn nghệ sĩ sắp giã từ cõi đời nhầy nhụa này hãy để lại một “bản di chúc” nói lên Sự Thật, dù chỉ là 1/1000 Sự Thật, để tạ tội với đồng bào, về những gì mình đã vì miếng cơm manh áo, vì yếu hèn mà phải cúi đầu làm thân trâu ngựa. Được như Ba Người Khác của Tô Hoài cũng đã là tốt, làm được thế thì người viết cũng có thể được nhân dân “xá tội” cho phần nào.

Người đọc đang chờ xem “di cảo” của một Chế Lan Viên, một Nguyễn Đình Thi ‒ hai nhân vật đứng đầu bầy nô lệ cầm bút. Đáng ngạc nhiên là theo Nguyễn Đình Chính (con trai Nguyễn Đình Thi) thì cuốn hồi ký của Nguyễn Đình Thi sẽ chỉ được phép công bố vào năm… 2014?!

Sao lại lâu đến thế? Nguyễn Đình Chính vẫn còn sợ, còn tính toán thiệt hơn, còn bắt linh hồn người cha ở thế giới bên kia tiếp tục đóng kịch mãi sao? Hay chính tác giả cuốn hồi ký doạ sẽ in năm 2014 vẫn còn chưa tin là chủ nghĩa cộng sản đã đến ngày tuyệt diệt?

Tôi sẽ phải đưa vào chương sẽ viết những nhận thức mới, tình cảm mới, những sự kiện bổ sung dưới ánh sáng mới, một chương gần như tóm tắt tất cả những gì tôi đã viết vào lúc chưa có được sự tiếp xúc và tiếp sức của phong trào đòi tự do, dân chủ, đòi quyền con người đang ào ào dâng lên mỗi giờ, mỗi ngày trong cái xã hội độc tài đảng trị đáng nguyền rủa này.

Viết xong chương bổ sung cần thiết, tôi sẽ công bố cuốn hồi ký của đời mình trên mạng Internet toàn cầu để mọi người nếu đã biết rồi sẽ biết thêm về mặt trái với những góc khuất của một xã hội tồi tệ được sơn son thếp vàng bởi một lũ bồi bút hèn hạ, trong đó, than ôi, có cả bàn tay của kẻ viết những dòng này.

Tại sao lại phải công bố trên Internet?

Bởi vì không thể trông chờ sự xuất hiện của một nhà xuất bản tư nhân nhờ “ơn trên” nào đó sẽ ra đời trong một cuộc đổi mới giả hiệu, và tập hồi ký này sẽ được in. Trong cái quái thai “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn độc tài với tự do tư tưởng, với nhân quyền tối thiểu, chuyện đó quyết không thể xảy ra.

Thật tình, tôi những ước mong lời nhắn gửi của tôi sẽ đến tay đồng bào, bè bạn, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi, những thế hệ sau tôi, kể cả “kẻ thù” của tôi nữa, trong dạng một cuốn sách bằng giấy trắng mực đen hơn là một cuốn sách trên màn hình máy tính. Mạng thông tin toàn cầu cho tới nay vẫn còn là một cái gì xa lạ với tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam, kể cả nhiều người gọi là có học nhưng đã về già, không còn sức để đọc mấy trăm trang trên computer!

Cuối cùng, xin người đọc, nhất là các bậc thức giả, hãy lượng thứ cho những thiếu sót, những nhầm lẫn ở chỗ này chỗ khác về tên tuổi, địa danh, ngày, tháng… mà một cây bút “trẻ” ở tuổi 80, tài vốn hèn, sức đã kiệt, có thể mắc phải.

Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 2007

Nguồn : Đàn Chim Việt

DCVOnline: Để không phải đợi xem cuốn “Hồi ký của một thằng hèn” trên mạng internet, ban đọc có thể liên lạc mua sách (bằng giấy trắng mực đen) tại :

Tủ sách Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653
Falls Church – VA 22044 ‒ E-mail: uyenthao1@juno.com

—————————————————————————————————–

Lời Tựa “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”
Lê Phú Khải (*)
________________________________________
Đọc Hồi Ký Của Một Thằng Hèn của nhạc sĩ Tô Hải, tôi bất giác nhớ đến bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Ông là một trí thức Việt kiều, rất hăng hái hoạt động trong phong trào mác-xít, đảng viên Đảng cộng sản Pháp, đã tình nguyện về nước để tham gia kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hăng hái là thế, mà ở tuổi ngoài tám mươi, khi làm bản tổng kết đời mình, ông đã phải thốt lên: “Đời tôi là đời một thằng ngây thơ”. Trong hai chữ “thơ” và chữ “ngây”, tôi xin giữ lại cho mình chữ “thơ” vì đã đi theo kháng chiến, còn cái chữ “ngây” để chỉ cái sự đi theo chủ nghĩa xã hội thì xin… vứt nó đi!”

Nguyễn Khắc Viện tự đánh giá như thế là khách quan, là công bằng. Cần phải tách bạch hai chuyện ‒cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cái gọi là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một đàng là hành động theo lương tâm, một đàng là hành động theo lý thuyết được người khác khuyến dụ, và cả ép buộc nữa.

Tô Hải và Nguyễn Khắc Viện ‒ hai con người, hai số phận, cả hai đều được Nhà Nước Cộng Sản tặng nhiều huân chương “cao quý”, nhưng cái tương đồng giữa hai người là ở chỗ họ đều thiết tha yêu nước, nhưng không thể yêu xã hội chủ nghĩa.

Cậu học trò Tô Hải gia nhập Vệ Quốc Đoàn ngay từ những ngày đầu cách mạng. Là người yêu nhạc bẩm sinh, Tô Hải khởi đầu cuộc đời nghệ thuật của mình bằng các ca khúc vui nhộn theo các điệu swing, rumba ‒ thứ nhạc bị coi là phi vô sản ‒ để giúp đồng đội quên đi những thiếu thốn, gian khổ trong cuộc chiến đấu không cân sức với quân xâm lược. Lúc ấy người ta rộng lượng tha cho Tô Hải cái tội làm nhạc theo cách của bọn đế quốc, tội ấy để đấy cái đã, tính sau. Cuộc đời binh nghiệp của Tô Hải có đủ niềm vui và nỗi buồn, vinh quang và tủi nhục, được ông trung thực ghi lại trong cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay. Nó là cuốn sách cần cho những ai muốn biết về chủ nghĩa cộng sản trong hiện thực. Nó cần cho những ai chưa tỉnh giấc nồng của những mộng mị được sơn phết vàng son.

Tôi có cái duyên được làm bạn với tác giả cuốn sách. Là người hâm mộ nhạc sĩ Tô Hải, lại là học trò của ông (ông là thầy dạy tôi tiếng Pháp), nên mỗi lần có hội hè, tết nhất, bạn bè, đồng ngũ, đồng khóa Lục Quân Trần Quốc Tuấn tụ tập ở nhà ông, tôi thường được hân hạnh cùng dự. Những cuộc gặp mặt như thế thật cảm động. Những người lính của một thời kháng chiến đã trôi xa vui mừng gặp lại nhau, cùng nhau ôn lại các kỷ niệm chung. Tô Hải và các bạn ông đã là những ông lão, nhưng nhìn họ ngồi bên nhau, say sưa hát vang những bài ca chiến đấu cũ, những bản tình ca không thể nào quên của Tô Hải, tôi vẫn thấy trong họ bóng dáng của những chàng trai một thuở “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”.

Không khí trầm hẳn xuống khi những chiến sĩ năm xưa đụng đến thời cuộc hôm nay. Đâu rồi, cái thời những con người hết lòng xả thân vì nghĩa lớn? Đâu rồi tình đồng chí, đồng đội tử sinh không rời? Tất cả những cái đó đã có, nhưng tưởng chừng không có. Như thể một giấc mơ.

Cái “chủ nghĩa xã hội đáng phải vứt đi” như Nguyễn Khắc Viện nói, đã dần dần, từng chút một để không ai nhận thấy, được bàn tay phù thuỷ dựng lên thành bức bình phong che giấu những gì bẩn thỉu nhất mà lịch sử từng biết, trong sự tước đoạt tất cả thành quả máu xương của bao chiến sĩ, đồng bào đã đổ ra. Những người ngồi đây, trước mắt tôi, là chứng nhân cuối cùng còn sống. Một trong những chứng nhân ấy là Nguyễn Khải, đại tá nhà văn, giải thưởng Hồ Chí Minh. Trước khi chết ông đã gửi lại lời trối của kẻ lạc đường trong mấy câu: “Quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!”

Có thể nói không ngoa rằng Hồi Ký Của Một Thằng Hèn là cuốn biên niên sử ghi lại quá trình từng bước, từng bước, nhân dân Việt Nam, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ bị tước đoạt đi cái quý giá nhất đối với con người là Tự Do. Là chứng nhân của lịch sử, Tô Hải ghi lại trung thực, sống động cả một quá trình nhào nặn, đấu tố, cưỡng bức tư tưởng để biến văn học nghệ thuật thành “vũ khí đấu tranh” của Đảng, cho Đảng, vì Đảng. Hồi Ký Của Một Thằng Hèn là những trang viết bằng máu và nước mắt ghi lại tỉ mỉ tấn bi kịch của chính tác giả và bạn bè ông, nay kẻ còn, người mất, để mọi người được biết họ đã phải sống như thế nào, phải… “hèn nhát” ra sao chỉ cốt để tồn tại.

Trong hồi ký của ông có biết bao gương mặt tiêu biểu cho một nền văn nghệ cổ vũ cho bạo lực, cho chém giết. Ông đau lòng kêu lên: “Biến cả dân tộc vốn hiền hòa thành một sa mạc vô cảm. Một đất nước mà tất cả đàn ông trai tráng đều đi làm nghĩa vụ quân sự không những trong nước mà còn ở…cả quốc tế vì…“lịch sử đã chọn ta làm điểm tựa”! (Tố Hữu ‒ [sic!]) Ở hậu phương chỉ còn những em bé mà mới lên năm đã bình thản…cắt tiết gà, và phụ nữ “ba đảm đang” phải sắn quần lợp mái nhà, chọc tiết lợn…

Ông không ngu để không nhận thấy ông và những người như ông, nói rộng ra là tất cả văn nghệ sĩ thuộc mọi ngành, muốn tồn tại đều bắt buộc phải làm nô bộc cho đảng cầm quyền. Là người được kết nạp vào đảng cộng sản rất sớm (1949), ông đã nhận ra rằng “Chưa bao giờ ở nước này có chủ nghĩa cộng sản cả!”, kể cả chủ nghĩa cộng sản trong lý thuyết kinh điển. Tất cả đều chỉ là sự lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để củng cố địa vị ăn trên ngồi trốc cho một nhóm người thậm chí chẳng đọc nổi và cũng chẳng hiểu nổi những lý luận xét cho cùng là rất tào lao của mấy ông Tây cuối thế kỷ thứ 19. Và, trải qua những đại bi kịch được đảng cộng sản luôn say máu đấu tranh tạo ra như Cải Cách Ruộng Đất, Chỉnh Đảng Chỉnh Quân, Nhân Văn Giai Phẩm, Xét Lại Chống Đảng, Cải Tạo Tư Sản, Cải Tạo Công Thương Nghiệp… Tô Hải đã thấy đàng sau nó thực sự là cái gì. Nó chẳng phải cái gì khác ngoài mưu đồ của một lũ cơ hội chuyên nghề lừa bịp, trấn áp nhằm chiếm bằng được quyền cai trị đất nước. Tất cả những thủ đoạn đó được lôi ra ánh sáng bằng ngòi bút trung thực. Ông không che giấu những việc đáng xấu hổ khi tả lại cảnh phải đóng vai “đại hèn” để vợ con có miếng ăn, không bị cắt sổ gạo, bị đuổi khỏi biên chế hay tệ hại hơn nữa, bị đi cải tạo, vào tù. Ông thẳng thắn chỉ ra những bộ mặt cơ hội trong giới văn nghệ sĩ đã nhẫn tâm bước qua xác đồng nghiệp để kiếm chút đỉnh chung.

Ông không ngần ngại nói về những công việc được gọi là “văn nghệ phục vụ giai cấp vô sản”, trong đó có ông tham gia, cho thấy những tác phẩm được tạo ra trong một nền văn nghệ như thế chỉ là “một mớ táp nham không có một chút giá trị nghệ thuật”.

Nhìn thấu tâm can của những tên cơ hội cách mạng, và cả tính phi nhân của chính cuộc cách mạng gọi là xã hội chủ nghĩa nữa, Tô Hải quyết tìm cách thoát khỏi mọi ràng buộc với cái Đảng quyền lực vô song, quyết không chịu ép mình “sáng tác theo yêu cầu của Đảng” thêm nữa.

Giữa lúc những “cán bộ cách mạng” lăn xả vào cuộc đại kiếm chác sau ngày đất nước thống nhất, ông bỏ về hưu non, sống cuộc sống nghèo nàn, thiếu thốn, nhưng giữ lương tâm trong sạch.

Vì hai tiếng TỰ DO, tác giả Nụ Cười Sơn Cước, giao hưởng hợp xướng Tiếng Hát Biên Thùy sẵn sàng đánh đổi tất cả. Thế hệ sinh viên Hà Nội chúng tôi vào thập niên 1960, những Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu), Bùi Minh Quốc, Trần Mạnh Hảo, Lê Phú Khải… đều biết Tô Hải. Chúng tôi từng đứng trong các dàn hợp xướng sinh viên, cất cao lời ca gìn giữ biên cương của tổ quốc với niềm vui và niềm phấn khởi vô bờ. Tiếng Hát Biên Thuỳ và Trở Lại Đô Thành (từng bị cấm) và nhiều tác phẩm khác của Tô Hải ngày nay ít người biết đến, chúng chỉ còn lại như những kỷ niệm nằm chung với rất nhiều tác phẩm sáng tác sau này của Tô Hải, mà ông cay đắng gọi chúng là những sáng tác “bỏ tủ lạnh”. Mà đâu phải chỉ có mình Tô Hải. Còn biết bao nhiêu nhân tài của đất nước cũng đã bị vùi dập như thế?

Khi gặp ông ở một xóm nhỏ Nha Trang, tôi mới biết ông đang làm gì. Thì ra ông dành toàn bộ thời gian cho cuốn hồi ký mà ông ấp ủ nhiều năm. Ông viết trong tình trạng sức khoẻ tồi tệ, phải chống nạng đi trong nhà, cuộc sống của cả gia đình trông vào chiếc xe bánh mì ở đầu đường của người vợ rất mực thương yêu chồng, chia sẻ hoài bão của chồng… Ông kì cạch viết mỗi ngày một vài trang, viết rồi xóa, xóa rồi lại viết vì… như ông thú nhận: cái nỗi Hèn vẫn cứ ám ảnh ông không thôi! Là người cũng sống nhiều năm trong xã hội chuyên chế, tôi hiểu: vượt qua nỗi Hèn chẳng hề là chuyện dễ.
Đại hợp xướng Tiếng hát biên thuỳ của Tô Hải. Đây là bản hợp xướng bị “bỏ tủ lạnh” cả nửa thế kỷ, khi mà biên cương giữa hai nước Việt Nam-Trung Hoa đang được người ta ca ngợi là… “núi liền núi sông liền sông ..chung một biển Đông. Mối tình hữu nghị sáng như rạng đông…” hoặc “Bác Mao nào ở đâu xa/Bác Hồ ta đó chính là…Bác Mao”
Nguồn: luyenkim.net
________________________________________
Mười năm ròng, mỗi ngày một ít, vừa viết vừa phải đấu tranh kịch liệt cái Sợ, cái Hèn để có thể viết đúng, viết thực, không nhân nhượng với cái gì, kể cả bản thân, cuối cùng ông đã hoàn thành cuốn hồi ký chỉ với mục đích “để lại cho con cháu và đời sau biết về nhiều sự thật bị giấu kín, mà điều cay đắng nhất là để mọi người hiểu được Vì Đâu? Vì Ai? Vì Cái Gì?”

Tô Hải không đặt cho mình mục đích lên án cái chủ nghĩa Mác-Lê đã bị lịch sử chôn vùi, đã bị toàn thế giới lên án, và cái đảng đã đưa đất nước tới tình trạng hôm nay ‒ một nước chậm tiến, nghèo khổ, lạc hậu hơn các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Ông viết ra những suy ngẫm của mình, kêu gọi mọi người cùng suy ngẫm với ông, về hiện tình đất nước, về một nền văn nghệ không còn bản sắc, đến nỗi một nửa thế kỷ qua chẳng có một tác phẩm xứng đáng được xếp vào di sản văn hoá dân tộc, xứng đáng để đời sau con cháu tự hào. Ông không chối bỏ tư cách “vừa là nạn nhân, vừa là tội đồ”, ông nhận ông là kẻ có tội vì chính ông cũng đã tham gia vào cuộc lừa bịp vĩ đại. Qua hồi ký của ông, ta thấy quả thật, đời ông quá nhiều cay đắng. Nhưng, cũng với cuốn hồi ký này ông sẽ được đền bù ‒ những người đọc ông sẽ hiểu ông và yêu mến ông. Mà có hạnh phúc nào lớn hơn thế đối với một con người đau khổ.

Ông là trí thức đúng nghĩa vì đã vượt qua chính mình, cái mình bị nhào nặn bởi bàn tay kẻ khác, để công bố tất cả, không phải chỉ những gì là Tội Ác của kẻ khác mà cả cái Hèn của chính mình. Việc làm đó, ngay khi ông còn sống trong lòng chế độ chuyên chế, là việc làm dũng cảm, nếu không muốn gọi là anh hùng. Bằng việc làm này, ông đã vượt xa những kẻ cũng mang danh trí thức, cũng gọi là nhà văn, nhưng suốt đời chẳng dám viết một cái gì theo tiếng gọi của trái tim mình. Gần đây, tôi lại càng ngạc nhiên khi biết Tô Hải trở thành blogger ở tuổi 80 với những bài viết được lớp trẻ đón nhận chưa từng thấy (200.000 người đọc trong vòng 18 tháng). Tôi càng khâm phục khi ở tuổi 81, ông đã cùng sinh viên, thanh niên xuống đường đi biểu tình phản đối bọn xâm lược Trung Quốc, khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ quốc Việt Nam. Đi biểu tình về đến nhà, ông ngồi xuống viết ngay một entry “Tớ đi tụ tập đông người không có phép” được hơn 20 báo điện tử và đài phát thanh nước ngoài phát lại.

* * *

Tập hồi ký này không phải chỉ để cho các thế hệ sau này, mà cho cả chúng ta nữa, hiểu rõ thêm những trang lịch sử đau buồn đã nhiều năm bị che giấu. Hi vọng trong một tương lai gần, nền văn nghệ Việt Nam sẽ vứt bỏ được cái quá khứ đáng nguyền rủa ở thế kỷ trước để bước vào con đường sáng sủa, con đường của Chân, Thiện, Mỹ, con đường của Tự Do, như Tô Hải hằng mơ ước.

________________________________________
DCVOnline: Bạn đọc có thể liên lạc mua sách tại
Tủ sách Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653
Falls Church – VA 22044 ‒ E-mail: uyenthao1@juno.com
———————————————————————————–

Lê Phú Khải (phải) và Võ Tòng Xuân
nguồn ảnh

(*) Lê Phú Khải sinh năm 1942 tại Hà Nội, Ông được độc giả trong nước biết đến qua những trang viết về đồng bằng sông Cửu Long.

Tác phẩm chính: Đồng Tháp Mười hôm nay, Viết từ đồng bằng Sông Cửu Long, Rắn độc trong tay người, Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long.

Ngày 18/3/2009 Lê Phú Khải viết :
Thư ngỏ của một công dân ngoài Đảng (tại BBC)

hoặc tại Báo Tổ Quốc
***

—————————————————————————————————————

NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC VÀ TÂM SỰ CỦA NHẠC SĨ TÔ HẢI
Phan Anh Dũng

(Nguồn)

Cách đây 2 tuần, Nhà Văn, Nhà Báo Uyên Thao, người chủ trương Tủ Sách Tiếng Quê Hương ở Virginia cho tôi biết quyển hồi ký của Nhạc Sĩ Tô Hải sẽ được phát hành vào khoảng tháng 5  năm nay. Anh có gởi 3 bài viết với lời bạt về quyển hồi ký của NS Tô Hải, lời giới thiệu của Nhà Báo Lê Phú Khải và của chính anh. Đề tựa “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” đem đến cho tôi một sự chú ý đặc biệt!

Nhắc đến Nhạc Sĩ Tô Hải, tôi không khỏi không nhớ đến bản nhạc “Nụ Cười Sơn Cước”, được nhiều ca sĩ trình bày và thính giả yêu thích. Trong một thời gian ngắn, tôi đã tìm thấy nhiều tài liệu về Ông trên internet: Ông là một trong những thanh niên với bầu nhiệt huyết hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp, ở lại miền Bắc sau hiệp định Genève, gia nhập đảng và được nhiều tưởng thưởng từ chế độ Cộng Sản. Sau 1975, Ông đã nhận thấy sự thật não nề khi vào Sài Gòn (Ông gọi là “Đi Thực Tế Miền Nam sau Gỉải Phóng”). Sau thời kỳ “Đổi Mới”, Ông đã không ngại lên tiếng cho biết đã “phí nửa con tim” để viết hàng trăm bản nhạc tuyên truyền phục vụ đảng trong thời chiến tranh. Tiếc thay, các bản nhạc ấy chỉ nhất thời, không thể tồn tại với thời gian!
Thích thú nhất là được biết tuy nay trên 80 tuổi nhưng Ông rất cấp tiến, sử dụng máy tính “laptop” mỗi ngày (hình ở dưới) và có trang blog bắt đầu từ năm 2007 trên yahoo để đăng các bài viết rất nóng bỏng và chân thật từ Sài Gòn. Ông cũng dùng phương tiện này để viết thư qua lại với nhiều người – Ông kêu họ là “Bạn, (friend)” và Ông xưng là “Tớ”! Ông có lối viết giản dị, tếu, tự diễu mình và rất thật tình nên được nhiều bạn trẻ, đáng tuổi con cháu yêu mến. Sau 1975, Ông bắt đầu công việc dịch thuật vì thông thạo nhiều ngoại ngữ. Khi tôi khởi sự viết trang này thì mới đây Ông vẫn tiếp tục “dấn thân” chẳng hạn như xuống đường biểu tình phản đối Trung Cộng về Hoàng Sa và Trường Sa. Ông cũng vừa gởi một bài viết cho Đài BBC Luân Đôn trong đó nhắc lại một bản giao hưởng hợp xướng mà Ông bỏ nhiều tâm huyết viết thời còn trẻ nhưng sau đó vì lý do chính trị không được phổ biến. Các bản nhạc tình cảm mà Ông cho là từ “nửa trái tim còn lại” cũng cùng chung số phận: bị dìm và “bỏ tủ lạnh”!
Nhạc Sĩ Tô Hải viết: “Nhà văn quân đội – Đại Tá Nguyễn Khải, trước khi qua đời đã tuyên bố: ”Miền Bắc đã cho tôi Độc Lập, miền Nam đã cho tôi Tự do…” Còn tớ, vẫn còn sống nhăn răng đây, tuyên bố: ”Miền Nam đã cho tớ cả Độc Lập, cả Tự Do và cả Hạnh phúc nữa”. Độc lập về tư duy, Tự do về viết lách và… không viết lách. Còn Hạnh Phúc thì … ”độc lập và tự do tìm kiếm hạnh phúc cho mình”… Tuy nhiên để có được ba điều thiêng liêng đó, tớ đã phải vứt bỏ biết bao điều mà trước kia, có cho… kẹo cũng chẳng dám nghĩ, dám làm …”

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA – 15 tháng 4, 2009)

NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC
Tô Hải

Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi,
mây mờ buông xuống núi đồi
và trong lòng mưa hơn cả ngoài trời.
Cỏ cây hoa lá, thương nhớ mãi người đi
và dâng sầu lên mi mắt người về.
Thơ thẩn đàn chim ngừng tiếng hót,
mưa Xuân đang tưới luống u sầu,
buồn cho dòng nước mờ xóa bóng chim uyên
và gió chiều còn khóc thương mãi
mối tình còn vấn vương.
Ai về sau dãy núi Kim Bôi,
nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ,
hình dung một chiếc thắt lưng xanh,
một chiếc khăn màu trắng trăng,
một chiếc vòng sáng lóng lánh,
với nụ cười nàng quá xinh.
Nàng ơi, tôi đã rút tơ lòng,
dệt mấy cung yêu thương
gởi lòng trong trắng,
của mấy bông hoa rừng
đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi

đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi

Ghi chú: lời trong bản nhạc không đúng hoàn toàn với bản nguyên thủy

*********************************************

50 năm cùng “Tiếng hát biên thùy”

” Năm nay 83 tuổi, nhạc sĩ Tô Hải được coi là blogger thuộc nhóm cao tuổi nhất ở Việt Nam, và ông cũng là tác giả của một bản hợp xướng giao hưởng đã song hành suốt 50 năm cùng lịch sử ngành biên phòng, cũng có thể coi là bản giao hưởng thuộc hàng đầu tiên của Việt Nam, một kỷ niệm mà ông muốn chia sẻ riêng với độc giả BBC tiếng Việt
Đó là những năm 1957-1958:
– Khi Miền bắc Việt Nam vừa ra khỏi một cuộc chiến trường kỳ chín năm gian khổ,
– Khi mà nông thôn đã bị đảo lộn bởi cuộc “cách mạng long trời lở đất” là “cải cách ruộng đất + chấn chỉnh tổ chức” gây nên sự xào xáo, đảo lộn, đấu tố đến phá hoại mọi công bằng, đạo lý của toàn thể cơ cấu xã hội, gia đình… ở nông thôn,
– Khi mà người dân vừa mới cắm thẻ nhận ruộng lại bị bắt buộc nộp từ con trâu, cái cày đến miếng ruộng vừa được chia cho “tập thể” để hàng ngày nghe kẻng đi làm ăn công, chấm điểm,
– Khi mà ở các thành phố, mọi hoạt động kinh doanh buôn bán đều bị cải tạo, tất cả chỉ còn là “quốc doanh”. Từ cái tã cho trẻ sơ sinh đến cái tiểu sành khi cải táng, tất cả đều có tiêu chuẩn nhà nước quy định, có tem, có phiếu,
– Khi mọi sự cố gắng để giành lấy một chút tự do trong sáng tác mà điển hình là nhóm “nhân văn giai phẩm” bị lên án và đàn áp, cho đi cải tạo, đuổi ra khỏi biên chế, cấm sáng tác…
– Khi mà hầu hết các nhạc sỹ kháng chiến trở về thành phố với hành trang chẳng có gì ngoài mấy bài hát tuyên truyền động viên toàn dân kháng chiến, chưa một ai được học qua một trường lớp chính quy nào, chưa hề biết, chưa hề nghe một tác phẩm âm nhạc thuần túy nào, chưa biết dàn nhạc giao hưởng gồm có những nhạc cụ gì. Thậm chí có người chưa thể ghi chuẩn xác chính sáng tác của mình lên giấy.

Khủng hoảng lý luận

Mỗi ngày phải học 16h mới đủ cho từ hòa thanh, phức điệu đến phối khí, piano
Và quan trọng hơn hết là cách mạng Việt Nam sẽ đi theo hướng nào đây: “theo Tây hay theo Tàu”?
Đặc biệt sau hội nghị các đảng cộng sản Bucarest (1956) ở Rumani thì chủ nghĩa cộng sản đã bị chia rẽ sâu sắc đến nỗi khẩu hiệu “Vô sản thế giới liên hiệp lại” đã được thay thế bằng ” Vô sản thế giới giải tán đi” (prolétaires de tous les pays, dispersez vous!) thì tại những cơ quan lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, “tiến nhanh, tiến vững chắc LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” là thế nào đây???
Rõ ràng là… tùy nghi ứng xử. Nói trắng ra rằng, một cuộc khủng hoảng về lí luận chưa từng có đã làm chia rẽ ngay các vị lãnh đạo cao nhất, từ trong nhận thức đến hành động.
Do đó, ai nắm quyền ở lãnh vực nào thì cứ vận dụng lí luận theo kiểu mình hiểu.
Phải mãi đến khi người ta ra mặt chống chủ nghĩa xét lại và đi theo con đường của… Mao chủ tịch thì trắng đen mới thật rõ ràng.
Chính trong thời kỳ “nửa dơi nửa chuột” này mà giới văn nghệ mới có dịp làm quen với những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của thế giới, kể cả những tác phẩm sau này bị lên án là xét lại, thậm chí là “phản động”, qua con đường công khai nhập vào Việt Nam bởi chính những đoàn nghệ thuật, những xuất bản phẩm, báo chí, những bộ phim, những tiểu thuyết của “các nước anh em” mà muốn phê phán, cấm đoán cũng…”há miệng mắc quai”.
Lớp học kỹ thuật âm nhạc do các chuyên gia nước ngoài phụ trách để giúp những người viết ca khúc (song writer) Việt Nam trở thành “nhạc sỹ” đích thực (composer) được ra đời chính ở cái thời này chính là nhờ sự nhận thức khá đúng đắn của một số lãnh đạo cấp cao nhất như Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm…

Chuyên gia Bắc Triều Tiên

Không phải là không có nhiều ý kiến của những kẻ ngu dốt, cơ hội, cho rằng “âm nhạc Việt Nam không nên phát triển theo đường lối phương Tây. Phải dạy cho trẻ em hò, sừ, sang, cống, líu… chứ tại sao lại phải đồ, rê, mi, pha son? Sonate, giao hưởng, opera là sản phẩm văn hóa của giai cấp tư sản, việc gì ta phải bắt chước. Giai cấp vô sản không cần đến những hình thức nghệ thuật chỉ dành cho vua chúa và bọn tư bản làm gì”…

Tác phẩm huy động hơn 100 diễn viên và nhạc công từ nhiều đoàn nghệ thuật
Cứ như thế, tranh cãi, đấu đá tới mức khi thành lập hội nhạc sỹ Việt Nam (1957), âm nhạc Việt Nam hiện đại vẫn chỉ dừng ở mấy bài “lời ca hát lên hát xuống” hoặc mấy “bài hát dài” với cái tên sáng tạo rất… Việt Nam là… trường ca như “Sông Lô”, “Du kích Sông Thao”… mà chủ yếu là hát đồng ca, thỉnh thoảng có 2 bè đã là… “đỉnh cao của nghệ thuật âm nhạc” rồi.
Tóm lại, âm nhạc Việt Nam những năm cuối của thập niên 50 của thế kỷ trước vẫn chỉ là thứ âm nhạc của thế kỷ thứ XV- XVI của các nước tiên tiến, thậm chí còn đang nằm ở tình trạng “hát lên những câu ca dao”như kiểu các cụ ta thời xưa đã làm nên những bài dân ca truyền khẩu mà những gì hay nhất còn lại cho con cháu hôm nay cũng chỉ nhờ… truyền khẩu, chẳng hề có văn bản bao giờ.
Có thể nói, khi đặt vấn đề mời chuyên gia nước ngoài dạy hòa thanh, phối khí, phức điệu và các hình thức âm nhạc chính quy như rondo, sonate, symphony… trong bối cảnh lịch sử như đã trình bày ở trên là một thắng lợi của những đầu óc cấp tiến.
Tuy nhiên, cũng từ những thắng lợi bước đầu này mà nảy sinh ra những mâu thuẫn ngay trong nội bộ giữa những “nhạc sỹ có học”, “nhạc sỹ chưa được học” hoặc “nhạc sỹ… không cần học”.

Quá trình rèn luyện

Tôi thuộc lại nhạc sỹ “thèm học” nên đã đấu tranh bản thân, vượt qua mọi sự khó khăn, ép mình nuốt trôi tất cả các môn học kể trên trong 18 tháng.
Có ngày phải làm việc đến 16 tiếng mới lo trả đủ bài cho các thầy từ hòa thanh, phức điệu, phối khí, đến piano.
Mặc kệ mọi lời bàn ra tán vào, ý kiến ý cò, tôi đã chọn một hình thức âm nhạc vừa với sức mình, vừa dễ đến với công chúng để thể nghiệm tất cả các môn đã học là Cantate – vừa viết cho dàn nhạc vừa viết cho giọng người.

Để thực hiện được ý đồ “táo bạo”này, tôi đã phải dán các tờ giấy viết ca khúc lại để có được tờ tổng phổ 24 dòng, và cặm cụi suốt gần một năm trời viết cho một dàn hợp xướng bốn đến sáu bè (lúc này ở Việt Nam chưa biết dàn nhạc giao hưởng là cái gì).
Trước sự quyết tâm và say mê học tập để trở thành một “nhà soạn nhạc” đích thực, các thầy dạy tôi và một số đồng học như Nguyễn Văn Thương, Lương Ngọc Trác… và một số cán bộ lãnh đạo đã ra sức ủng hộ để tác phẩm được ra đời.
Chỉ riêng việc huy động một số lượng hơn 100 diễn viên và nhạc công ở nhiều đoàn nghệ thuật, kể cả quân nhạc, theo đúng yêu cầu của tổng phổ về tập trung tại 17 Lý Nam Đế để dàn dựng (dưới sự chỉ huy của chuyên gia CHDCND Triều Tiên) và biểu diễn báo cáo đúng ngày 22 tháng 12 năm 1959 đã là một việc làm chưa từng có trong bối cảnh xã hội và chính trị vô cùng khó khăn và phức tạp lúc bấy giờ.
Tác phẩm Tiếng hát biên thùy được ra mắt công khai và rất hoành tráng giữa nhà hát lớn thành phố Hà Nội.
Đến dự không thiếu một ai trong các vị lãnh đạo (trừ cụ Hồ), toàn bộ khán giả đứng lên vỗ tay hồi lâu.
Chuyên gia Mao Vĩnh Nhất (dạy sáng tác) và GS Triệu Đại Nguyên ̣(dàn dựng và chỉ huy dàn nhạc) cúi chào khán giả và ngẩng lên lô giành cho tác giả (như thông lệ ở các nước) thì… chẳng có ai. Vì tôi đâu có được mời.

Dư luận công chúng

Sau đó “dàn nhạc giao hưởng và hợp xướng” vay mượn tạm thời đó còn được biểu diễn mấy tối tại “Nhà hát nhân dân” để đông đảo quần chúng được lần đầu tiên thưởng thức “thử” hình thức âm nhạc mà người ta gọi là “xa lạ”, không “quảng đại quần chúng” và đầy “kỹ thuật chủ nghĩa”, thậm chí “sặc mùi tư sản phương Tây”… này.

Nào ngờ, tất cả các phương tiện truyền thông (thời đó chỉ có báo chí và đài phát thanh) đều không tiếc lời khen ngợi.
Đặc biệt, tất cả đều nhấn vào vấn đề: không phải là quần chúng không biết nghe âm nhạc nhiều bè, không biết thưởng thức ngôn ngữ của bộ gõ, bộ đồng, bộ dây, vấn đề chỉ là nghe có hay hay không, có truyền cảm hay không?
Sau khi được phát lên sóng thì chiến sỹ ở đủ các quân chủng (đặc biệt là bộ đội biên phòng) đều gửi thư về khen ngợi tới mức ông đưa thư cũng phát ngạc nhiên vì chưa thấy có cá nhân nào nhận một lúc nhiều thư đến thế.
Sau những ngày “hoàng kim” ngắn ngủi đó, các diễn viên hợp xướng, nhạc công được trả lại đơn vị cũ, Tiếng hát biên thùy chỉ tồn tại nhờ NSND Lê Đóa tại Đoàn ca múa Tổng cục chính trị.
Nhưng chỉ còn lại có hai chương 2 và 4, chẳng kể gì đến hình thức âm nhạc chính qui, chẳng cần đối tỷ đối tiếc gì hết, miễn là “không làm mềm lòng chiến sỹ” ở cái chương 3.

Ba chìm bảy nổi

Thời gian qua đi, lớp nhạc sỹ Hoàng Vân, Chu Minh, Đàm Linh… từ các nhạc viện nước ngoài sau đó lục tục về nước, và thế hệ tiếp theo thuộc lớp con em chúng tôi như Đỗ Hồng Quân, Đặng Hữu Phúc, Trọng Đài… cũng tiếp tục theo nhau trở về.
Họ đã viết được nhiều tác phẩm dài hơi, những loại hình sáng tác còn “kỹ thuật chủ nghĩa, tư sản phương Tây” hơn tôi nhiều.
Nhưng kỷ niệm về cái thời xa xưa của “Tiếng hát biên thùy”, những năm nước ta không biết gì về âm nhạc ngoài các bài hát đơn điệu hoặc đồng ca có bè (mà nhiều người cứ gọi nhầm là hợp xướng), té ra vẫn còn trong tâm trí của khá nhiều người như GS Nguyễn Lân Hùng.
Bao thế hệ chiến sỹ biên phòng ngày nay, kẻ mất người còn, liệu còn mấy ai nhớ tới “Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy” nữa.
Ngay bản thân tôi cũng chẳng còn thắc mắc băn khoăn gì, vì chẳng phải chỉ một mình tôi phải chịu “ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh” cùng tác phẩm của mình.

“Chẳng phải một mình tôi phải chịu ba chìm bảy nổi cùng các phẩm”

GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC của một tác giả, của một tác phẩm (nếu nó thật là giá trị thì) dù có ai muốn vùi dập thế nào, trước sau sẽ được lịch sử ghi nhận và phục hồi.
Gõ đến đây, tự nhiên tôi lại nhớ đến những đồng nghiệp, đồng ngũ đã một thời “phục vụ quân đội giải phóng quê hương”, nhưng vì không chịu nổi những cách phê phán ngu dốt và “lạp xường tù mù hách xì xằng” về “văn nghệ vô sản” mà đành phải gác bút, chuyển nghề, thậm chí “come back to Hànội, to Saigon”, mang cái tiếng là “phản bội”, là “không chịu đựng được gian khổ” nên… trở cờ, tôi tự thấy mình đang còn có… Chúa và nhiều người ủng hộ thật.

50 năm lịch sử biên phòng

Tôi thật sự cảm động khi kỉ niệm 20 năm, 30 năm thành lập bộ đội biên phòng đều được các “đồng chí” cũ, các lãnh đạo cũ gửi thư thăm hỏi, thậm chí đến tận nhà tặng quà, tặng tiền và cùng tôi ngồi nghe lại bản cantate viết 52 năm trước.
Câu: “Một vị tướng đã nói với tôi là khi nghe bản hợp xướng của Tô Hải nhiều anh em chúng tôi đã ứa nước mắt” (của Nguyễn Lân Hùng viết trên TTVH) chỉ là một ví dụ có thật đã diễn ra ngay ở nhà tôi.
Nhưng những giọt nước mắt đó đối với mỗi người đều có một ý nghĩa riêng.
Người thì nghĩ tới một thời oanh liệt xa xưa nay còn đâu nữa.
Người thì nghĩ tới những đồng đội đã ngã xuống vì bảo vệ từng tấc đất Tổ Quốc mà hôm nay không được ai nhắc tới, không được kỷ niệm lễ lạt gì.
Đối với tôi, khi cùng nhỏ nước mắt với họ trong những dịp này chính là những giọt nước mắt nhớ về số phận truân chuyên, lên voi xuống chó của những văn nghệ sỹ muốn làm văn nghệ đích thực nhưng đôi khi phải đánh đổi bằng cả số phận khốn khổ cay đắng của mình..
Sự đánh đổi đó là những nhận xét sau đây trong lý lịch: “luôn phản ứng có hệ thống đối với cấp ủy”, “luôn phản ứng với cấp trên”, là hai năm chịu đựng, ngậm đắng nuốt cay, bị “đày”đến một đoàn văn công vùng đầu cầu giới tuyến Nam-Bắc, không giao hưởng, không hợp xướng, không còn được viết những gì mà mình muốn viết.
Nó đưa tôi tới một quyết định liều mạng là quyết tâm rời khỏi quân ngũ và rời luôn cái danh vị “đảng viên Đảng lao động Việt Nam” bằng mọi cách có thể.
Và tôi đã tạm thời thành công trong một thời gian khá dài… (xin chờ đọc tiếp trong hồi ký tôi sắp công bố một ngày gần đây).

*************************

Đi thực tế miền Nam mới “giải phóng”
Tô Hải

Đi Thăm…Giàu Hỏi… Sướng!

Tớ lợi dụng một loạt entries sau đây để giải đáp một số câu hỏi đặt ra về những vấn đề so sánh văn nghệ giữa hai miền mà người đọc chưa rõ, về sự đánh giá chưa chính xác của tớ về sự khác biệt giữa hai miền trong lãnh vực âm nhạc, về cái “gu” thẩm mỹ “không thể thống nhất”….vv..vv.. Vì thế, nếu có dông dài…các friends chịu khó đọc nhé. Blog chứ có phải viết tiểu thuyết, hồi ký, hồi kiếc,…gì đâu!

Có một điều cơ bản nhất của chủ trương “đi thực tế sáng tác” mà các nhà lãnh đạo văn nghệ vô sản không tính đến: Đó là những phản tác dụng mà bọn tớ còn gọi là “phản ứng ngược” mà rất nhiều những Thực Tế Thật (vérité vraie) đã vả vào mặt anh em văn nghệ những cái tát tỉnh người! Đó là những thực tế không giống hoặc hoàn toàn trái ngược với thực tế mà các vị ngồi một chỗ, tưởng tượng ra qua các báo cáo.. láo!
Khỏi nói đến Cải cách ruộng đất, đi thực tế để viết được ra một sự thật nhỏ (rất nhỏ) như “Ba người khác”của Tô Hoài, hoặc như bài thơ như “Tôi? Ai?, “Bánh vẽ”, “Trừ đi” của Chế Lan Viên hoặc như “Nỗi buồn chiến tranh”, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” thì có lẽ các nhà chủ trương “xua” văn nghệ sỹ đi về với công nông sẽ… ra lệnh stop liền!

Buồn thay, chỉ vì …”sợ” (chữ của cụ Nguyễn Tuân) nên những thực tế thật đó đều phải chờ cả gần nửa thế kỷ mới được phản ảnh thật (tuy chưa đến lúc thật 100%) lên giấy trắng mực đen…

Riêng tớ thì đã có lần viết một entry khá dài “Vì sao tớ mất cái mẩu hạnh phúc cỏn con” được nhiều người comment, được nhiều blog copy, được đăng lại trên cả những website của nước ngoài và cả trên “Ngôi sao net” nữa!
Chính cái thực tế gớm ghiếc của cải cách ruộng đất và của cuộc chiến ghê rợn trên đường Trường Sơn đã làm tớ không sao tiếp tục viết láo, viết để “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” được nữa mà chỉ viết những gì rung động của trái tim mình.
Thế rồi nào các phong trào xây dựng hợp tác xã cấp cao, nào “Sóng duyên hải”, “gió đại phong”, “cờ ba nhất”, rồi “cải tạo tư sản”… Tất cả đều được động viên đi vào thực tế, nắm bắt thực tế để có những tác phẩm “xứng tầm thời đại”…
Nhưng hôm nay đây,có ai in lại “Mùa lạc” hay “Hòa Vang” của Nguyễn Khải, “Cái sân gạch” của Đào Vũ, hát lại “Miền Nam đau thương và anh dũng”, “Không cho chúng nó thoát”, “Tiến về Sài gòn”…?
Lịch sử đã chôn vùi hết những gì là văn nghệ phi nhân bản mà chính các tác giả của nó cũng phủ nhận và nhận “tội” lúc cuối đời như Chế Lan Viên, Nguyễn đình Thi và rồi đây theo tớ được biết, sẽ còn nhiều người nũa viết nhiều sự thật.
THẬT như những câu:

“Ai chịu trách nhiệm về 2.000 người đó/
Tôi! tôi người viết những câu thơ cổ võ/
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong/

….Ai chịu trách nhiệm vậy?/
Lại chính tôi/
Người lính kia cần một câu thơ giải đáp về đời/
Tôi ú ớ…
(xem toàn bài thơ trên entry nói trên)

Và tớ tin hoàn toàn vào những gì mà các bạn trẻ hôm nay và mai sau sẽ còn được đọc nhiều “những trang đời” rất thật của nhiều tác giả khác nữa sau này… trong đó có tớ!
Tóm lại là, như tớ đã viết trong một entry, văn nghệ sỹ miền Bắc chúng tớ, so với anh em ở miền Nam thì…thua đứt đi cái Tự Do Sáng Tác! Họ không phải viết theo yêu cầu của một cơ quan, đảng phái hay một tổ chức, nhà nước nào, không ăn lương của ai để làm văn nghệ! (tất nhiên không thể tránh được cũng có một số nào đó dùng văn nghệ để kiếm chác tí chính trị). Nhưng phải khảng định là họ tự do, tự do và tự do… kể cả tự do làm… hại cái chính thể mà họ đang phải sống! Có người còn mang tiếng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản!?” (Tội nghiệp Trịnh công Sơn, cho đến nay vẫn bị gán là “Đặc công Đỏ” mà chết rồi vẫn chưa được Đỏ tặng cho một danh hiệu, một giải thưởng gì so với các nghệ sỹ cải lương Phùng Há, Diệp Lang, Bạch Tuyết!)!

Cái thứ quý nhất trên đời đối với người nghệ sỹ là Tự Do, tớ sẽ kể dần dần trong những lần bọn tớ tiếp xúc với anh em”tại chỗ”!
Vì thế một loạt ẻntríes sau này có cái tên chung là “Thăm giầu hỏi…sướng”!! Và cũng chính vì những cái thực tế hiện hữu ở khắp nơi đang diễn ra trên khắp các ruộng đồng, nhà máy hiên nay ở cả hai miền đất nước mà gần đây, chẳng thấy mấy đoàn văn nghệ sỹ được tổ chức đi thực tế sáng tác như xưa nữa. Thậm chí, càng mong các nhà “kỹ sư tâm hồn” càng tránh xa thực tế càng…tốt!
Dẫn chứng gân đây nhất là nhà báo, (có thẻ đàng hoàng) Tùng Quang của báo Đại Đoàn Kết đi thực tế viết bài ở Quân 2, đã không những không được mời mọc, chiêu đãi như xưa còn bị chính quyền hạng bét nhất ở địa phương tịch thu luôn cả phương tiện hành nghề, câu lưu tại chỗ !!?!
Phải chăng thực tế THẬT đã khiến cho những người đang nhân danh cách mạng làm những điều hoàn toàn trái ngược với luật pháp, chẳng coi người cầm bút là cái…cục phân gì?
Thôi! Bỏ đi mấy cái chuyện nhức đầu thường ngày ở phường, ở quận,…trở lại với “chuyện xưa” để đọc mà …ngẫm nghĩ cái sự đời “Xưa Sai Nay Đúng, Xưa Đúng nay Sai”, nó đã “làm loạn” trong đầu biết bao người như tớ!

Thế là….sau khi dẹp tiệm “Nhà Xuất bản âm nhạc giải phóng”, tiện có Đoàn nhạc sỹ của Trung Ương do chủ tịch Nguyễn Xuân Khoát và Tổng thư ký Huy Du vào, tớ có dịp nhập bọn đi thực tế miền Nam, đi sâu vào từng gia đình, họ hàng bà con, bạn bè cũ, mới.
Tớ đi ra tận đất mũi Cà Mâu, ăn dầm nằm dề cả tháng ở đồng bằng sông Cửu Long… Và đi đâu tớ đều thấy cái THỰC TẾ RÀNH RÀNH là miền Nam sướng gấp trăm lần miền Bắc, dù tiếng súng chỉ mới im lặng sau miền Bắc có hơn 2 năm trời (chỉ tính từ khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc). Hàng hóa, thực phẩm từ nông thôn đến thành thị, đâu đâu cũng thấy thừa mứa, rẻ rề.
Trong khi ở miền Bắc, miếng đậu phụ, lạng thịt cũng phải có phiếu thì ở miền Nam, bác ngư dân, Hai Tường, ở Cà Mâu có thể ngồi tại nhà quờ tay xuống nước vớt lên cả một cần xé cá, tôm đang còn giãy đành đạch, chiêu đãi đoàn nhạc sỹ cánh tớ nhậu suốt một ngày! Buồn cười Huy Du, có tiếng là thật thà còn hỏi nhỏ bác chủ nhà: “Ba bữa nhậu ngày, một bữa cháo rắn hổ mang đêm, thế này, có làm bác tốn kém lắm không”? Bác ta cười ha hả trả lời “Tôm cá dưới sông, rắn nằm trong bụi, có mất tiền mua đâu mà tốn với kém!” Nói rồi, bác cầm bao “555”, rút một điếu, xé giấy, vứt đầu lọc, nhồi thuốc vào… nõ điếu thuốc lào, rít một hơi dài, rồi nói thêm trong khói thuốc: “các chú thế là chưa biết gì về miệt Cà Mâu này rồi! Chim trên trời, cá tôm dưới nước, thiên nhiên này nuôi sống chúng tôi bao đời nay! Chẳng lo phải thiếu miếng ăn đâu mấy chú ạ! Bây giờ hòa bình rồi, tha hồ mà đi khơi, đi lộng, chẳng lo tên bay đạn lạc ,lo tàu Hải Quân xục sạo tìm Việt Cộng, cản trở làm ăn, thế là sướng rồi! Nào! nhậu đi mấy chú! “

Thế đấy ,một người ngư dân bình thường đã “tuyên truyền”về cái sướng vật chất (và có lẽ cả tinh thần?) hơn hẳn của miền Nam bị “kìm kẹp”, cho chúng tớ quá đơn giản nhưng cực kỳ .. thuyết phục!

Tớ không đến nỗi bất ngờ mà phải “ngồi xuống vệ đường mà khóc vì thấy mình bị đánh lừa” như Dương Thu Hương.

Trái lại tớ lo, lo cho tương lai của bác ngư dân này khi ” bị” vào hợp tác xã, phải bán sản phẩm cho Mậu Dịch, phải cấm cả miệng mình ăn một con tôm do chính tay mình câu lên, (một trong những điều cấm của các hợp tác xã đánh bắt thủy hải sản ở Đồ Sơn,ở Cát Bà, Cát Hải mà Sở Thủy Sản Hải Phòng đã tổ chức cho một Đoàn nhạc sỹ chúng tớ đi thực tế để …trái tim thấy nhiều lần nhói lên về cái thực tế phũ phàng này!)

Trên đường về, trên xe, một trong những đề tài thường được chúng tớ tranh luận là: Miền Nam có thể nào đi theo con đường tiến lên XHCN kiểu miền Bắc không? Và gần như ai cũng nhận thức được “Cái mảnh đất giầu có trời cho”, cái con người miền Nam sống Tự do như dân vùng Cà Mâu này khó có thể chịu cái cảnh sống của ngư dân Đồ Sơn, Cát Hải được!

Trở về thành phố, lại lang thang đi khắp chợ Bến Thành, đường Lê Lợi, Lê Thánh Tôn, Huỳnh Thúc Kháng, Đồng Khởi, Nguyễn Huệ…anh nào anh nấy đều ù tai, hoa mắt về những hàng hóa, về những câu chào hỏi “1 đồng (tiền mới) một mét mua dzô!”
Còn vào đên Chợ lớn thì …cứ như …lạc sang Tầu! Đặc biệt ngon và rẻ thì có lẽ không anh nào đã được hưởng cái thú ăn cơm Tầu như ở đây! Huy Du, 5 năm học bên Tầu cũng chưa bao giờ được hưởng những món sang trọng mà lại rẻ rề đến thế! Bữa ăn có cả bào ngư, kim tiền kê mà đứng lên trả tiền, 4 vị chỉ mất có 4 đồng rưỡi!…

Một giấc mơ? một ảo giác? Không, thực sự là như vậy!

Tuy nhiên, đêm đó tài căn hộ của tớ cũng nổ ra một cuộc tranh luận về đề tài: Liệu “Ta”có cải tạo tư sản,có cầm buôn bán, liệu có đóng cửa hết mọi cửa hàng ăn, các cafeteria, các bar như Rex, Givral, Maxim’s,,, không? Chỉ riêng tớ là dám nói :”Sẽ cấm!” Còn tất cả đều ngờ vực… Vì tớ là một anh ăn nói liều mạng nhất nên tớ dám phát ngôn “vô trách nhiệm” là …Trong tay ông X,ông Z thì… mười Chợ Lớn các ông ấy cũng phá tan như không! Chủ nghĩa xã hội đâu chấp nhận cái cảnh giai cấp trung gian (tức là thương nghiệp) đâu có chấp nhận công cụ sản xuất (nhà máy) nằm trong tay bọn tư sản!

Nhân đây cũng xin kể một chuyện vui mà có thật 100%. Em ruột tớ, nhân có dịp các văn nghệ sỹ miền Bắc vào cũng có ý “khoe” tớ và đám bạn bè tớ cho mấy anh em trí thức văn nghệ sỹ miền Nam, bèn tổ chức một bữa tiệc mừng tại Biệt Thự Tĩnh Tâm của bố tớ để lại. Trong lúc Tô Hiền đang còn dài giòng giới thiệu chưa xong thì, họa sỹ Lưu Công Nhân, bạn học của Hiền thời kỳ Pháp thuộc, bỗng cầm cốc rượu Napoléon lên, đứng phắt dạy, ngắt lời: “Này thôi thôi! Mời các vị nâng cốc uống mau đi, kẻo ít nữa chẳng có.. đéo gì nữa mà tiệc với tùng đâu!!” Cử tọa lặng người vì câu nói quá “bá láp” của cái ông họa sỹ cộng sản này !

Kể ra LCN nói cũng thiếu… văn nghệ một chút nhưng những điều anh nói ra rõ ràng là sau này trở thành sự thật (!) khi nhu yếu phẩm, từng lạng thịt, thìa bột ngọt cũng phải chia về cơ quan, khối phố!

Cũng xin nói thêm sau này chính anh là người thứ hai, sau Dương Bích Liên xin ra Đảng và còn cười giỡn và nói :”Tao vào Đảng sau mà lại được ra trước, khối thằng vào trước tao mà cũng chưa được ra!” Chuyện này trong giới văn nghệ miền Bắc còn kể cho nhau nghe mãi về sau… khi anh đã không chiụ “lệnh trục xuất” về Bắc của ông Bảy Bảo Định Giang (*) mà sẵn sàng ra khỏi biên chế để được ở lại miền Nam làm một anh “họa sỹ tự do” cho đến năm 2007 thì qua đời ở Đà lạt..

Thực tế ở miền Nam nó phản tỉnh vào tâm hồn con người văn nghệ sỹ bằng nhiều cách nhưng nói chung là mọi nhân sinh quan, mọi lập trường, quan điểm nó đảo lộn tất cả trong mọi cái đầu và trái tim của những người đã từng làm văn nghệ minh họa (mà đại tá nhà văn Nguyễn Minh Châu đã viết lời ai điếu).

Dẫn chứng gần nhất là lời tuyên bố của nhà văn nổi tiếng là khôn, Nguyễn Khải, trên giường bệnh lúc sắp giã từ cuộc đời được đăng trên Tuổi Trẻ ngày 11/1/2008 là: “Miền Bắc cho tôi Độc Lập, miền Nam cho tôi Dân chủ và Tự do” ,”thì đủ biết THỰC TẾ MIÊN NAM đã giải phóng cái đầu và trái tim tụi tớ như thế nào!
Và… chẳng phải một mình giới văn nghệ, giới chính trị cũng phải nhận thức ra “Không thay đổi cách nhìn, cách lãnh đạo là…nguy to! Và… “Đổi Mới” đã ra đời…Cả hai miền đã đuợc… “cởi trói” tiến vào kinh tế thị trường nhưng….đang còn vướng cái đuôi…XHCN ????????

*Ở miền Bắc, một số văn nghệ sỹ được “giải phóng sáng tác”
100%, nghĩa là ăn lương của Hội nhưng không phải làm việc gì ngoài sáng tác.Tuy nhiên, đi đâu, làm gì, kế hoạch sáng tác, sinh hoạt Đảng vẫn phải do Đảng Đoàn quản lý. Lưu Công Nhân, Phan Huỳnh Điểu… là hai văn nghệ sỹ tuy vào miền Nam rất sớm nhưng không thuộc bất cứ Hội nào của thành phố. Riêng LCN, vì “quậy” quá mới có cái “lệnh trục xuất” của Đảng Đoàn Hội Liên Hiệp V.H.N.T thành phố vô lý này…
24 tháng 3, 2008

*****************************************************************************************************************************


Bấm vào dưới đây để xem và nghe NS Tô Hải nói chuyện với người cháu là Andrew Lam năm 2004 (Andrew Lam tên thật là Lâm Quang Dũng, con của Tướng VNCH Lâm Quang Thi, mẹ Andrew là em ruột của NS Tô Hải) :

VIDEO 1 VIDEO 2

Tớ Đi Thăm Những Người … Không Chiến Bại

Mới đầu, tớ chỉ coi những người không trực tiếp cầm súng ở miền Nam chống lại quân đội miền Bắc là những người không chiến bại…. vì theo tớ, họ có vào sân đá banh đâu mà bảo họ thua…?
Cho nên, giao tiếp với những gia đình, bạn bè không có con phải đi “học tập” nó làm tớ thoải mái hơn cả. Đỡ phải trả lời những câu hỏi mà chính các bố “tuyên bố một đằng làm một nẻo” cũng chẳng đủ sức trả lời!
Tớ thấy những phương châm dặn dò của Ban Thống Nhất khi tiếp xúc với đồng bào, nhất là văn nghệ sỹ miền Nam là luôn ở “tư thế của kẻ chiến thắng”, là “cần đoàn kết nhưng kiên quyết, cởi mở, nhưng cảnh giác” không để sa vào những cám dỗ vật chất của chủ nghĩa thực dân mới vv….vv… bằng một thái độ duy nhất: “Đến với mọi người với cả một tấm lòng trung thực nhất, không bao giờ tỏ ra một người ở phe thắng tới với phe thua”!
Tớ không thể hiểu nổi các nhà làm ra những câu như “thế ta là thế đứng trên đầu thù”, những người chủ trương vừa tiếp quản thành phố đã bắt toàn dân “treo ảnh lãnh tụ, treo cờ Tổ Quốc”, đã đêm đêm bắt các em nhỏ phải đi tập trung học “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ!” có một chút nghĩ suy gì về tình cảm con người không chứ chưa nói đến tâm lý học. Làm sao mà người ta có thể bị áp đặt phải yêu những thứ mà người ta không những không thích mà còn sợ hãi, thù oán nữa? Làm sao mấy em nhỏ có bố đi “cải tạo” chưa có ngày về lại có thể mơ thấy gì ngoài bố chúng nó chứ! Tớ phải cố quên đi những lời hợm hĩnh kiêu binh (sufisance) trên Đài, trên báo, trên những khẩu hiệu giăng đỏ đường để có đủ can đảm bước vào những gia đình mà tớ biết trước sẽ phải đối diện với trăm ngàn thắc mắc đủ loại….

Tớ không đến nỗi vào loại nói dối ngu ngốc là: “miền Bắc có cả trăm máy lạnh mắc ở công viên Lê Nin”! Tớ cũng không đủ can đảm để nói miền Bắc sống sung sướng vì …không bị “kìm kẹp” dù không có tủ lạnh, tivi, xe máy…, dù miếng ăn nào cũng phải có phiếu có tem!
Tớ muốn chửi cha cái thằng dám viết báo nói rằng “phong cách trẻ em khoanh tay, cúi đầu khi chào người lớn ở miền Nam là…rơi rớt từ chế độ phong kiến!”
Đặc biệt là đối với giới trí thức miền Nam, tớ luôn tâm niệm là: Họ có được cái đầu và trái tim phóng khoáng, tự do hơn chúng tớ nhiều. Hơn thế nữa họ có nhiều điều kiện để trau dồi trí thức, được đọc nhiều, xem nhiều, đi nhiều hơn hẳn mấy anh lý luận văn nghệ mà chỉ được đọc tác phẩm qua bản dịch, học lý luận qua các tổng kết triết học-chính trị-kinh tế học từ cuối thế kỷ thứ XIX!
Và một điều tớ cho là văn nghệ sỹ miền Nam hơn hẳn mấy anh văn nghệ sỹ miền Bắc ở chỗ: 10 anh thì 9 anh dùng được từ 1 đến 2 ngoại ngữ để tự trau dồi kiến thức của mình. Điều này ở miền Bắc tỷ lệ dùng được ngoại ngữ là ngược lại 1/10! Mà hầu hết cái số 1 đó lại là ngoại ngữ học từ thời Pháp thuộc. Còn lại trí thức từ 50 tuổi trở xuống (tính đến năm 1975) thì ….đều trông chờ vào sách dịch nhỏ giọt mỗi năm dăm bảy cuốn.
Ấy vậy mà các vị “kiêu binh văn nghệ” đó vẫn dám tổ chức tọa đàm, hội thảo đủ mọi thứ nghe có vẻ…”người lớn” ra phết: Nào “Sự khác biệt giữa chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nào “Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân mới tới văn học nghệ thuật miền Nam”… nào Hiện Sinh, Ca Muýt, Bôn Sác, tùm lum cứ như ta đây đã biết thừa “ba cái thứ bậy bạ” đó từ lâu rồi!
Tớ nhớ mãi một buổi hội thảo về văn học nghệ thuật tại 190 Phan đình Phùng mà mấy vị hãnh diện chiến thắng đứng lên ăn nói bậy bạ đã bị anh em phản đối bỏ ra về! Riêng tớ cũng đứng dậy ra về theo vì cũng cảm thấy bị xúc phạm luôn nhất là kẻ xúc phạm mình lại là một thằng Ngu!
Ai đời phân tích một tác phẩm của phía mà anh ta cho là “người thua”, mời người ta tới mà lại nói là: “Anh có bao nhiêu cái đầu để tạ tội với cách mạng?” (Phan Khắc Lập phê phán cuốn “Tiền Đồn “của Thế Uyên).
Còn về âm nhạc thì còn có ông tệ hơn nữa, dám phát ngôn một câu là: “Âm nhạc miền Nam là âm nhạc ….vô học”. Tớ nhớ mãi truyện này vì chính sau đó một hôm, nhạc sỹ Phạm Đình Chương, người tớ đã quen biết từ thời kháng chiến chống Pháp đã đến gặp tớ ở 23 Lý Tự Trọng để nhờ phản ảnh sự bất bình của anh em “tại chỗ” về thái độ lời ăn tiếng nói của một số “cán bộ cách mạng”. Tớ đã nói chuyện với nhạc sỹ Phạm Đình Chương gần 3 tiếng đồng hồ về những gì chúng tớ đã trải qua để tồn tại đến ngày hôm nay,… Rồi cuối cùng… Các bạn có biết tớ đã khuyên ông ấy cái gì không: “Anh Chương ạ! Tôi khuyên anh… nếu còn khả năng, hãy…”ra đi” đi! Sớm ngày nào hay ngày ấy! Các anh không thể sống an lành với thái độ thẳng thắn này đâu. Hơn nữa, với cái đầu và trái tim quen với tự do rồi, các anh không thể làm nghề sáng tác được dưới thể chế chính trị này đâu!”
Và cũng chính với cái bài thuyết phục tích cực một cách cực kỳ …tiêu cực này tớ đã chỉ sửa đi mấy chữ “không thể buôn bán”, không thể hành nghề”, “không thể phát triển tài năng” v..vv… mỗi khi đến đâu gặp những người thân đang có vấn đề bế tắc trong tư tưởng, đời sống, vật chất hay tinh thần… Có thể nói, gần như cả gia đình nội ngoại xa, gần nhà tớ, từ bà cô, bán phở Bắc ở chợ An Đông đến ông giáo sư Đại Học Trường Y Dược, sau này ra đi, đều có công “thúc đẩy” của tớ ít nhiều.
Riêng giới nhạc, những người còn ở lại do còn lấn cấn vấn đề vợ con, tài sản hoặc còn hy vọng điều gì đó thì, sau cuộc cải tạo tư sản đều ra đi hàng loạt.
Riêng cái dàn nhạc đã từng cộng tác với tớ suốt những ngày đầu tiên cố làm nên một thứ “âm nhạc giải phóng” thì …ra đi không sót lấy một người!
Riêng đối với Nghiêm Phú Phi, một người tớ đặc biệt quan tâm, theo giới thiệu của Phạm Trọng Cầu, tớ đã từng gặp để trao đổi nhiều về vấn đề có thể đẩy mạnh nền âm nhạc kinh viện (accadémique) ở Sài gòn này không thì ông cho biết: “Ông đã có giấy tờ chính thức ra đi, không thể ở lại được, dù lúc đó người ta đã “cơ cấu” ông vào Ban Chấp Hành Hội Âm nhạc thành phố sắp được thành lập”. Tớ mừng cho ông vì những thứ ông học mà tớ đã được biết, (được xem và được nghe qua một cái quartet cho đàn giây) quả là hiếm hoi ở đất Sài gòn này nhưng ông sẽ chịu sao nổi sự lãnh đạo của mấy ông đáng tuổi con, tuổi em ông đang sắp từ Liên Sô, Trung Quốc… trở về với cả một hệ thống tư duy về thẩm mỹ (và cả kỹ thuật nữa) hoàn toàn khác biệt, nhất là cái đầu óc hợm hĩnh (sufisance) mang từ “cái nôi của cách mạng tháng 10″ về thì… chỉ có làm ông tăng-xông mà chết sớm!
Một làn sóng văn nghệ sỹ, diễn viên ở cả hai miền di tản, vượt biên càng tăng lên khi có vụ “Nạn Kiều”. Hàng loạt diễn viên của Nhà hát giao hưởng (cả gia đình họ hàng nhà Cóong (Trombone), Đài Phát Thanh (Vân Khánh, Mộng Dung, riêng Ngọc Tân..bị bắt, ở tù rồi được thả)) Nhà hát Kịch (Giáng Hương, Phạm Bốn) Trường Nhạc (vợ chồng pianist Hàn-Vy-Hoa…V.Hiệp…) thậm chí cả sau này gia đình nghệ sỹ nhân dân(!!!) Thái Thị Liên-Đặng Thái Sơn, Tôn Nữ Nguyệt Minh… theo tớ chẳng qua cũng chỉ là một thứ “di tản chính thức”, được chấp nhận để họ có đủ điều kiện phát triển tài năng mà thôi! Còn họ phục vụ nhân dân được cái gì thì ngay cái “nhăn răng” tớ đây cũng chẳng được ba vị “nghệ sỹ lớn” quanh năm sống ở nước ngoài cho nghe lấy một nốt nhạc nào!
Tớ chỉ ân hận có một điều là không giúp đỡ “giải thoát” được cho chính em ruột tớ: Tô Hiền. Một phần vì bản thân em tớ nó quá yếu đuối cả về tinh thần lẫn thể xác, một phần nó cũng hơi có tí…”cách mạng” hơn cả ông anh vì nó cũng đã từng trải qua những ngày sống với “cách mạng” thời học tú tài ở trường cấp ba Nguyễn Thượng Hiền, trong vùng kháng chiến. Phần nữa nó quá lo cho cuộc sống càng ngày càng khó khăn của một anh “giáo sư cấp ba” và một bà vợ giáo viên cấp 2 làm sao nuôi nổi 6 con ăn học trước tình hình ngày càng xuống cấp trầm trọng của xã hội những năm 76-77. Có thể nói gia đình Tô Hiền, em tớ là điển hình cho một lớp trí thức tiểu tư sản thành thị bị “chết lây” bởi các phong trào cách mạng đánh vào…người khác! Thoạt tiên là bán đổ bán tháo cái ô-tô hàng ngày, giáo sư dùng để chở vợ con đi dạy, đi học và chở mình đến lớp! Sau đó là tậu ngay …8 cái xe đạp, mỗi người một cái, ngày ngày cọc cạch đạp từ hẻm Long Vân Tự (Bình Thạnh) đi khắp các Quận để học, để lên lớp, giảng bài! Mỗi lần tớ về thăm lại thấy thiếu đi một cái gì đó, thậm chí đến 3 cái quạt trần cũng từ từ đội nón ra đi. Bữa ăn thì toàn bo bo, bột mì… rau xanh là chính. Các cháu sinh ra ghẻ ngứa, mặt mày đứa nào đứa nấy ngơ ngác chẳng còn hột máu! Mỗi lần về, qua chợ bà Chiểu, tớ luôn xách theo cân thịt lợn, thịt bò về để bồi dưỡng cả nhà. Đang tính chuyện bán nhà để có “cây” vượt biên thì…., ngay trên bục gỉảng tại trường phổ thông cấp Ba Nguyễn Huệ Quận 4, giáo sư Hiền đã gục xuống, đứng tim và không bao giờ tỉnh lại nữa! Đó là ngày 24 tháng 10 ta năm 1976, sau đúng có hơn một năm trời cố gắng làm anh giáo sư cấp 3 XHCN! … Và vợ Hiền, sau đó ít năm, cũng chết vì tăng xông luôn… 6 đứa con nay đã trưởng thành, chẳng nên ông nên bà, có chức danh to lớn gì ,nhưng cũng sống được, một phần vì có ba đứa đã quyết tâm làm “boat people” (may không đứa nào bị cá ăn), hiện đang sống bên Canada, bên Mỹ, hỗ trợ ít nhiều!

Đúng là tớ có cái “số” sống cô độc, không bà con họ hàng để luôn luôn có thời giờ mà… nghĩ ngợi, mà buồn chán cho cuộc đời, mà trao đổi với bạn bè những tình cảm, nghĩ suy… như tớ đang giải sầu bằng blogging hôm nay đây.

Trở lại với cuộc đi lang thang với nhạc sỹ Lê Thương (không có ông, rất khó tiếp cận với các loại “sống ẩn” như Dương Thiệu Tước) tới rất nhiều các nhạc sỹ đang còn ở lại. Tớ luôn ca ngợi cái tự do của họ và nhận hết những gì mà người khác làm sai như của mình làm sai. Xong xuôi rồi, bao giờ tớ cũng tìm cách nhắn nhủ một cách tế nhị “Nên chọn con đường “ra đi” là tốt nhất vì các anh không có đủ sức chịu đựng được những gì chúng tớ đã chịu đựng đâu!” Trừ một số anh quyết tâm ở lại vì đã quá già, trong đó có anh Lê Thương, Hùng Lân, Dương Thiệu Tước…tất cả những người trẻ, trong đó có cả Duy Quang, trước khi ra đi đều đến chào tớ rất cảm động, chân thành. Tớ chỉ thương có một mình Y Vân, một con người nghệ sỹ quá tình cảm, quá bình dân và quá… nghèo, không sao có khả năng tìm đường “tự cứu” được. Ngay những năm 75, 76, anh cũng tự mình cuốn lấy thuốc hút, ăn mặc xuềnh xoàng. Anh thường đến tớ chơi trao đổi nhiều điều rất tâm tình (chuyện gia đình, chuyện vì sao anh làm ở Đài Mẹ Việt Nam … Anh không được phổ biến tác phẩm, không được kết nạp vào Hội cho đến ngày anh qua đời…)
Đối với tớ, không có nhạc sỹ phe ta hay phe nó gì hết. Chỉ có một cái chức danh đáng tự hào NGHỆ SỸ VIỆT NAM mà số phận đã bị các nhà chính trị đẩy họ đến chỗ phải cầm đàn, cầm bút, cất cao tiếng … chửi nhau, gây nên chia rẽ, thù hằn cho mãi đến bây giờ vẫn chưa sao mà xí xóa đi cho được!
Vài năm gần đây, thỉnh thoảng có người trở lại cố hương, găp lại tớ, thấy tớ vẫn sống có phần thoải mái tự do, lại còn lên net, gõ blog hàng ngày, gặp bạn bè, mét xịch khắp bốn phương, tuy không có được nhà lầu, xe hơi nhưng vẫn vui tươi trong cuộc sống hoàn toàn tự do, thoải mái, tớ đã không ngần ngại tuyên bố: “Ngày xưa các bạn sống sướng hơn tớ nhiều“! Còn bây giờ thì đến phiên được bắt đầu cái sự… sướng tự tạo ra đây! Chỉ phải cái chữ “giầu” thì có lẽ không bao giờ tớ có được ở cái nền… kinh thế (!) thị trường quái đản này! Thôi thì thay “thăm nghèo hỏi khổ” tớ bằng… “thăm cái lão già nghèo mà sướng vậy”!

Tô Hải
27/03/2008

Tài liệu tham khảo:
Blog của nhạc sĩ TÔ HẢI
Trang Khánh Ly
Đàn Chim Việt
BBC
***
——————————

Đọc “HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN” của TÔ HẢI
14/04/2009
UYÊN THAO
Nỗi khát khao nhỏ bé được cùng gia đình lo đón
Tết mà người sĩ quan thiết giáp vừa thốt lên
bỗng như vầng khói sương hư ảo. Ngay cái
đỉnh đèo mà tôi vừa đứng bên anh cũng chìm
dưới hình ảnh những xác chết ngổn ngang để xoá
nhoà hẳn nét đẹp mà anh nhìn thấy. Cảnh sắc
thiên nhiên không bao giờ thay đổi, nhưng tôi
không thể quên những cuộc tàn sát từng diễn ra
chính trên đoạn đường này, nhất là không thể
quên những thân xác vào nhiều ngày tháng trước
đã nằm gục theo mọi tư thế bên những gốc cây,
những mô đất mà chúng tôi vừa bước qua…

____________________________________________

NGÕ CỤT VIỆT NAM
và giấc mơ về Thằng Hèn CHILON CHILONIDES
UYÊN THAO

Từng trang “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” đưa tôi lui dần về bốn mươi năm trước.

Thuở đó, một buổi sáng cuối năm 1969, tại toà soạn tuần báo Diễn Đàn trên đường Tạ Thu Thâu Sài Gòn, anh Mặc Đỗ nhắc tôi thực hiện ngay số báo đặc biệt về Hồ Chí Minh vừa có tin đã chết.

Anh Mặc Đỗ là chủ bút và tôi là người điều khiển toà soạn.

Lời nhắc của anh tự nhiên làm bừng dậy một loạt hình ảnh từ ký ức.

Trước mắt tôi không còn khung cảnh toà soạn mà là đoạn đường đèo Mang Yang.

Đối diện với tôi không còn nhà văn Mặc Đỗ mà là người lính đầy bụi đất — một đại uý thiết giáp mà tôi nhớ tên là Đào Trọng Trấn. Tôi tới đây khi trận Đức Cơ đã dứt, nhưng toàn Vùng 2 đang căng thẳng vì cuộc nổi dậy của Fulro vào tuần lễ trước –– đêm Giáng Sinh 1965. Chúng tôi bước dọc hàng chiến xa rồi dừng bên một lùm cây. Đại uý Trấn bỗng chỉ tay xuống dải thung lũng bên quốc lộ bật la:

- Đẹp quá! Cảnh đẹp quá!

Rồi anh thở dài:

- Lúc này được cùng gia đình lo đón Tết mới thú!

Câu nói bất ngờ tỏ nỗi khát khao của vị chỉ huy đơn vị đang bảo vệ an ninh cho một điểm xung yếu nối cao nguyên với duyên hải đã theo tôi suốt đoạn đường trở lại thị xã Pleiku sau đó.

Tôi như nghẹn thở vì những hình ảnh hỗn loạn, vừa thấy mình dừng giữa dòng suối nhỏ tại Dakto đã lập tức ngồi bên một sân bóng tại Lệ Thanh, rồi chết sững tại một căn cứ địa phương quân Phú Bổn…

Bên tai tôi dội lên tiếng la của người lính vừa cùng tôi vục tay vào dòng suối.

Dòng suối hiện ra như nguồn hạnh phúc cho những kẻ thất thểu gần mười ngày giữa núi rừng khô khốc. Tất cả đang lao xuống suối như bày thú đói lao vào con mồi bỗng sững lại vì tiếng la và nhìn theo bàn tay chỏ một lùm cỏ đen lù lù trôi tới. Giữa đống cỏ và đám lá khô bập bềnh hiện lên một đám tóc rồi một gương mặt đen kịt ruồi muỗi giòi bọ — một đầu người xám xịt nhớp nhúa.

Chiếc đầu theo dòng nước từ từ trôi trước mắt chúng tôi để về đâu không ai biết.

Cũng chẳng bao giờ chúng tôi biết chiếc đầu đó là của ai, bị cắt lìa lúc nào, trong tình cảnh ra sao…

Rồi ngay trước mắt tôi là một phụ nữ với mớ tóc rối mù phủ dài phía trước.

Sợi thừng quấn quanh ngực buộc chiếc xác lên một nhánh cây khiến người đã chết không được nằm yên mà phải đứng gục đầu với hai bàn chân lửng lơ chạm hờ trên mặt đất. Những vệt máu tím ngắt kết dính mấy mảnh áo tả tơi vào bộ ngực nát bấy vì vết đạn.

Chỉ hơn mười tiếng đồng hồ trước đây, chắc chắn người phụ nữ này không thể nghĩ về điều xẩy ra cho chị như tôi đang thấy. Có thể chị vẫn thấy cuộc đời đầy tươi đẹp vì đang xum họp bên chồng con giữa buổi tối mừng lễ Giáng Sinh, dù ở một tiền đồn heo hút trên mảnh đất Phú Bổn xác sơ này.

Dù sao chị cũng may mắn vì chồng con chị đã chia chung mọi điều với chị và hẳn đang ở bên chị dưới mấy nhánh cây không xa. May mắn hơn nữa là chị cùng chồng con rồi sẽ có một nấm mồ vì thân xác còn treo tại đây thay vì trôi trên một dòng suối.

Dù quá quen với cảnh chết chóc, tôi vẫn không thể dừng lâu giữa những xác người dựng đứng bao quanh.

— Không cách gì trốn khỏi được!

Đó là mấy lời ngắn ngủi của một thiếu tá Biệt Động Quân.

Chúng tôi quen nhau từ tuổi học trò và gặp lại sau nhiều năm xa cách giữa vùng núi Chư Prong sặc mùi tử khí. Thằng bạn hiền hoà học cùng lớp với tôi từ trường Thăng Long qua trường Văn Lang Hà Nội mấy năm 1950-1953 mang gương mặt cằn cỗi khó ngờ.

Ngồi bệt trên bờ hào, nhìn quanh lơ đãng, anh nói với tôi mà như đang nói với chính mình:

— Tao không sợ hành quân mà chỉ sợ lúc trở về. Những lúc đó tao chỉ muốn trốn mà… không cách gì trốn khỏi được!

Tôi không ngạc nhiên về sự muốn trốn khi một cuộc hành quân chấm dứt.

Không muốn trốn sao được khi biết chắc đang chờ phía trước là những gương mặt căng thẳng đón xem trong số người về còn có người thân của mình không?

Càng muốn trốn hơn nữa khi phải nhìn nỗi đau oà vỡ của những người vợ yếu đuối, những đứa trẻ ngây thơ thấy chồng, cha trở về trong gói poncho, nhất là lúc cả đám đông chan hoà nước mắt vây quanh người chỉ huy để cùng nhao nhao cất lên một câu hỏi như đang mê sảng:

— Thiếu tá ơi, chồng tôi đâu?

Chẳng ai cần trả lời nhưng những câu hỏi cứ vang lên như những lằn đạn kinh hoàng không một lằn đạn kinh hoàng nào giữa trận địa so nổi.

Một rừng hoang ký ức vây hãm tôi trên đoạn đường dài do câu nói bất ngờ của đại uý Trấn.

Tôi không tìm nổi lý do chính đáng cho việc cần xô mọi người vào những cảnh sống mà tôi đã gặp.

Không lý do nào đứng vững khi trút cả tràng đạn vào ngực một phụ nữ yếu đuối và lúc nạn nhân đã gục xuống lại dựng đứng cái xác dưới một nhánh cây. Người phụ nữ đó phải sống giữa một tiền đồn chỉ vì có chồng là lính địa phương quân.

Càng không có lý do nào đứng vững khi những đứa trẻ chưa quá 5 tuổi đầu vẫn bị bắn hạ và treo xác chỉ vì cha chúng là người cầm súng.

Chỉ những con tim gạch đá và những bộ óc ngập đất bùn mới tạo nổi lý do chính đáng cho các hành động này, nhất là những nạn nhân còn trở thành con số ghi dấu chiến công đã diệt bao nhiêu tên địch!

Nỗi khát khao nhỏ bé được cùng gia đình lo đón Tết mà người sĩ quan thiết giáp vừa thốt lên bỗng như vầng khói sương hư ảo. Ngay cái đỉnh đèo mà tôi vừa đứng bên anh cũng chìm dưới hình ảnh những xác chết ngổn ngang để xoá nhoà hẳn nét đẹp mà anh nhìn thấy. Cảnh sắc thiên nhiên không bao giờ thay đổi, nhưng tôi không thể quên những cuộc tàn sát từng diễn ra chính trên đoạn đường này, nhất là không thể quên những thân xác vào nhiều ngày tháng trước đã nằm gục theo mọi tư thế bên những gốc cây, những mô đất mà chúng tôi vừa bước qua…

Những hình ảnh đó đã trở thành đời sống Việt Nam do ý hướng của một con người mà anh Mặc Đỗ vừa nhắc tôi thực hiện số báo đặc biệt về con người ấy..

Lúc nhấc điện thoại liên lạc với các cộng tác viên, tôi nhớ lại mấy câu thơ “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua — Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà…” của Hồ Chí Minh mà đài Hà Nội truyền đi và bên tai vang lên câu nói của người tuỳ viên văn hoá toà đại sứ Mỹ vào dịp tiếp xúc với một nhóm cầm bút trẻ tại Sài Gòn mấy năm trước, năm 1964. Chưa bao giờ tôi nghĩ người Mỹ hiểu thấu hoặc ưu tư về tâm cảnh người dân Việt Nam , nhưng câu nói của người tuỳ viên đã khiến tôi chấn động thực sự. Ông ta hỏi: “Giới trẻ Sài Gòn nghĩ gì về nhân vật Hồ Chí Minh?” Bạn tôi, Vũ Ngọc Đĩnh, trả lời: “Hồ Chí Minh là người yêu nước, nhưng đã lầm đường.” Người tuỳ viên văn hoá mà đa số lớp trẻ Sài Gòn nghĩ là mù mịt về văn hoá Đông Phương đã lắc đầu nói ông ta không nghĩ vậy, vì theo ông ta, người yêu nước trước hết phải thương dân. “Hồ Chí Minh đam mê sự nghiệp của ông ta chứ không thương dân. Không thể bảo ông ta là người yêu nước!”

Kể từ ngày đó, tôi luôn cố tìm con tim rung động trước nỗi đau của đồng bào nơi những con người được tôn xưng là yêu nước và không ngớt thắc mắc về sự viện dẫn tình yêu nước để đẩy đất nước vào vòng lửa đạn với hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng triệu cái chết oan khiên đau đớn.

Ít ngày trước khi ghé Mang Yang, tôi ghé một quán nước gần khoảnh đất trống bên quận lỵ Lệ Thanh cũng là sân bóng chuyền của những người lính đồn trú gần đó và đám trai trẻ địa phương. Niềm vui quây quanh trái bóng tại đây đã biến một nhóm sáu chàng trai thành tâm điểm thu hút. Tôi gặp những chàng trai này khi họ vừa qua một trận đấu, đang ngồi với đám học sinh nhỏ ngưỡng mộ họ. Thấy tôi đeo máy ghi âm, cả nhóm đề nghị mở cho nghe một bài ca. Cuốn băng đang nằm trong máy của tôi chỉ ghi phần kết bản trường ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy. Tôi không tin đám trẻ mười tám, hai mươi sống giữa vùng gió bụi mưa mù này thích nghe bản nhạc, nhưng vẫn chiều ý. Không ngờ họ đòi tôi cho nghe lại, và hết thẩy đều như chết lặng trước từng lời ca. Rồi một chàng trai vừa chấm mấy giọt nước mắt trên gò má vừa xin tôi cuốn băng. Nỗi xúc động hiện trên từng khuôn mặt khiến tôi hứa sẽ trở lại vào tuần sau và tặng cuốn băng ghi trọn ba phần của bản trường ca thay vì cuốn băng này..

Tôi trở lại như đã hứa, nhưng quán nước bên đường chỉ còn là đống dấu tích tan hoang.

Đợt pháo kích bất ngờ vào buổi chiều ba ngày trước đã biến cả sáu chàng cầu thủ bóng chuyền, đám học sinh nhỏ và gia đình chủ quán thành tro bụi, khi họ đang ngồi quây bên nhau như thường lệ.

Các nạn nhân vừa được chôn cất ngày hôm trước.

Tôi quay ra xe như kẻ vô hồn, thay vì mở máy xe, đã mở đoạn cuối cuốn băng với những lời ca mà tôi ngỡ chỉ là tiếng nấc nghẹn của Thái Thanh:

Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ Việt Nam ơi!
Chúng con đã về khát khao hơi Mẹ
Chúng con xin thề giữ thơm quê Mẹ
Cuộc đời rồi phai tàn sau thế giới
Chỉ còn tình yêu của Mẹ mà thôi!

Mấy giọt nước mắt trên gò má chàng trai chỉ một lần thoáng gặp tại xó rừng mịt mù bụi đỏ như có ma lực thúc đẩy một nỗi bứt rứt khó tả. Tôi cứ thấy những giọt nước mắt đó khởi từ con tim đằm thắm của một tâm hồn nhân hậu chỉ hứa hẹn sự tốt lành. Những con tim và những hứa hẹn đó hẳn có ở nhiều nơi nhưng số phận dành cho tất cả chỉ là tro bụi.

Cuộc chiến tự nguyện

Và, những dòng chữ của Tô Hải hiện lên:

“Tôi đã thấy…Cả một xã không còn bóng đàn ông, trắng xóa khăn tang của các chị, các mẹ… Cả một đơn vị, một chuyến phà, một đoàn xe, một gương mặt, thậm chí một bà mẹ già còng lưng chở lính qua sông, mẹ Suốt, một tiểu đội con gái đêm đêm san đường, lấp hố bom, mới gặp mặt hôm trước thì hôm sau đã thành tro bụi. Đố ai tìm được cái xác nào sau khi bom B52 rơi trúng bến phà Xuân Sơn nhỏ bé ở Quảng Bình, ở ngã ba Đồng Lộc ấy! Bản thân tôi, khi trực tiếp gặp họ, tôi đều nghĩ: “Chắc đây là lần gặp… cuối cùng.” Và, quả là như vậy”. (HKCMTH – tr. 279)

Đó là quê hương Việt Nam trong cuộc chiến dài gần nửa thế kỷ mà chính người tự nguyện bước vào cuộc chiến như Tô Hải đã nhận định: “Với tôi cũng như với nhiều người được đọc, được nghe và có được tí chút độc lập suy nghĩ thì cuộc chiến chống Mỹ chẳng có gì là bất ngờ… Đâu phải nó nổ ra từ vụ hải quân tí hon Bắc Kỳ dám “đánh cú liều” vào tầu Maddox ở vịnh Bắc Bộ! Quần áo, mũ, giày, thắt lưng, bao đạn, lương khô…. tất cả là…Tàu! Kalachnikoff, T54, Sam I, Sam II, Mig 17 hay Mig 21…tất cả đều đến từ Matxcơva… Còn dân Việt Nam chỉ có…. người mà con người Việt Nam thì chỉ cần đứng trước hai chữ “xâm lược” là sẵn sàng, kẻ thù nào cũng… “oánh”!” (HKCMTH – tr. 266)

Nỗi đau

Cảm giác nhục nhã vì mang thân nô lệ khiến nỗi uất hận do cảnh sống bất công những ngày tháng trước vẫn chưa nguôi, dù chế độ thực dân Pháp đã chấm dứt từ đầu tháng 3-1945 và đất nước đã có một chính quyền tự chủ khi người Nhật buông súng đầu hàng. Cảm giác này khiến một thế hệ trẻ dễ dàng biến thành công cụ trong tấn tuồng lường gạt bi thảm mà nạn nhân gồm cả bản thân họ.

Tô Hải kể về cái ngày khởi đầu sa hố đó:

“Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, đăng đàn diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng… Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!

Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh như thế đó!

Sau này, loại thanh niên “yêu nước hồn nhiên” bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật dành tự do, độc lập cho đất nước!”

Và các nhà viết sử Nhà Nước Cộng Sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối.

Thực tế lúc ấy là…. chúng tôi có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau đó còn công khai tuyên bố GIẢI TÁN ĐẢNG của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh…. và cả “cố vấn” Bảo Đại nữa.

“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!

Tại sao Việt Nam không độc lập như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật Tân… mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù thì ít…. mà chém giết nhau thì nhiều?”… Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người âm mưu làm VUA của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà ở các nước, người ta đã có từ nửa thế kỷ nay rồi vì may mắn thay, họ không có Đảng Cộng Sản cầm quyền! Bi kịch lớn của triệu tấn bi kịch nhỏ chính là đây! (HKCMTH – tr. 424 – 425)

Bi kịch đã phủ trùm đất nước do lệnh truyền chém giết viện dẫn lý do “đế quốc Mỹ đang xâm chiếm miền Nam, đồng bào bị bóc lột, đày đọa”, dù nhiều người sắm vai trong tấn kịch luôn tái tê tự vấn: “Từ nay đến ngày “ngụy nhào… miền Bắc còn bao nhiêu xương rơi, máu đổ? Phía bên kia thì thằng Phát, thằng Đạt, những đứa em tôi; thằng Định, thằng Thọ, những bạn học của tôi … bao giờ sẽ trở thành món “thịt băm” trước cái quyết tâm “còn cái lai quần cũng đánh” của “ta”? (HKCMTH – tr.291 – 292)

Vì họ đã thấy không đế quốc nào xâm lược, không có ai bị đọa đày mà cuộc chiến đã khởi từ mưu đồ độc bá của chỉ một nhóm, thậm chí của chỉ một người:

“Không có ông Hồ, không có cái đảng này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em, họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt.” (HKCMTH tr. 388).

Mục tiêu thực sự của cuộc chiến đã được nêu hàng ngày bằng mọi lời lẽ có thể tóm gọn trong mấy câu thơ:

Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ!
Cho đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!
(Tố Hữu)

Không gì phi lý bằng phải đổ máu để tạo sự bền lâu cho một phe đảng và càng phi lý hơn là đổ máu để phụng thờ những kẻ xa lạ ở những góc trời mù mịt. Nhưng, nhìn rõ thực tế lại chỉ để bó tay đối diện với một tự vấn không kém đau xót: “…Rũ bỏ những nhận thức sai lầm, chịu nhận là mình đã lạc lối, kiên quyết giã từ cái chủ nghĩa nặng mùi xác chết ấy đi, sao nó khó khăn, vất vả đến thế?” (HKCMTH – tr. 388)

Đây là câu hỏi đã được đặt ra từ lâu và từng khiến bản thân tôi trong thập niên 1960 bị coi là côn đồ láo xược do đã gán cho các nhân vật đại danh của thế kỷ cái biệt danh “đồ chó”. Đến lúc này, tôi vẫn nghĩ bất kể lãnh phản ứng nào, tôi sẽ không bao giờ thay nổi thái độ từng có với những Bertrand Russel, những Jean Paul Sartre … Chữ “đồ chó” chính là chữ Sartre viết ra để gán cho ai không chịu cúi đầu trước các chính quyền Cộng Sản. Sartre gọi những người này là “đồ chó” vì họ đã chống lại một lý thuyết, mà theo Sartre, sẽ đem lại tốt lành cho đời sống và cũng theo Sartre, “đảng Cộng Sản không bao giờ lầm lẫn!”

Giữa thời điểm mà Staline đã lộ hình bạo chúa thủ tiêu hàng chục triệu nạn nhân vô tội; giữa thời điểm mà hồng quân Liên Xô chiếm đóng Budapest, treo cổ những người Hung yêu nước Imre Nagy, Pal Maleter, tàn sát những người Tiệp đòi hỏi tự do tại Praha, những công nhân Ba Lan nổi dậy tại Poznan; giữa thời điểm mà miền Bắc Việt Nam chưa xoá hết dấu vết tội ác Cải Cách Ruộng Đất, trong khi cuộc chiến đẩy hàng triệu người dân miền Nam vào cảnh vất vưởng trên đường chạy loạn với nỗi đau không ít người thân bị cướp đoạt mạng sống… mà có kẻ nhục mạ những người không muốn cảnh đó tiếp diễn là chó má thì không thể chịu nổi –– nhất là còn nhân danh giải Nobel, nhân danh hào quang trí thức đòi đưa ra xét xử những người ngăn chống các hành vi tàn sát đồng bào với lập luận đảng Cộng Sản Việt Nam đang bảo vệ chính nghĩa dân tộc và đời sống của người dân! Càng không chịu nổi khi chính Bertrand Russel, chính Jean Paul Sartre… đều phản đối các sự việc tại Đông Âu, nhưng lại bưng tai bịt mắt trước hàng ngàn vành khăn tang tại Huế, trước những xác trẻ thơ Việt Nam bị xé nát bởi đạn pháo, bởi mìn bẫy, trong khi từng ngày từng giờ ở khắp nơi vẫn đề cao từng câu nói của Russel như thánh chỉ, chẳng hạn “toàn bộ vấn đề với thế giới chỉ do những kẻ điên rồ và cuồng tín luôn tin là mình đúng!..” hoặc đề cao nỗi khát khao của Russel là “không có gì khác hơn tình yêu và lòng thương xót trước sự cùng khốn của con người!..”

Tôi chỉ thấy hiển hiện những kẻ cùng cực ngu si trước thực tế hoặc cùng cực xảo trá trong ý đồ mượn các sắc màu rực rỡ che giấu một thực chất tởm lợm và nhớ tới nỗi ô nhục của Russel năm 1940 khi bị người dân Mỹ đuổi khỏi ghế giáo sư một trường đại học New York do lối sống vô đạo đức, nhớ tới sự hằn học của Sartre với Raymond Aron do Aron vạch ra sự ngu độn đề cao chủ nghĩa Cộng Sản của Sartre. Có thể vì những điều này mà Russel luôn xuyên tạc để bôi bẩn mọi sự kiện dính tới người Mỹ và Sartre trút ra lời lẽ đê tiện với ai chia xẻ quan điểm của Raymond Aron. Và, tôi đã khẳng định chính các nhân vật đại danh ấy mới xứng đáng nhận cái từ “đồ chó” do Sartre viết ra. Bởi, đâu còn là người khi vì bất kỳ lý do nào đã cúi đầu tôn xưng kẻ gây tội ác bằng cách trút tội ác cho các nạn nhân, trong khi mọi việc xảy ra ngay trước mắt.

Tôi chỉ có thể đổi ý với Jean Paul Sartre vì cuối cùng, ông ta đã nghĩ đến những người Việt Nam khốn khổ phải đối đầu với mọi hiểm nghèo giữa biển cả, giữa rừng sâu để mong thoát khỏi cảnh sống địa ngục trên quê hương mình. Hành động cuối đời của Sartre có thể kể như ngầm chứa một câu tự thú đầy ý nghĩa rằng “kể cả là chó vẫn đáng quí hơn kẻ cúi đầu tuân phục Cộng Sản.” Sartre đã trở thành chứng liệu cụ thể cho lời phát biểu từ hơn 300 năm trước của William Penn về một chân lý không bao giờ thay đổi: “Lẽ phải luôn là lẽ phải ngay cả khi bị mọi người chống đối; lỗi lầm luôn là lỗi lầm ngay cả khi được mọi người tán trợ — Right is right, even if everyone is against it; and wrong is wrong, even if everyone is for it.”

Là người xa lạ và từng tôn sùng Cộng Sản, Sartre vẫn không thể dằn lòng trước gánh nặng oan khiên của người dân Việt Nam và phải công khai nhìn nhận nỗi nhục ngu si của bản thân mình.

Sartre hành động từ năm 1979 tức là tròn 30 năm trôi qua tính tới hôm nay.

Tại sao lại có tình trạng kéo dài nỗi đau xót như Tô Hải đã nhắc?

Tại sao chính những kẻ đã sống với cái chủ nghĩa nặng mùi xác chết ngay trên đất nước Việt Nam lại không thể thú nhận mình lạc lối dù ý thức rõ về sự lạc lối của mình?

Tô Hải gọi những trang viết của mình là hồi ký và ghi lại nhiều đoạn đời khởi từ 1945, nhưng nổi bật lên chỉ là nỗi dày vò trong tâm khảm của một người ý thức mình đi lạc mà không thể nào dừng bước. Dù viết về các lời lẽ gian trá hay hành vi tàn bạo của chế độ, dù viết về những kẻ ngu xuẩn tận cùng hay lưu manh ghê tởm, dù viết về toan tính của bản thân hay tâm tư của bè bạn, Tô Hải không bao giờ rời nổi nỗi đau đã thành cực hình vò xé tim óc. Đó là nỗi đau phải sống cuộc sống không còn là cuộc sống con người. Nỗi đau càng lớn hơn khi luôn phải gặp gỡ không ít kẻ mệnh danh trí thức vẫn vênh váo tự hào với cuộc sống đó.

Thực ra, những trang viết của Tô Hải và thực tế Việt Nam đã cho thấy không ít sự biểu lộ thái độ của nhiều người từng có tên trong giới sinh hoạt văn chương nghệ thuật…

Đó là những câu thơ viết lúc sắp giã từ cõi sống của những Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi:

Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?
Tôi, tôi người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong …

(Chế Lan Viên)

hoặc:

Tất cả người tôi còn nhiều bùn tanh
Mặt tôi nhuốm xanh, nhuốm đỏ
Tay tôi vương nhiều đồ bỏ
Nhiều dây nhợ tự buộc mình
Thôi! Xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần tàn ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn…
(Nguyễn Đình Thi)

Đó là những dòng chữ cũng viết vào lúc cuối đời của những Nguyễn Khải, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Minh Châu… hay các tác phẩm như Ba Người Khác của Tô Hoài, Ba Phút Sự Thật của Phùng Quán…

Chữ HÈN

Dù luôn mong có thêm nhiều biểu hiện như thế ở mọi người, Tô Hải đã không ngần ngại cho rằng tất cả đều chưa xa nổi chữ HÈN. Bởi những thái độ đã biểu hiện hay những tác phẩm đã có chỉ gói tròn trong mục đích phân trần mình đã trải nhiều ray rứt, không hề thanh thản khi cúi đầu nhận phận tôi đòi. Điều này không còn cần thiết, tương tự sự tố giác hay kết án bản chất phi nhân của các chế độ Cộng Sản.

Thực tế đã nói quá rõ rằng bất kỳ ở nơi nào hiện diện chủ nghĩa Cộng Sản thì ở nơi đó sự sống bị huỷ hoại. Không còn cần phải chờ nghe phân giải của Lâm Ngữ Đường về hậu quả tất yếu của việc thay đổi các quy luật diễn hoá tự nhiên như Marx hô hào hay chờ nghe phân giải về tính phi lý của chủ trương đấu tranh giai cấp đặt con người vô sản thành mục tiêu phụng sự thay thế cho con người.

Thực tế đã khẳng định bằng những tai hoạ mà chủ nghĩa Cộng Sản mang lại cho con người khắp thế giới từ cuộc Cách Mạng Vô Sản 1917 tới nay. Cho nên tố giác Cộng Sản hay phân trần về lý do trở thành công cụ đều vô nghĩa. Thực tế đã làm xong việc đó và đang khẩn thiết kêu gọi hành động vượt thoát mọi di họa mà Cộng Sản đã gieo rắc để đưa cuộc sống trở lại đúng vị thế cuộc sống con người.

Thực tế cũng nói quá rõ về tình trạng bị lường gạt bi thảm của người dân Việt Nam suốt đoạn đường lịch sử mở ra từ mùa Thu 1945 để tới nay vẫn dãy dụa trong ngõ cụt. Một thiểu số giành được quyền lực còn cố giữ quyền lực bằng cách ôm chặt cái chủ thuyết nồng nặc mùi xác chết, và những người đang biện bạch về hành vi dối trá từng làm trong quá khứ vẫn chưa từ bỏ vai trò công cụ lường gạt của mình.

Một chọn lựa cần có chưa hề xẩy ra, một đáp ứng đúng mong mỏi vẫn gần như vắng bặt.

Khi ghi lại nỗi đau riêng của bản thân qua cuộc sống cá nhân nhỏ bé, Tô Hải đã góp thêm chứng tích vào cái kho thực tế đang kêu gào thức tỉnh về một thái độ từng có và vẫn đang có để vùi dập con người giữa vô vàn tai ách. Bởi thái độ mà những Bertrand Russel, những Jean Paul Sartre bày tỏ từ nửa thế kỷ trước đây –– và chính Sartre đã từ bỏ — vẫn phổ biến trên đất nước Việt Nam .

Mù quáng và hèn mạt do những động cơ cá nhân tiếp tục là thực tế duy trì nhịp đập của những con tim ác thú. Không còn là tiếng than của một cá nhân cho chỉ riêng bản thân khi những lời này được cất lên:

“Tinh hoa đất nước giờ đâu tá?
Ai cũng hèn như tôi sao?…

Ai sẽ đưa con thuyền Việt Nam khỏi con đường vô định này, nếu những người hèn vẫn không dám nhận là mình hèn, không kiên quyết giã từ cái ngu dại, không lên án những gì mà mình làm tưởng là “vinh quang rực sáng” lại chính là “tội lỗi ngút trời”, không biết khuyên nhủ con cái chớ có dẫm vào vết chân đầy máu và nước mắt mà mình đã đi qua…

Phải kiên quyết giã từ cái quá khứ đầy vinh quang vô ích của mình. Chỉ có sự giác ngộ chính trị cuối cùng này mới giải toả được mọi nỗi đau.

Sự “trở cờ”, “phản bội” để “đi tìm một sự trung thành mới” như Jean Paul Sartre nói không ai dám làm ư? Vì còn… sĩ diện! Vì còn bị quá khứ níu kéo?

Bỏ một thứ tà đạo, một niềm tin mù quáng, vứt vào sọt rác cái chiêu bài hoen rỉ, mốc meo, chẳng khác gì ly dị một con vợ độc ác, chẳng yêu gì mình khó lắm sao? Sao rất ít “thức giả” dám tuyên bố công khai: “Tôi từ bỏ chủ nghĩa cộng sản?” (HKCMTH – tr. 411)

Sợ để tồn tại

Những lớp lớp cá nhân Tô Hải qua Hồi Ký Của Một Thằng Hèn dù có đáng thương mức nào, đáng tội nghiệp tới đâu thì cảm xúc xót thương, tội nghiệp dành cho họ sẽ hoàn toàn vô ích. Bởi nỗi đau mà Tô Hải gánh chịu không phải nỗi đau riêng của Tô Hải, không phải hậu quả chỉ đến với một cá nhân do những chọn lựa của bản thân mà chính là một nét thực tế biểu hiện cái thân phận oan khiên mà dân tộc Việt Nam đang gánh chịu. Thực tế này khiến nỗi đau tăng gấp ngàn vạn lần so với nỗi đau bị dập vùi, khi không thể chối cãi rằng cái thân phận oan khiên kia sở dĩ đã có chỉ do cái HÈN và NGU của nhiều thế hệ.

Diễn trình lịch sử từng cho thấy hàng loạt dân tộc lâm vào những đoạn đường trở thành nô lệ, bị buộc phải mang thân phận tôi đòi với cuộc sống súc vật để dấy lên nhiều cảm xúc xót thương, chia xẻ. Nhưng không vì thế mà bài bác nổi thái độ miệt thị những kẻ vì mưu cầu, ham muốn sẵn sàng quỳ gối trước bả lợi danh, sẵn sàng nói không thành có để giúp hoàn tất một ý đồ lường gạt, nhất là tự mãn về những thủ đoạt của bản thân bất kể do đó đã gieo tai rắc họa cho đồng loại.

Con người đáng được thương cảm khi thất thế cùng đường bị dồn vào cảnh sống tối tăm, nhưng phải bị nguyền rủa, coi khinh khi tự nguyện khoanh tay cúi đầu bước vào cảnh sống tối tăm đó. Cảm giác nhức nhối mà những dòng tự sỉ mạ của Tô Hải khơi lên nơi người đọc chính là cảm giác này khi đối chiếu với giai đoạn lịch sử mở ra cho đất nước Việt Nam từ giữa thế kỷ trước.

Cái NGU đã mở đường xâm nhập cho một tà thuyết trong khi cái HÈN đã giúp tà thuyết đó mặc tình thao túng và vẫn vạch đường chỉ lối buộc cả dân tộc phải noi theo đến giờ này. Thực tế không thể phủ nhận là không riêng cá nhân này hay cá nhân khác lâm cảnh trầm luân, tủi nhục mà là toàn thể dân tộc đã rơi vào một ngõ cụt thảm thương do cái lỗi lầm HÈN, NGU mà nhiều thế hệ đã mắc.

Cho nên thay vì bày tỏ cảm giác tội nghiệp xót thương cho cá nhân này hay cá nhân khác, cần nhìn thẳng vào nỗi nhục tự biến mình thành công cụ tôi đòi, nỗi nhục vận dụng tới tận cùng khả năng trí óc để ngụy biện cho sự tình nguyện khom lưng uốn gối là thức thời — theo kiểu Nguyễn Tuân với câu nói từng được lập lại “phải biết sợ để tồn tại.”

Vì bất kể lý do nào, việc tránh né nhìn thẳng vào các nỗi nhục này chỉ kéo dài thêm thời gian giam hãm đất nước trong ngõ cụt để sẽ biến nhiều thế hệ tiếp nối thành những đàn lũ súc vật…
Bởi hiểm hoạ chôn vùi cuộc sống lúc nào cũng đầy rẫy nhưng nặng nề hơn hết luôn là động lực NGU, HÈN sẵn có nơi mỗi con người.

Tấn thảm kịch diệt chủng Campuchia thời gian 1975-1979 chính là lời khẳng định về tác hại kinh hoàng của các động lực này. Cái tên Pol Pot tới nay luôn gợi sự ghê tởm, nhưng vẫn phải công bằng nhìn nhận ý hướng phụng sự xã hội của Saloth Sar khi còn là một sinh viên trường EFR — École Francaise de Radioélectricité — tại Paris thuở 1949-1953. Thiếu ý hướng này, Saloth Sar sẽ không gia nhập đảng Cộng Sản Pháp, không thể nghĩ đến giai cấp đấu tranh và mơ tưởng về một xã hội cộng sản trong sáng, coi hết thẩy người sống tại thành thị đều là kẻ thù cần tiêu diệt theo chủ trương đã công khai phổ biến là chỉ cần giữ lại một phần ba dân số.
Vì thế năm 1975, khi đổi tên thành Pol Pot và nắm chính quyền, Saloth Sar đã tức khắc tiến hành cuộc diệt chủng tàn khốc với đối tượng không chỉ là thị dân mà là mọi giới tu sĩ, trí thức… Tiêu chuẩn trở thành tử tội đơn giản tới mức ngoài tính thành phần xã hội, chỉ cần đeo kiếng hoặc có bệnh là đủ để đem ra rút lưỡi hoặc dùng búa đập vỡ sọ, bất kể già nua hay trẻ nít.

Theo Pol Pot, đời sống chỉ tốt lành khi con người tham gia sản xuất nên kẻ bệnh hoạn, tật nguyền hoặc bất thường như mắt phải nhờ kiếng mới nhìn rõ… đều thiếu điều kiện tham gia sản xuất nên là thứ ký sinh cần loại trừ.

Hai triệu mạng sống đã bị huỷ hoại do cái chủ trương man rợ điên cuồng này và không thể nói khác về nguồn gốc của nó ngoài động lực NGU và HÈN.

Ngu tối đã khiến lao đầu xuống đáy vực mà vẫn tự hào đang nhàn tản dạo mát giữa đồng xanh, trong khi rũ liệt dưới sức khống chế của hèn mạt thì không thể đón chờ tương lai nào khác ngoài sự tự biến thành con mồi cho mọi dã tâm xâu xé.

Con đường ngu tối mà Pol Pot mở ra trên đất Campuchia chính là con đường đã mở ra cho đất nước Việt Nam từ giữa thế kỷ trước, và tình trạng rũ liệt trong vòng vây hèn mạt không còn là điều ngờ vực.

Chủ trương xây dựng “Xã Hội Cộng Sản Nông Thôn Trong Sáng” chỉ là sự lập lại những chủ trương Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Thương Nghiệp và nhiều chủ trương khác của Cộng Sản Việt Nam với điểm khác biệt duy nhất là không cần che đậy bằng hình thức pháp luật vô pháp luật.
Số nạn nhân bị cướp đoạt mạng sống tại Việt Nam nếu tính từ năm 1945 chắc chắn gấp bốn, năm lần số nạn nhân tại Campuchia.

Giữa hai vùng đất đau thương này chỉ Campuchia có thể đang khởi đầu trở lại đoạn đường phục hồi sự sống còn Việt Nam vẫn nằm trong ngõ cụt giữa những bức tường NGU – HÈN sừng sững khắp nơi.

* * *

Những trang cuối hồi ký của Tô Hải kể lại chọn lựa cuối cùng của hoạ sĩ Dương Bích Liên năm 1988.

Họa Sĩ DƯƠNG BÍCH LIÊN

Dương Bích Liên quyết định rời khỏi đảng Cộng Sản mà ông tham gia từ 40 năm trước, rồi đốt tất cả tác phẩm và tuyệt thực cho đến chết. Bên cạnh xác của ông chỉ còn duy nhất một bức chân dung tự họa chưa hoàn tất với cái tên Ngõ Cụt.

Chọn lựa của Dương Bích Liên là chọn lựa của hàng loạt người Nga vào thời điểm 1991-1992, sau khi chế độ Cộng Sản Nga sụp đổ từng được nữ ký giả Svetlana Alexievitch ghi lại trong tác phẩm Ensorcelés par la mort. Chứng tích từ những người tự tử sưu tập được cho thấy tất cả đều không chịu đựng nổi nỗi dằn vặt đã vì ngu hèn tự biến thành công cụ bị lường gạt, bị sai phái và bị hành hạ. Một sinh viên vừa hoàn thành bản luận án tiến sĩ về chủ nghĩa Marx đã lao khỏi cửa sổ từ tầng lầu 11. Bản luận án còn lưu lại cho thấy mỗi trang đều bị gạch chéo với những chữ lớn viết bằng mực đỏ: Lừa gạt, khoác lác, xảo trá…

Tuy cùng chọn cái chết nhưng nỗi đau của những người này không nặng nề như nỗi đau của Dương Bích Liên. Bởi Dương Bích Liên không chỉ đối diện riêng với cảm giác hổ nhục vì ngu hèn của bản thân mà còn đối diện với tương lai mù mịt của đất nước. Anh sinh viên Ivan Ivachovest có thể hoàn toàn thanh thản khi phóng qua khung cửa sổ tầng lầu 11 vì cái thời của những lời lẽ lường gạt trên đất nước Nga đang lùi vào dĩ vãng và cái chết chắc chắn sẽ chấm dứt nỗi hổ nhục vì ngu hèn của bản thân anh. Với Dương Bích Liên, suốt thời gian dài dặc hành hạ thân xác bằng quyết định tuyệt thực vẫn phải từng giây đối mặt với cảm giác tuyệt vọng vì cảnh ngộ đất nước nằm trong ngõ cụt. Cảm giác này không hề thay đổi hay giảm sút cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vì vây quanh vẫn là những bức vách Ngu Hèn cao ngất. Đến lúc này những bức vách vẫn hiển hiện để thúc đẩy tâm trạng dày vò tự sỉ mạ, tự lăng nhục chua xót “cái Hèn vẫn bao trùm nhiều khía cạnh, nhiều trang đời, nhiều suy nghĩ của tôi…” — như Tô Hải đã ghi lại.

* * * * *

Tự nhiên, tôi bỗng nhớ tới khung cảnh kinh thành La Mã bốc cháy trong tác phẩm Quo Vadis của Henryk Sienkiewicz và thấy những trùng hợp kỳ lạ với hiện trạng Việt Nam.

Giữa thập niên 60 của thế kỷ công nguyên đầu tiên ấy, những người nghèo khó La Mã hướng về ngọn đuốc sáng Yêu Thương đã bị nhìn như kẻ tử thù bởi triều đình của một bạo chúa.

Gần như không có cách biệt khi so sánh thân phận những người nghèo khó ấy với 80 triệu con dân Việt Nam hiện nay.. Cũng tương tự, nếu so sánh tập đoàn lãnh đạo Việt Nam với triều đình Neron thuở đó.

Neron luôn ngùn ngụt tham vọng biến mình thành kẻ vĩ đại bậc nhất trên mặt địa cầu tới mức thản nhiên hạ sát cả vợ, cả mẹ để giảm bớt cản trở trong nếp sống xa hoa tàn bạo.. Con người phi nhân tới mức đó lại được một đám cận thần tung hô, tôn xưng như thần thánh và sẵn sàng tuân theo mọi lệnh chỉ. Vì thế, khi Neron muốn tìm cảm hứng nhìn lửa cháy để tạo một tác phẩm nghệ thuật mà y tin sẽ vượt xa các tác phẩm lẫy lừng Illiade và Odyssée, đám cận thần đã dâng sáng kiến hoả thiêu La Mã. Toàn bộ kinh thành bốc cháy khơi dậy sự giận dữ trong quần chúng, sự giận dữ mà Neron và đám cận thần không ngờ tới. Kế sách đối phó được đề ra là lập tức rao truyền chính đám người nghèo khó theo chúa Jesus đã nổi lửa và cái triều đình ác thú ấy ban lệnh “ném ngay lũ Thiên Chúa Giáo cho sư tử.”

Cơn uất hận vì cơ ngơi bị huỷ hoại, người thân bị chết thảm đã khiến từng đám đông cuồng nộ trở thành hung thú lao vào tàn sát những kẻ cũng là nạn nhân như mình theo lệnh truyền của chính các thủ phạm gây tội ác. Đây đúng là cảnh đã kéo dài trên đất nước Việt Nam từ 1945 qua mọi biến cố do chỉ hai động lực Ngu – Hèn. Cái Ngu đã khiến nhiều thế hệ lao vào xâu xé lẫn nhau bởi không nhận chân nổi thủ đoạn lường gạt của một bạo chúa, đồng thời cái Hèn đã liên tục tạo thêm sức mạnh cho bạo chúa mặc tình thao túng. Ai cũng dễ dàng nhận thấy nếu không có những Tigellinus và đội ngự lâm quân, không có những Chilon Chilonides … thì dù Neron có ba đầu sáu tay cũng không thể gieo tai rắc hoạ, không thể chỉ một giây phút phù du thiêu hủy cả một kinh thành…

Chilon Chilonides

Khác biệt giữa hai thảm cảnh La Mã thuở nào và Việt Nam hiện nay là La Mã có sự hiện diện của thằng hèn Chilon Chilonides. Thằng hèn Chilon đã nhúng tay vào đủ thứ nhơ nhuốc, bạo ngược để được trở thành cận thần của bạo chúa. Thằng hèn Chilon cũng là kẻ đi ban bố lệnh truyền “ném bọn Thiên Chúa Giáo cho sư tử”. Nhưng, chính thằng hèn Chilon đã đứng thẳng, vươn tay chỉ vào giữa mặt Neron, cáo giác kẻ chủ mưu đích thực vụ đốt phá kinh thành là ai.

Một thời tôi đã bị cuốn hút tới mức đọc đi đọc lại nhiều lần hai chương Quo Vadis nói về giây phút cuối cùng của thằng hèn Chilon Chilonides — một chương chấm dứt với sự thản nhiên trước cực hình rút lưỡi để được đứng bên đám người nghèo khó vẫn giữ vững nhịp con tim chan chứa tình người và một chương chấm dứt với nụ cười mãn nguyện cùng những dòng nước mắt đón nhận niềm vui của nạn nhân vào giây phút lìa đời.

Nhưng vượt lên trên hết vẫn là hình ảnh thằng hèn Chilon đứng thẳng, vươn tay chỉ vào giữa mặt bạo chúa, hình ảnh ghi lại bước khởi đầu sự cáo chung của một triều đại man rợ ghê tởm để những con tim của đám người nghèo khó La Mã đang bị treo trên thập tự giá, bị quăng vào móng vuốt ác thú, bị moi gan rút lưỡi… tiếp tục gửi tình Yêu Thương tới khắp năm châu.

Ý nghĩ cuối cùng dấy lên từ những trang “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” lại là sự trở về với một thằng hèn trong hình ảnh một ước mơ.

Mong sao sớm xuất hiện tại Việt Nam những thằng hèn Chilon Chilonides!

Virginia, March 09, 2009

UYÊN THAO

** * * * * * * * * * * * * * * * *

Tiểu sử cực thiệt thà
(do chính nhạc sĩ Tô Hải viết ngày 24 tháng 8, 2007)

Hôm nay tớ xuýt đứt hơi, xụn lưng vì nhạc Rap, vì cô “phò-ren” (friend) Ho (?) dọa đến học làm rap-pơ. Tớ quá lo lòi cái dốt ông già. Nên vội vã mang sáng tác ra thực nghiệm! Ai ngờ đâu bịa nó ra là một chuyện. Còn thực hành nó mới khó làm sao. Quả rap-pơ phải vất vả biết bao. Vừa phải hát, vừa phải lộn, phải nhào… Không có sức chỉ có mà … củ tỏi! Thế mới biết vì sao Rap nổi trội: Một bé Kim bỗng sáng chói bầu trời. Được tán dương trên báo chí, trên Đài. Môt thần tượng của các phăng (tê) âm nhạt (à quên âm nhạc). Thôi thì đã định nổi danh bằng Rap, Tớ cũng liều, nhưng chỉ viết mà thôi! Lấy Tình Yêu, Hôn Hít… làm đề tài. Thề đến chết không dám làm ráp sỹ. Biết đâu đấy sẽ có người để ý, lấy vài bài trên blốc tớ hát chơi. Và biết đâu có nhà báo, nhà đài…tung lên sóng, lên khuôn thì thật.. tuyệt! Bạn thấy đấy, hôm nay dù không viết Rap số 3 nhưng quen viết có vần. Nghề viết Rap tớ đã bị nhập tâm. Nên tiểu sử tớ cũng thành bài…Rắp!

Tiểu sử tớ rất chi là “phức tạp”. Chỉ xin khai tóm tắt một vài dòng. Còn các bạn trẻ có tin hay không, Thì già này cũng đành lòng cam chịu!…

Tớ sinh ra tháng 9 năm Đinh Mão. Tính đến nay (81 tuổi ta.)! Sự học hành rất thiếu thốn, qua loa. Vì Đế Quốc chỉ cho học vừa đủ. Một cái bằng ông tú chưa hoàn thành (tú tài 2 chưa có!) Có nghĩa là bằng trình độ học sinh Lớp 11, nên tớ dốt hoàn dốt. Không những thế tớ cả đời bị nhốt: trong trường sơ (soeur), trường đạo, trường giòng. Ở gia đình tớ lại bị cấm cung. Cấm đủ thứ, trừ việc đi học nhạc… Đủ các món nào xướng âm, hòa thanh, sáng tác…Tớ chán quá nên bỏ ngang tìm đọc, đủ thứ văn chương, triết học hầm bà làng… Từ Von-te, Ban Dăc, đến Sa-Găng. Nên ảnh hưởng đủ thứ ba lăng nhăng trong đầu óc.
Gia đình tớ, một gia đình công chức. Suốt cả đời hầu ngoại quốc kiếm ăn…
Nên sau này từ cách mạng 45, được xếp loại là gia đình theo “Địch” ! Cá nhân tớ sau này trong lý lịch: Ghi thành phần “tiểu tư sản” rất to.

Có nghĩa là luôn chao đảo, mơ hồ, kém “lập trường” dù đã bỏ nhà theo cách mạng! Dù đã được kết nạp Đảng rất sớm! Dù có vài trăm sáng tác đựoc khen.
Tớ sống được vượt qua nhiều thành kiến. Nhờ làm ăn tử tế, nhờ sáng tác liên miên. “Tuần chay” nào cũng có nuớc mắt đổ liền. Chiến thắng nào chẳng có tên thằng tớ.
Cho đến ngày 30 tháng tư năm đó. Tớ được về Thành phố Bác Hồ… Thì tớ bỗng giật mình rồi nhận ra, coong của mình chính là công con cốc. Cái tên mình chỉ gắn độc môt bài “Nụ cười sơn cước” viết từ thuở 20. Còn tất cả… thế thời đã… xếp só!
Tháng 9 mồng 2, nói chung là “ngày giỗ”. Đựợc lôi ra để “cúng cụ” mà thôi. Chiến tranh qua đi, Nhạc của tớ hết thời.. Tuổi của tớ 60 không còn kịp “cưa sừng làm nghé”. Gặp thời thế, thế thời phải thế. Tớ xoay sang nghề dịch sách kiếm ăn… Sách tớ dịch sáu cuốn in chạy ầm ầm. Tớ sống khỏe cho đến ngày… hưu trí.
Về âm nhạc? Vì còn là nhạc sỹ, một vài năm tớ xuất hiện vài lần… Công xéc tô, sô nát theo com-măng… Mong vực dậy nhạc thính phòng, giao hưởng. Nhưng tiếc thay, tất cả là ảo tưởng. Vì thời nay có lẩm cẩm có điên khùng. Mới vùi đầu trong tổng phổ suốt năm để viết ra những thứ chẳng ai nghe ai dựng! Thế là tớ im re,tớ chịu đựng. Kiếp sống nghèo nhờ vợ bán bánh mỳ. Thêm vào lương hưu trí cứ teo đi…Tớ quyết tâm ẩn danh cho đến chết.
Nào ai ngờ gặp thời Internet. Tớ tiêu sầu bằng các trang web đủ mầu! Đang chán phè các câu truyện đâu đâu trên Niu uých, trên Lơ poăng, trên Lô-xờ-ăng gơ lét…Thì gặp ngay một ông cụ blốc blếc. “Bạn đánh nhau” của tớ từ khi xưa. Tớ quyết định phen này làm blôc-gơ.
Mong giúp đỡ lớp trẻ bằng lý thuyết, bằng thực hành, bằng kinh nghiệm, cuộc đời. Và trước mắt tớ chú trọng đề tài vào nhạc rap, đang là nhạc thời thượng. Tiểu sử tớ viết ra mà phát… ngượng. Nhưng cũng xin lớp trẻ hãy luợng tình…
Tin? Không tin? Tùy mạng mỡ của mình. Muốn biết thêm xin cứ đến building Miếu Nổi hỏi thăm tớ chính danh là Tô Hải./.

**************
Lại Cái Chuyện Nụ Cười Sơn Cước
Tô Hải

Hôm nay, ngồi vào computer thấy mất tiêu đâu bài hát này, phục hồi lại để người nghe bản chính gốc thì lại mất tiêu đâu môt phần chính của bản thuyết minh. Đành viết lại có bổ xung thêm một số đau khổ mới khi vào Google gõ cái tên tớ và tên bài hát đó.. vì những bài tán láo về nó.
Rằng thì là: 1-Tớ cầm ghi ta hát lên (chứ không phải “viết lên” như cô bé Kim -rap-pơ tuyên bố viết (?) nhạc rap trên Tinhvi đâu?) Cái ngày đông rét mướt năm đó Tây nó đánh dữ dội lắm… Bộ Tư Lệnh III mà tớ làm “lính kiểng” lúc đó phải rút vào tận Kim Bôi (Hòa Bình). Tớ đóng quân trong nhà một cô con gái có tên Đinh thị Phẩm, 24 tuổi đời. Thích thì có thích nhưng chưa biết “tán gái” mà chỉ biết làm thơ, làm vài câu thơ rồi ngâm nó lên theo kiểu riêng của tớ gọi là ca khúc (như các cụ ngày xưa khi hát “Chèo lên trên núi thiên thai…”ấy mà.) Thế là, trước khi rời rừng núi về học Lục Quân Trần Quốc Tuấn tớ muốn nói lên mối “tình câm” của mình bằng … vài câu thơ có giai điệu … Thế thôi! Như tớ đã viết trong bài “Khai lý lịch thật thà” trên blog, tớ là một kẻ đã bị tiêm nhiễm từ bé bởi những bài ca ở trường sơ, trường giòng, rồi sau này, làm “sói con (“louveteau), “hướng đạo” (scout) bị các thứ âm nhạc đủ loại nó ăn sâu vào đầu óc, vào trái tim. Tớ hát và thuộc lòng đủ thứ, từ a capella nhà thờ “Gloria in excelsis đê..ê,ề…ồ”, đến “Laissez moi vous aimer”, “Oh! Rose Marie I love you!” “But where are you?” rồi đến đến cả “Maréchal nous voilà” (thời chính phủ Vichy) sau đó là Aikoku”,”Shina no yoru” (thời Nhật lật Pháp). Nghĩa là tớ hát tất cả, thích đủ thứ âm nhạc chứ chẳng bao giờ chú ý đến cái “nhời” nó nói cái quái gì. Tóm lại tớ là một thanh niên yêu nước, ghét Tây, mê âm nhạc (mélomane)”…không có định hướng! Cho nên, sau này, đi lính, bí bài hát cho bộ đội nghe, tớ cứ “bịa”ra đủ thứ ca khúc, rập khuôn theo các bài hát đã hát để tự hát, tự xuất bản bằng mồm. Sáng tác của tớ đều ảnh hưởng của Nhà thờ, của Tây, của Nhật và đặc biệt của Mỹ với Bing Crosby, Bob Hope,.. với các nhịp điệu, tiết tấu của swing,blues … rất thịnh hành những năm 40. Tớ với Ngọc Bích là “vua swing”ở sư đoàn 304 và Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn… Chẳng có biết dân tộc, hiên đại là cái quái gi! Ấy vậy mà bài nào mới “bịa” ra cũng được “quân chúng” hoan nghênh ra phết! Những lần xúc cảm về chuyện gì tớ đều “bịa” ra những “câu thơ có giai điệu”, nhưng theo một khuôn khổ, hình thức nhất định mà tớ nhặt nhạnh được trong quá trình hát lên cho mình, cho bạn bè, đồng đội nghe…cho vui. Thế thôi!
Nào ngờ…”Nụ cười sơn cước” lại được hoan nghênh đến thế và Ngọc Bích, Canh Thân, Hoàng Thi Thơ.. khi trút áo “lính cụ Hồ”, thôi làm “đồng chí”, đã mang nó vô thành (dân gian gọi là “dinh-tê”) phổ biến khắp nơi. Để cho nó được chấp nhận bởi các cơ quan kiểm duyệt, họ xếp tớ vào loại tác giả tiền chiến! Và từ đó “Nụ cười sơn cước”, một trong những “tình ca thời kháng chiến” của bọn tớ sống nhờ cái mác nhạc tiền chiến đến ngày nay! Lại còn cái chuyện “địch” thu đĩa 78 vòng (chung với “Dư âm”của Nguyễn văn Tý) nữa chứ! Tớ bị “đánh hội đồng” khắp nơi, nhất là tiền bản quyền thu đĩa (đúng một chỉ vàng) được gửi từ trong thành ra lại rơi vào đúng tay một CUV cùng chi bộ, “đông chí” (nhưng không đồng hướng) đã nhận được từ tay bà chị hắn chuyên làm kinh tài cho khu ủy Liên khu III, ra vào Thành như đi chợ! Tớ không mang tội “liên hệ với địch” là nhờ có hàng trăm “bức tranh cổ động bằng âm thanh” động viên lính chiến đấu trường kỳ có hiệu quả! Từ đó một loạt bài “thiếu tính chiến đấu”của tớ (sau này có được thu thanh trong cuốn băng cát-xét “Nửa trái tim tôi” mà tớ đã chuyển sang CD nhưng chưa biết cách làm thế nào để các friends nghe thử ???) đều bị cấm bằng mồm, mặc dầu các tướng, tá lớn, bé trong Quân Đội vẫn nhớ tớ với những bài hát đã làm các vị ấy xúc động một thời. (Tháng 5/007 vừa qua, có một ông tướng mê nhạc của tớ, trước lúc qua đời, có thu thanh 3 bài của tớ trong một đĩa VCD, và dặn lại rằng “Thôi Nụ cười…” vì cần giới thiệu những cái “cấm” khác hơn – Ông tướng này chỉ lên có đến Thiếu thôi, có lẽ vì cái “lập trường văn nghệ” của ông ta thiếu …vững vàng chăng? (VCD này tớ đang giữ nhưng cũng “ngu lâu” về computer nên chả biết làm sao để các friends nghe và xem đươc! Có ai đến giúp được tớ không?)
Trở lại với “Nụ cười sơn cước” Nó ra đời như thế đó. Tình thì có, nhưng mà là tình câm, tình nhát (vì sợ kỷ luật) đã có gì đâu mà nhiều người viết về bài hát này cứ thêu dệt ra lắm chuyện, thậm chí còn đặt cả những cái tên Lò thị nọ, NôngThị kia ra rồi thay cả địa điểm, nơi sinh, ngày sinh của nó nữa mới khổ tớ chứ! Làm bà xã cứ trách tớ”: “Có thế mà anh cứ giấu em!” Tớ định kiện báo vì “vi phạm luật báo chí “xâm phạm đến đời tư không được phép” của tớ mấy lần. Nhưng đọc đi, đọc lại thì thấy: họ đều xuất phát từ tình yêu đối với một sáng tác của tớ đã bao năm tưởng chết nay lại hồi sinh, từ tình yêu đối với tớ. Đặc biệt có nhiều đồng đội cũ, nay về già, nghĩ về quá khứ tươi đẹp đã qua, đã viết về “Nụ cười sơn cước” như để tranh thủ viết về một thời một thanh xuân đẹp nhất của chúng tớ mà thôi. Vì vậy tớ lại lặng im … (trừ một lần tớ lên tiếng phản đối và được xin lỗi và cải chính trên báo An Ninh Thế Giới do quá nhiều điều bịa đặt không có lợi cho gia đình (cũ và mới) của tớ mà thôi).
Tuy nhiên cái “sự tam sao thất bản” thì kiện ai? Hội Nhạc Sỹ VN, rất nhiều Nhà Xuất Bản đã công bố bản chinh thức của tớ trên các “Tuyển tập ca khúc trữ tinh”…”Ca khúc vượt thời gian”… đăng đi, đăng lại trên báo chí… Vậy mà, các ca sỹ thời nay vẫn không chịu hát theo bản nhạc của tác giả! Trừ 2 người là Lê Dung và Đông Đào. Còn trên Tivi, trong các tiệm cà phê-ca nhạc, họ tha hồ “phiêu”bất tử, ngắt câu, ngắt đoạn tùy thích, nhất là bôi mỡ, đánh bóng các nốt nhạc nghe đến rợn người (Ánh Tuyết). Ngay trong câu “Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời…” của tớ, bà Lê Dung vẫn còn “nhịu”ra “mơ” (?) hơn ở ngoài trời”.. nữa là! Huống hồ những vị ca sỹ không biết xướng âm thì làm sao sửa được những gì đã trót hát sai qua bản… truyền khẩu. Tớ chán quá nhưng lại nghĩ: Ôi dào! thời buổi này họ nhắc đến tên mấy ông nhạc sỹ già đã là may lắm rồi! Cứ kênh kiệu mãi chúng nó cho cả tác phẩm lẫn người vào sọt rác lịch sử như đã từng cho cả hàng ngàn bài ca ra đời cái thời “Tiếng hát át tiếng bom” cho biết mặt! Thua! Thua! Xin chào thua!

Tiện đây xin post lên bài báo của Thanh Niên tương đối chính xác vì có sự thông qua của “khổ chủ”:

Nhạc sĩ Tô Hải với hồi ức buồn Nụ cười sơn cước
28/05/2007 – Hà Đình Nguyên

Nhân dịp đến dự lễ trao tặng xe lăn các tướng lĩnh và cán bộ có công do Báo Quân Đội Nhân Dân tổ chức, tôi thật sự xúc động khi thấy một ông già quân phục chỉnh tề, huân chương đỏ ngực, chống gậy lập cập lên nhận xe. Đó chính là nhạc sĩ Tô Hải, tác giả ca khúc nổi tiếng một thời” Nụ cười sơn cước”… Sau buổi đó, tôi đã đến gặp ông tại nhà riêng.
Nhà của ông là căn hộ tập thể tận tầng lầu thứ 11 của chung cư Miếu Nổi (Q.Bình Thạnh – TP.HCM). 81 tuổi, đi đứng khó khăn do từng bị hoại tử khớp xương hông phải thay xương chậu, xương đùi bằng chất liệu titan do Pháp chữa trị… vì những lý do đó nên nhạc sĩ Tô Hải rất ít xuất hiện nơi này, nơi nọ.

Thế nhưng, dù không đi đâu ông lại biết rất nhiều những sự kiện đang diễn ra trên toàn cầu. Với khả năng thông thạo 3 ngoại ngữ, mỗi ngày ông dành từ 10 đến 12 tiếng để đọc tin tức trên internet. Cô Lâm Ái, vợ ông, khoe: “Chỉ một mình anh ấy đọc nhưng sau bữa cơm trưa hoặc tối là tôi và con gái Tô Lâm Phượng (sinh năm 1993) đều biết hết mọi chuyện xảy ra trên thế giới…”.

*Thế ông không còn cảm hứng để viết nhạc?
– Đã hơn 20 năm nay tôi không còn làm âm nhạc, vì âm nhạc của lứa chúng tôi không còn đất sống. Thời buổi bây giờ chẳng ai sử dụng ca khúc của lớp già chúng tôi: Chu Minh, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Hồ Bắc, Doãn Nho… trừ những ngày lễ lạt gì đó họ mới hát lại! Bọn chúng tôi trở nên lạc lõng, hỏi tên chẳng ai biết. Thôi thì, tự an ủi là bọn tôi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với một thời kỳ lịch sử.

* Ông đến với âm nhạc từ lúc nào?
– Thời tiểu học, tôi học hát và tham gia ban đồng ca Saint Joseph, từng đoạt giải thưởng âm nhạc Chim Sơn Ca của Hướng đạo sinh toàn Đông Dương. Đang học dở tú tài 2 thì tôi nhập ngũ ngày 19.8.1945. Tôi viết ca khúc đầu tay “Trở về đô thành” (1946) rồi “Nụ cười sơn cước” (1947) đều do bản năng và mê nhạc mà thành. Tôi luôn tự cho mình là một người lính làm nhạc cho mình, cho đồng đội mình hát.
Chỉ đến năm 1951, khi về Đoàn văn công Khu 4, tôi có dịp gặp nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Được ông động viên khuyến khích, tôi thấy tự tin hơn để chuyên tâm vào sự nghiệp âm nhạc. Khi hòa bình lập lại, tôi được tham dự lớp sáng tác 18 tháng đầu tiên của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (1957-1958) do các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên dạy. Cùng lớp với tôi có các nhạc sĩ: Trọng Loan, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Lưu Cầu, Vũ Trọng Hối, Lương Ngọc Trác, Văn Chung, Nguyên Nhung, Vân Đông…
Năm 1958, tôi là người đầu tiên viết bản giao hưởng đại hợp xướng gồm 4 phần (thể loại cantale) “Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy”. Dạo ấy, ở nước mình làm gì có trống định âm (Timpani), hạc cầm… nhưng tôi vẫn cứ viết. Bản giao hưởng này được biểu diễn năm 1959 và được hàng loạt giải thưởng. Có lẽ vì thế mà trong Bách khoa từ điển của Pháp (Encyclopédie de la Musique) xuất bản năm 1960 có tên tôi, họ ghi là “nhà soạn nhạc” (compositeur) cùng với 11 người viết ca khúc (chansonnier) thời ấy…

* Ca khúc Nụ cười sơn cước đã được ông sáng tác trong hoàn cảnh nào? Và “Ai về sau dãy núi Kim Bôi…” là ở đâu vậy?
– Kim Bôi là một dãy núi thuộc tỉnh Hòa Bình. Dạo đó đơn vị tôi ở nhờ một làng dân tộc Mường. Tôi được ở trong một gia đình có cô con gái rất đẹp, nàng tên là Phẩm. Cũng chỉ là “để ý” thầm vậy thôi! Khi đơn vị tôi chuyển quân, với tình cảm lưu luyến hết sức chân thành tôi đã: “hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh !” và chuyển những tình cảm này thành ca khúc, ca ngợi chung những bông hoa rừng mà tôi đã từng gặp.

* Sau này có bao giờ ông gặp lại nàng “sơn nữ” này?
– Có, và đó là nỗi ân hận của tôi. Năm 1973 hay 1974 gì đó tôi có lên Hòa Bình tìm lại “người xưa” dù biết rằng cô ấy đã có chồng con. Sau dãy núi Kim Bôi đã biến thành vùng công nghiệp khai thác suối nước nóng, đường sá mở rộng, người miền xuôi lên ở nhiều. Cô Phẩm ngày xưa giờ đã là một thiếu phụ luống tuổi, ăn mặc theo kiểu người Kinh và… chẳng biết tôi là ai cả ! Nhắc lại chỉ thêm buồn… Biết vậy, cứ hãy sống với kỷ niệm xưa.

* Đã ở bên kia ngưỡng tuổi 80. Nhìn lại hơn 60 năm hoạt động nghệ thuật, ông có điều gì muốn tâm sự?
– Phương châm sống của tôi hiện nay là hãy quên đi quá khứ (để khỏi tiếc nuối, kể công với lịch sử), hãy sống với hiện tại (để luôn vui với những gì mình đang có) và đừng nghĩ đến tương lai (để khỏi thấy mình quá già, sắp chết). Tôi có một valy tác phẩm chưa hề sử dụng. Tôi dặn vợ: khi tôi chết hãy vẫn cứ để chiếc valy ở đấy cho đến khi nó có “duyên” tìm được tri kỷ hoặc có ai cần nghiên cứu về cái thời đẹp nhất đã xa xưa của lũ nhạc sĩ già chúng tôi thì cho mượn… Nhược bằng chẳng ai rỗi hơi “tìm về quá khứ” thì con gái tôi (Tô Lâm Phượng – chơi piano tàm tạm) sau này có điều kiện sẽ dựng lại… cho cháu chắt tôi nghe vậy.

Cảm Nghĩ Khi Đọc “Đêm Giữa Ban Ngày” – Uyên Thao

Cảm Nghĩ Khi Đọc “Đêm Giữa Ban Ngày”

Uyên Thao

Đêm giữa ban ngày, hồi ký của Vũ Thư Hiên
do Tủ sách Tiếng Quê Hương (*) tái bản, 2008

Tác phẩm hồi ký Đêm giữa ban ngày ấn hành lần đầu tại California năm 1997 đã trở thành cuốn sách Việt ngữ bán chạy nhất nhiều năm tại hải ngoại, vì tiết lộ nhiều sự việc giấu kín trong hành động và chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tác giả Vũ Thư Hiên không phải đảng viên Cộng Sản nhưng có nhiều năm kề cận bên cạnh Hồ Chí Minh, vì là con của ông Vũ Đình Huỳnh, một đảng viên Cộng Sản từ thập niên 1930 và bí thư của Hồ Chí Minh từ 1945. Ông Vũ Đình Huỳnh chống lại các chủ trương Cải Cách Ruộng Đất, đàn áp trí thức trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm và cho rằng đảng Cộng Sản đã phản bội quyền lợi đất nước nên năm 1967 bị bắt giam.

Lúc đó, Vũ Thư Hiên mới du học từ Nga về, hoạt động trong ngành báo chí và điện ảnh miền Bắc Việt Nam cũng bị bắt giam cùng với cha và nhiều nhân vật Cộng Sản tên tuổi khác cho tới năm 1976.

Sau nhiều năm sống dưới kiềm chế, Vũ Thư Hiên trốn được sang Nga năm 1991 và mấy năm sau trốn qua Ba Lan, rồi qua Pháp. Cuốn hồi ký hoàn thành trong thời gian này được tác giả coi như lời sám hối của chính cha mình vì đã lầm tin theo đảng Cộng Sản bỏ cả cuộc đời đấu tranh cho một mục tiêu biến chính mình và đồng bào thành những nạn nhân bị đày đoạ.

₪₪₪

Cho tới tháng 4, 2003, với tôi, Vũ Thư Hiên chỉ là một cái tên như mọi tên gọi khác. Tôi chưa hề biết gì về người mang tên này, kể cả khi bắt tay nhau lần đầu sau lời giới thiệu của người bạn. Đó là một buổi tối tại San Jose khi chúng tôi cùng có mặt tại nhà bạn tôi.

Ngày đó, tôi vừa thoát khỏi cuộc sống bít bùng tại Sài Gòn nhưng lại phải qua một thời khoảng biệt lập giữa những bức tường bệnh viện tại Virginia. Cơ hội mở rộng tầm nhìn đối với tôi hết sức hạn chế, nhất là để xác định về người và việc ở xung quanh.

Nhưng thật lạ là chỉ sau cái bắt tay, cả hai chúng tôi đều không có thái độ e dè thường có giữa những người xa lạ. Vì thế, mấy ngày sau gặp lại Vũ Thư Hiên tại toà soạn Người Việt ở Nam California, tôi có cảm tưởng gặp lại một người bạn cũ. Dịp này, Vũ Thư Hiên đi cùng một bạn trẻ được giới thiệu vừa từ Ba Lan qua. Cả hai chắc chắn cũng chỉ biết về tôi qua cái tên gọi, nhưng chúng tôi đã quây lại như ba người từng quen biết lâu năm vừa có dịp tái hội. Từ ngày đó, tuy đường ai nấy đi, tôi luôn thấy giữa chúng tôi như có một ràng buộc nào đó.

Cảm giác này khiến tôi thường thắc mắc: Tại sao?

Trên thực tế, giữa chúng tôi là những khoảng cách vời vợi về không gian và càng vời vợi hơn về hướng sống kể từ khi tất cả chưa rời khỏi tuổi trẻ thơ.

Nếu có một tương đồng, tôi chắc không ngoài tâm trạng hồn nhiên của hầu hết lớp tuổi chúng tôi vào thời gian diễn ra cuộc thế chiến thứ hai. Thời đó, dù chưa biết chính trị là gì, thậm chí chưa thể có một ý nghĩ nhỏ nhoi nào về dân tộc, về chủ quyền – vì chỉ là những đứa trẻ mới bước vào các lớp Moyen Un, Moyen Deux, Supérieur tức chưa qua bậc tiểu học – hầu hết chúng tôi đều ghét người Pháp. Nguồn cỗi nào, tác động nào đưa đến tâm trạng này là điều tới nay tôi chưa xác định nổi. Ngay giữa khi bị cuốn hút trong những trò chơi thơ dại, chúng tôi đã ghét người Pháp một cách tự nhiên như ghét các mụ phù thuỷ trong truyện của Perrault, của anh em nhà Grimm hoặc loài ma quái trong cổ tích – một tâm trạng gần như hồn nhiên tự tại.

Tâm-trạng-tương-đồng-nếu-có này chính là động lực đẩy chúng tôi vào các hướng ngược chiều khi tới tuổi trưởng thành.

Nhiều người chọn hàng ngũ kháng Pháp do cộng sản lãnh đạo, nhiều người lại thấy cộng sản là hiểm hoạ cần loại trừ trước khi loại trừ người Pháp. Giữa hai chọn lựa đó là những người xác định cần đương đầu cùng một lúc với cả hai kẻ thù Pháp và cộng sản. Các hướng đi này hiển nhiên không ràng buộc chúng tôi mà đã đặt chúng tôi vào thế đứng thù nghịch.

Thắc mắc về cảm giác ràng buộc còn thêm dấu hỏi vì bên cạnh chúng tôi là người bạn thuộc lớp tuổi không mang chung tâm trạng hồn nhiên của chúng tôi, không hề có quyền chọn lựa – vì chỉ là sản phẩm tất yếu của thời thế.

Qua nhiều thời điểm, tôi đã gặp nhiều câu trả lời.

Năm 2004, ngồi bên lề đường Bà Triệu tại Hà Nội với Kiều Duy Vĩnh và Nguyễn Thiệu Giang, tôi nghe Kiều Duy Vĩnh phát biểu: “Vũ Thư Hiên đúng là nghệ sĩ, lúc nào cũng lao theo những hứng cảm của mình.”

Không lâu sau, tôi nhận được một lời than cho bạn của Bùi Ngọc Tấn sau khi có dịp nhìn rõ cảnh sống của Vũ Thư Hiên trên đất Pháp. Theo Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên phải chấp nhận quá nhiều mất mát để có thể được làm theo tâm nguyện. Vì nếu ở lại, dù bị ngược đãi cách nào Vũ Thư Hiên chắc chắn vẫn luôn có người thân ở kế bên để tránh khỏi những phút cô đơn câm nín tới hãi hùng. Tuy nhiên, buổi tối cuối năm 2007 bên bờ sông Sài Gòn, Bùi Ngọc Tấn lại xốn xang khi nhắc tới một loạt bạn bè – Mạc Lân, Vũ Bão, Dương Tường … – do nỗi khao khát tự do bị vùi dập tới nghẹn thở.

Vậy, phải chăng chất nghệ sĩ và nỗi khao khát tự do đã ràng buộc chúng tôi?

Những điều này có thể rất gần với thực tế, nhưng không hoàn toàn là thực tế.

Bởi không có gì bảo đảm rằng những điều này không mang cùng tác động của tâm trạng hồn nhiên mà chúng tôi từng có để sẽ đẩy chúng tôi vào những hướng khác biệt. Vả lại, bên cạnh chúng tôi, chưa hẳn người bạn trẻ sẽ đáp ứng trọn vẹn các điều nêu từ những câu trả lời trên. Cuối cùng, tôi chỉ có thể dừng lại với câu trả lời cất lên từ những trang sách của Vũ Thư Hiên.

₪₪₪

Đêm Giữa Ban Ngày, như tác giả ghi, chỉ là “một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án biểu hiện tính điển hình cho nền cai trị của đảng Cộng Sản tại miền Bắc Việt Nam.”

Vụ án đẩy nhiều người vào nhà tù và chính tác giả đã trải 9 năm đày đọa.

Nhưng cả vụ án lẫn cảnh sống lao tù đều không phải chủ điểm của tác phẩm mà “chỉ là cái cớ để nói lên những ghi nhận, những cảm nghĩ về một thể chế xã hội” từng có nhiều thế hệ con dân Việt Nam một thời mơ ước và không ít người đã hy sinh mạng sống trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền đất nước để tạo điều kiện cho nó hiện hình trên thực tế.

Sự từng trải của bản thân và những cảnh ngộ phát hiện từ ngục tù cho thấy thể chế xã hội đó không chỉ có “hành động phi nhân của những vua chúa mới” mà còn “ép buộc con người dù muốn dù không đều phải đánh mất chính mình.”

Khởi từ ý muốn tốt đẹp của những người lương thiện sẵn sàng dâng hiến cả sinh mạng, con đường đấu tranh đã dẫn đến “một thể chế được áp đặt lên mọi số phận người bị tước đoạt mọi quyền lựa chọn để được sống xứng đáng là người.”

Từng trang sách nhắc tôi nhớ về màn kịch bi hài tại trại tù X.15 Sài Gòn vào một ngày đầu năm 1976.

Viên giám thị dắt theo con chó tới trước một phòng biệt giam, ngoắc người tù lại gần, chỉ con chó nói:

– Đây là con voi!

Trước cái nhìn ngỡ ngàng của người tù, anh ta lập lại:

– Đây là con voi! Nghe rõ chưa?

Người tù thắc mắc:

– Nhưng … nó là con chó.

Viên giám thị dõng dạc nhấn mạnh từng lời:

– Tôi là cán bộ cách mạng. Tôi ra lệnh cho anh phải triệt để tuân hành mọi chỉ thị của cách mạng. Anh phải nói nó là con voi. Nói đi! Nó là con voi!
Người tù băn khoăn, cuối cùng, chậm rãi lên tiếng:

– Nó… là con… chó!

Câu nói mà bất kỳ ai cũng không thể nói khác khiến người tù lãnh một trận đòn tới bất tỉnh, cộng thêm hình phạt cùm cả hai chân và cấm không được nói một lời nào để trở thành người câm suốt hai năm 1976-1977.

Màn kịch bi hài từ một góc trại tù khuất lấp tối tăm có thể coi là lời diễn tả rõ ràng và trung thực nhất về mô hình đời sống mà người cộng sản cố tạo dựng để tự hào “hoàn thành sự nghiệp cách mạng!”

Cho nên không có gì ngạc nhiên khi Vũ Thư Hiên coi 9 năm tù như điều “hữu ích cho bản thân… là giã từ được ảo ảnh về một xã hội cộng sản.” Và những lời tự thú không dễ có về chính mình đã cất lên cùng một câu tâm sự nhuốm đầy đau đớn:

– “Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn.”

₪₪₪

Tôi nghĩ về những người mà thân xác đã thành tro bụi.

Từ trong lòng đất lạnh hoặc từ những cõi xa xăm mù mịt, hết thẩy có thoát khỏi nỗi chua xót khi nhìn rõ thân phận tràn ngập oan khiên của đồng loại đã hiện hình một phần do các nỗ lực hy sinh của chính mình?

Gần trọn thế kỷ 20, đất nước liên tục bị xô vào thảm cảnh tàn phá bởi đạn bom, chém giết và tới nay vẫn đang lún sâu dưới đáy vực phân ly, thù hận chỉ do tình trạng mê muội khởi phát từ một con người và trở thành một bệnh dịch lan truyền qua nhiều thế hệ.

Tôi nhớ tới lời nói cuối đời của một người bạn khác cũng là một người đã đặt trọn cuộc đời vào hướng đường do cộng sản chỉ đạo. Năm 2002, trước khi vĩnh viễn ra đi, Nguyễn Nguyên (một nhà văn và cũng là một thượng tá công an CS) từ Việt Nam điện thoại qua Mỹ cho tôi chỉ để nói một câu, câu trối cuối cùng:

– “Dân tộc mình bất hạnh cùng cực vì đã có một lãnh tụ là ông Hồ.”

Thực ra, dù mức cuồng tín chủ nghĩa cộng sản và tham vọng tạo sự nghiệp “dắt năm châu đến đại đồng” của Hồ Chí Minh là điều hiển nhiên thì nỗi bất hạnh thực sự của dân tộc Việt Nam phải được nhìn rõ là đã có những người nhẹ dạ đặt trọn lòng tin vào con người ấy. Khát vọng tạo sự nghiệp cá nhân của Hồ Chí Minh bằng mọi thủ đoạn tàn khốc kể cả núi xương sông máu sẽ không thể tác hại đến ai nếu không có tình trạng mê lầm tán trợ như đã có.

Đoạn đường đó đã qua rồi không thể làm lại bằng bất kỳ cách nào.

Vấn đề thực sự đáng kể vào lúc này là thân phận oan khiên của cả dân tộc chưa tìm được ngõ thoát và sự thành tâm thú nhận mê lầm vẫn hiếm hoi.

₪₪₪

Vũ Thư Hiên ghi lại ý nghĩ của một người bộ đội về lãnh tụ Hồ Chí Minh:

– “Chúng ta nhầm. Bây giờ tôi mới hiểu: Ông Hồ không phải đồng chí của ta, ông ấy cũng là vua như các ông vua khác, lại không phải vua hiền. Ông ấy biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Ông ấy là quỷ vương”.

Riêng Vũ Thư Hiên vẫn nhớ kỷ niệm tuổi thiếu thời nhởn nhơ trong Bắc Bộ Phủ bên “bác Hồ tôn kính, bác Hồ yêu mến”:

– “Thấy tôi quanh quẩn ở đấy, ông gọi vào phòng, giao cho tôi mấy mảnh giấy nhỏ để tôi chạy xuống đưa cho các chú các bác làm việc ở tầng dưới, hoặc đang chờ ở phòng cảnh vệ…”

Tuy nhiên, nhớ chỉ để buồn, vì “khi nhìn lại, tôi thấy trong tôi chỉ còn trơ trọi một nhận định duy lý, một tình cảm lạnh lẽo đối với ông, như đối với một nhân vật lịch sử.”

Thực tế biểu hiện một chân tướng phi nhân và thúc đẩy sự đoạn tuyệt tình cảm với một kẻ tàn độc không hiếm hoi hay đáng ngờ vực. Nhưng ý nghĩ, thái độ như Vũ Thư Hiên ghi trong Đêm Giữa Ban Ngày chưa thoát khỏi bị vùi lấp.

Giữa lúc cả thế giới coi chế độ cộng sản như một cỗi nguồn tội ác thì tại Việt Nam vẫn vang vọng lời tung hô cỗi nguồn tội ác đó, vẫn kéo dài tình trạng buộc con người từ bỏ cuộc sống để “hoàn thành sự nghiệp cách mạng” chỉ là quyền uy tối thượng của những quỷ vương, bạo chúa.

Mọi con dân Việt Nam, vì thế, đều trở thành nạn nhân bi thảm vì bị tước đoạt mọi quyền sống, bao gồm trong đó không ít nạn nhân đã và đang còn đóng vai thủ phạm gieo rắc tội ác không chỉ cho đồng loại mà cho ngay cả bản thân.

₪₪₪

Tôi nghĩ chính cái thân phận nạn nhân chất ngất oan khiên này đã là động lực ràng buộc mọi người trong đó có chúng tôi. Chúng tôi dễ dàng gần gũi tin cậy lẫn nhau bởi đã thấy dù ở hướng đi nào, tất cả đều bị xô vào ngõ cụt do một tình trạng mê lầm khốc hại. Điều đáng tiếc là tình trạng mê lầm kéo dài từ đầu thế kỷ trước vẫn chưa chấm dứt vì những lý do hoàn toàn vô nghĩa.

Cho nên, tác phẩm này được tái bản với mong mỏi góp một phần nhỏ vào việc gióng lại tiếng nói từ thực tế nhắc nhở tầm cần thiết của sự nhìn lại mọi lý do vô nghĩa đang có nơi mỗi cá nhân để kịp thời định thái độ thích nghi cho yêu cầu tự cứu của hết thẩy và tránh cho con cháu chúng ta cảnh dãy dụa trong cõi chết.

Và mong mỏi trước hết của chúng tôi, là gửi được tới những người đang vì bất kỳ lý do gì vẫn cố bám vào cái thân phận vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, lời tâm sự của tác giả – người đã có một thời mang cái thân phận đó:
“Bị bắt năm 1967, những người tù không có án, còn gọi là tù “xử lý nội bộ”, tới năm 1973 mới lần lượt được thả… Người cuối cùng trong số tù nhân được Đảng ban cho ân sủng “xử lý nội bộ” mãi tới tháng Chín năm 1976 mới được ra khỏi cổng nhà tù.

Người tù ấy là kẻ viết những dòng này…

Trong chín năm tù, tôi chỉ làm được một việc có ích cho bản thân và cho những người mà tôi thương yêu là giã từ được ảo ảnh về một xã hội cộng sản được tô vẽ như là thiên đường dưới thế.

Sự nhìn lại đời mình cũng như sự quan sát số phận của đồng bào trong những nhà tù tôi đi qua đã mang lại cho tôi cái nhìn tỉnh táo không riêng với hành động phi nhân của những vua chúa mới, mà cả một thể chế xã hội trong đó con người dù muốn dù không đều đánh mất mình.

Cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay là một phần những quan sát của tôi, một phần những suy nghĩ của tôi về cái xã hội khó hiểu mà số mệnh đã an bài cho tôi sống trong lòng nó. Xã hội này là khó hiểu, bởi vì căn cứ những gì tôi biết, nó khởi sinh từ những ý muốn tốt đẹp, bắt đầu bởi những con người lương thiện… Trong sự biến dạng của những người cộng sản, trong sự tha hóa của họ, cái gì là tác nhân? Chủ thuyết mà họ theo đã nhào nặn con người họ thành ra như thế hay chính họ tự biến đổi để trở lại nguyên hình, cho đúng với bản thể do trời đất tạo ra?…

Cuốn sách này chỉ là một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án cụ thể nhưng mang tính tiêu biểu cho nền cai trị của Đảng Cộng Sản…Cho nên, vụ án chỉ là cái cớ để nói về cái lớn hơn – về một thể chế được áp đặt lên mọi số phận người đã bị tước đoạt mọi quyền lựa chọn để được sống xứng đáng là người…

Trong cuốn sách này chỉ có sự thật theo cách mà tôi hiểu…

Văn học đích thực không có chỗ nơi đây.

Cuốn sách này không phải là lời lên án một xã hội nay mai sẽ trôi vào quá khứ.

Tôi không dám đặt cho mình mục đích buộc tội…

Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội…

Bởi trong cái xã hội được miêu tả, tôi không đơn thuần là nạn nhân.

Về mặt nào đó, trong chừng mực nào đó, tôi còn là thủ phạm.

Tôi viết vì tôi không thể không nói lên tiếng nói của mình.

Tôi quan niệm kẻ không dám nói “không” trước tội ác là kẻ đồng lõa với tội ác…

Số phận tôi được nói đến trong cuốn sách này cũng là số phận của nhiều người cùng thế hệ. Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo lời trăn trối của Người.

Cuốn sách này là một vòng hoa muộn, một nén hương thêm đặt lên mồ những nạn nhân xấu số của một thời kỳ đen tối, những con người bất hạnh đã không chờ được đến ngày cuộc đời lập lại công bằng cho họ.”
Virginia August 3, 2008

© DCVOnline

________________________________________
(*) Tiếng Quê Hương, P.O Box 4653, Falls Church – VA 22044
E-mail: uyenthao1@juno.com

17-01-2009

Hãy Vất Bỏ Khối Nặng của Tính ác và Sự Xấu -PHAN NHẬT NAM

Nhà Văn -Đại úy- PHAN NHẬT NAM
Hãy Vất Bỏ Khối Nặng của Tính ác và Sự Xấu
PHAN NHẬT NAM

Dẫn Nhập: Thật là một ngẫu nhiên kỳ lạ và cảm kích, do một “xếp đặt” vô tình, trong một tờ báo nhỏ, giai phẩm Xuân của Cộng Ðồng Người Việt nơi một chốn xa khuất, Twin Cities, Minnesota – bỗng nhiên, ba người bạn, Nguyên Vũ, Vann S. Phan và Phan Thanh Tâm, từ những xuất xứ, hoàn cảnh khác biệt, đồng lần khởi động những tiếng lời khẩn thiết “Hãy cất dỡ tự thân gánh nặng của quá khứ” Chuỗi quá khứ lềnh đặc những hư hại giết người và chết người, đã từ lâu dính chặt với thân phận, cố kết cùng cá tính, để tạo nên một tâm thức, biễu tượng đặc trưng về Người Việt Nam cụ thể với giai tầng nhân sự đã, đang giữ những vị trí chủ yếu, trách nhiệm lãnh đạo, tồn vong đất nước – Một tập thể hiện thực đủ vô vàn tính xấu trong tiến trình thâu đoạt và hành xử quyền lực của họ. Những người bạn không dựng nên chuyện tổng quát, mơ hồ, mà nói có sách, mách có cớ, với những chứng liệu mà mỗi chúng ta hẳn đã nhiều lần nhận ra từ đời sống cá nhân, tập thể, suốt trong dòng lịch sử đầy biến động khổ nạn dân tộc. Tính xấu không từ một ai, và kể đến bây giờ, cũng không có cơ may giảm sút, từ bỏ, sửa sai với đám hậu duệ cả trong lẫn ngoài nước, mà bi thảm hơn là khuyết tật càng trầm trọng, lộ liễu, thô bạo và nguy hại hơn.
Nhưng không chỉ có như trên với người, việc trong phạm vị chính trị, quân sự. ở một lãnh vực rộng lớn hơn về kích thước, sâu xa hơn bởi tác động, mà có thể nói là đầu mối khai sáng, hạt nhân làm bùng vỡ nên những biến động mặt nổi vừa kể – Chúng ta bàn tiếp về mặt văn hoá, xã hội với những “kẻ sĩ”- nhân tố chính tạo dựng nên phần phẩm tính của tất cả chế độ. Nếu ở Tây Phương, Thượng Ðế đã bị thanh toán qua Sấm ngôn của Zarathustra (Also sprach Zarathustra) để con người có toàn quyền thực hiện mọi sự kiến tạo nên một mẫu mực siêu nhân mới thay thế con người toàn thiện – Adam Mới – ảnh hình sáng tạo bởi Thiên Chúa và chính là Thiên Chúa; và cho dù Nietzche thật sự không tiên kiến về trường hợp của những siêu nhân Ðệ Tam Ðức Quốc Xã, nhưng chính danh ông ta chứ không ai khác là người đã khai sinh ra phần hồn cho tổ chức, tập đoàn thủ phạm gây nên cuộc tương tranh khốc liệt Thế Chiến Thứ Hai ở mặt trận Châu Âu, với trị giá 12 triệu người chết do bị lưu đày trong những trại tập trung lao động khổ sai của Ðức; và đất nước nầy cũng trả giá lại với sáu triệu mạng vong. Tương tự như thế, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh và tổ chức bạo lực cộng sản do ông ta xây dựng, giáo dục, huấn luyện và chỉ đạo cũng sẽ chỉ là một tập doàn bạo động cướp chính quyền và cũng cố quyền lực bằng những kế sách, thủ đoạn, phương tiện bất chấp đạo lý, cạn kiệt nhân tình, nếu không có một tập đoàn đông đảo những kẻ sĩ chính thống trong một thời gian lâu dài gần trọn Thế Kỷ 20, đã cố công, nhiệt thành gây men sắc máu cho chủ nghiã, bồi đắp, giữ vững chế độ, đầy ải dân tộc xuống tận vũng tối trầm luân, mất hẳn đà sống, triệt tiêu hy vọng – Toàn thể Dân Tộc Việt Nam chứ không riêng cho Miền Nam với chế độ Cộng Hoà bị bỏ rơi, đánh đổi cho CS từ năm 1975. Những kẻ sĩ vô sỉ nầy đã hoàn thành xuất sắc “sự nghiệp cách mạng” với “bước đầu có tiến bộ nhất định” (cách đánh giá thưởng công của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội), bằng chước độc tồi tệ – đánh tráo lịch sử – Các Vua Hùng có công dựng nước. Bác, cháu ta có công giữ nước. Vua Hùng bị cưỡng ép đổi diện mạo, để không phải từ huyền thoại thuần hậu Lạc Long Quân – Âu Cơ mà khai sinh ra Việt Tộc, nhưng là một thủ lãnh của giai cấp vô sản giác ngộ cách mạng, lãnh đạo nhân dân chống lại tập đoàn phong kiến phương Bắc, giải phóng chế độ chiếm hữu nô lệ!! Hoặc, Lê Lợi sở dĩ tập trung được sức mạnh quần chúng, vì nhân dân luôn có “truyền thống yêu nước”, nhưng sau mười năm trường kỳ kháng chiến, thắng lợi chống ngoạI xâm, lại lên ngôi vua, kế tục vết xe đổ của tập đoàn phong kiến phản động Nhà Minh vừa bị sức mạnh nhân dân ta đánh bại. Nhà Nguyễn Gia Long sau thống nhất đất nước 1802 thì tồi tệ hơn một bực, bởi đã là đầu mối gây cớ cho việc người Pháp đem chiến thuyền đánh phá Ðà Nẵng, năm 1858. Cuối cùng, bình minh lịch sử bắt đầu từ, … Năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước, để sau đó có một sự kiện quan trọng diễn ra trong đời sống chính trị, tư tưởng, văn hoá của Nhân Dân Việt Nam. Một cuốn sách nhỏ viết bằng tiếng Pháp- Le Procès de la colonisation francaise (Bản án chế độ thực dân Pháp) ký tên Nguyễn Aí Quốc xuất hiện. Và tác động hiệu quả lớn lao tiếp theo, …lòng yêu nước thương nòi sục sôi, hình ảnh Nguyễn Aí Quốc mà hầu như chưa ai đã từng thấy mặt bao giờ, đi vào trái tim của họ (người Việt Nam) như một vị quan toà, vừa như là một người thầy, người anh, người bạn tâm phúc. Những đoạn trích dẫn trên lấy ra từ hai tập Lịch Sử Việt Nam, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985 do một số viện sĩ, giáo sư danh tiếng- những trí thức xã hội chủ nghiã – hợp soạn. Cần nói thêm một chi tiết mà cuốn sử không nêu đến: Nguyễn Aí Quốc cũng chính là cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành đã thất bại trong bước đường mưu tìm công danh sau khi bị bác đơn xin theo học Trường Thông Ngôn thuộc Bộ Thuộc Ðịa, cũng vào khoảng năm 1911, năm cậu ta đi tìm đường cứu nước. (Hồ chí Minh, Con Người và Huyền Thoại Tập I, Chính Ðạo, Văn Hoá 1993, Houston, USA.)
Từ lịch sử bị đánh tráo, bước kế tiếp tất nhiên phải thanh toán nguồn lực nguyên thủy, vốn canh chừng, gìn giữ lòng người – Ông Trời – Thượng Ðế bị miệt thị, vất bỏ không nương tay,

Trời không có thiên thần
Ðất không có thánh nhân
Chỉ có Nhân Dân thần thánh
Và Ðảng ta làm nên sức mạnh
Bay đến chân trời…
(Nguyễn Ðình Thi)

Trời bị đấu tố, lịch sử bị nhúng vào máu, những thi sĩ, nhà văn, nghệ sĩ… những văn công của tất cả chế độ cộng sản đông-tây, quả thật đã hoàn thành nên quái tượng, người công nhân tiên tiến của giai cấp vô sản với tâm chất vô đạo, ngược ngạo thay mặt Thượng Ðế, chiếm dụng lịch sử, thủ đắtâquyền giết người bởi yêu cầu chính trị, xây dựng, củng cố chủ nghĩa, bảo vệ chế độ. Những Paven của Thép Ðã Tôi Thế Ðấy ở Nga sô-viết; Bạch Mao Nữ của Trung cộng; Lý Tự Trọng, chị Sứ, anh hùng Núp, Út Tịch, Kan Lịch, Nguyễn Văn Trỗi… ở Việt Nam, được khai sinh hàng loạt như những tế bào ung thư lây lan trong một cơ thể bị ung thối, nhiễm độc. Bệnh nhập lý cộng sản từ những thập niên đầu thế kỷ vừa qua đã tác hại một phần ba nhân loại, suốt hai cõi á, Phi. Riêng nước ta, chỉ từ 2 tháng 9, 1945 mầm ung độc kia mới thực sự xuất hiện và phát triển, nhưng oan nghiệp thay, đến nay, mối quốc họa vẫn chưa có dấu hiệu sút giảm, biện pháp thay thế, nếu không nói ngày càng tồi tệ, hiễm ác thêm lên, do chung dòng sa đọa, tăm tối hèn yếu của con người toàn thế giới – đám đông thời hạ ngươn, mạt pháp – đã hằng a tòng với ác độc, kiêu ngạo và tội lỗi.
Nhưng cộng sản không đơn thân thực hiện tội ác- đồng thời với đám sát nhân say máu kể trên, Miền Nam trước năm 1975 còn được tiếp tay gây nên suy sụp nhanh chóng, (cũng có nghiã đánh vỡ luôn hy vọng đối với Miền Bắc), bởi một tập đoàn quân phiệt vô cùng kiêu bạc, bất nhân, dụng máu xương dân, lính người Nam để xây dựng công danh, phẩm tước, tài sản phù hoa.
Quả thật – Toàn thể Dân tộc Việt đã bị đánh sụp vỡ không hy vọng phục hồi.
Cuối cùng, cũng nên nói thêm điều dự phòng – Những người bạn chúng ta không cất tiếng do từ thôi thúc, đòi hỏi muốn được cầu lợi riêng tư ố cho dầu để thoả mãn một nhu cầu thuần túy tình cảm, tinh thần. Bạn chỉ nói vì im lặng cũng là đồng lõa với tính xấu và tội ác mà hình như mỗi chúng ta đã lâu dài mắc thói quen đáng bị trách cứ nầy. Cửa thế kỷ mới đang mở rộng – Mỗi Người Việt. Khối Ðoàn Thể. Toàn Dân Tộc phải Nhật Tân-Nhật Tân-Hựu Nhật Tân. Bằng không, chúng ta mãi mãi là kẻ đi sau. Luôn trì chậm theo sau…

Mời Qúy Bạn Ðọc theo dõi phần I, Lời báo nguy của Saroyan Vann Phan

Giây phút nói thiệt…

Saroyan Vann Phan

Lời Người Viết: Không gì bực mình hơn là phải nghe người ta nói thiệt! Vì lời nói thiệt dễ làm mích lòng nhau. Nhứt là đối với những người thường hay được nghe những lời ca tụng, tán dương và kể cả nịnh bợ không có thiệt về mình, về gia đình mình, về cộng đồng mình và luôn cả về dân tộc mình!
Nói lên sự thực với người mình —người Việt Nam— quả là một chuyện hết sức khó làm. Bởi vì từ trước tới nay hầu hết những lời nói hay bài viết của người này đề cập đến người kia, nếu không là chửi bới quá đáng, thì cũng là tán dương quá độ. Trong tiến trình tán dương quá độ, mọi ngôn từ hoa mỹ đều được vận dụng để ca ngợi đối tượng, mà không có phần nào nghiêm chỉnh phê phán để cho đối tượng này thấy được những khuyết điểm cần phải sửa chữa. “Mặc áo thụng vái nhau,”đó là lối mòn mà người mình —đặc biệt là các văn nghệ sĩ— vẫn ưa dùng để công kênh nhau trên mọi phương tiện truyền thông có được, bất chấp lương tri và lẽ công bằng. Cứ hết ca ngợi lẫn nhau đến ca ngợi dân tộc mình riết như vậy rồi thành thói quen. Khi có người nào đó dám mon men vạch ra những khuyết điểm hay thói hư, tật xấu của người Việt Nam thì nhiều người sẽ lại nổi giận lên như thể là danh dự của họ đã bị xúc phạm nặng nề rồi. Không, đó chỉ là cái tự ái dân tộc hảo huyền mà thôi, thưa quý vị.
Sau khi đã nói vậy, bài viết sau đây không nhằm chê bai hay chửi bới ai hết, mà chỉ nhằm nói thiệt, tức nói lên sự thật, về những nguyên do tại sao mà một dân tộc vốn ưa hãnh diện về truyền thống lịch sử, văn hoá và đạo đức của mình như dân tộc Việt Nam mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc trầm luân nhứt thế giới nếu xét về những mặt như nghèo đói, không luật pháp, tàn ác với nhau, tự cho mình là giỏi, hay tham lam, chuyên phản phúc, luôn chê bai và chửi bới những ai không phải là chính mình, coi chuyện ăn hối lộ là quyền đương nhiên của mình, lúc nào cũng chỉ coi trọng đồng tiền và vật chất…
Còn một điều này nữa. Người viết không muốn bị những người trừ trước tới nay chỉ thích được nghe người khác tán dương hay nịnh bợ (mà nay đành thất vọng vì không được tiếp tục nghe những lời tán dương, nịnh bợ đó) chụp mũ là cộng sản (như 90% những trường hợp cho thấy), là phản quốc, hoặc là coi thường dân tộc mình… Vì vậy, người viết đành ra tay trước để phòng thủ, tạm thời tự vỗ ngực nhận mình là một trong những người chống Cộng kiên cường nhứt thế giới, người có tình yêu nước Việt Nam nồng nàn nhứt, và người duy nhứt trong cộng đồng nhỏ bé cuả mình lúc nào cũng chỉ biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết.

Dân tộc Việt Nam, ngoài những điểm ưu việt ghê gớm mà các dân tộc khác trên thế giới không có, còn có những khuyết điểm, hay nói huỵch tẹt ra là những thói xấu, mà các dân tộc kia không thể nào sánh nổi cho dù họ có cố gắng học hỏi hay bắt chước chúng ta cách mấy đi nữa. Những thói xấu này giải thích tại sao người Việt Nam mà chúng ta vẫn luôn luôn tự hào là thông minh xuất chúng đến như vậy mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc lụn bại, trầm luân nhứt thế giới, tính cho đến cuối thiên niên kỷ này. (1)
Những thói xấu của người mình thiệt ra khá nhiều, nhiều hơn mức bình thường. Người viết bài này chỉ gạn lọc và trình bày một số tính tiêu biểu đã gián tiếp hay trực tiếp đóng góp vào tình trạng đất nước Việt Nam ngày càng xơ xác, tiêu điều, các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại ngày càng tiếp tục chia rẻ, phân hoá tưởng như không bao giờ hàn gắn được. Các thói xấu đó là: không tôn trọng sự thực và lẽ phải, khoe khoang và kiêu ngạo, cố chấp, độc tôn, kỳ thị, tàn ác, thiếu cao thượng và ưa chơi gác, phe đảng, thiển cận, ganh ghét, thích làm vua làm chúa, không công tâm, không tôn trọng luật lệ, cướp công của người khác, ưa nịnh bợ, tâng bốc, thích ăn hối lộ, tham lam, không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc, không tuân giữ các cam kết… Những dẫn chứng về xã hội và lịch sử Việt Nam —cả ở trong lẫn ở ngoài nước— có thể giúp soi rọi vào cội nguồn và những ngóc ngách của các thói xấu nêu trên.

Không tôn trọng sự thực và lẽ phải: Lịch sử dân tộc Việt Nam do người mình viết có nhiều điểm mơ hồ và không đi sát sự thực, như những chi tiết liên hệ tới nguồn gốc dân tộc, về các vị nữ anh hùng, về công cuộc mở mang bờ cõi, về các lý do đằng sau việc cấm đạo Cơ Ðốc, về các triều đại nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn, và gần đây nhứt là về các chiến thắng của Vua Quang Trung trước quân nhà Thanh xâm lược. (2) Những lời đồn đại về Ngô Triều sau ngày 1-11-1963 cũng như những tập hồi ký của các cựu Tướng Ðỗ Mậu, Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Ðính… (3) cũng là biểu hiện của tính không tôn trọng sự thực của người mình. Còn lịch sử Việt Nam do Ðảng Cộng Sản Việt Nam viết nên thì lại không hề có lấy một phần mười của tính trung thực cần có trong phương pháp sử học, mà chỉ nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền và tự tôn vinh của người Cộng Sản Việt Nam. Gần như người Việt nào ở hải ngoại cũng chửi bới Cộng sản, nhưng hễ đã được về thăm quê hương thì một số lại khen lấy, khen đễ Cộng sản, cốt sao cho được việc của mình và gia đình mình chớ không hề muốn nói lên sự thực chút nào. (4)

Khoe khoang và kiêu ngạo: Ðào Duy Anh, khi viết về dân tộc Việt Nam, đặc biệt chú ý tới tính hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh của người mình. Trần Trọng Kim cũng cho rằng người Việt Nam hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng. (5) ở nước ngoài, chúng ta vẫn thường nghe nói tới sự thông minh và tài giỏi của người Việt Nam, tiêu biểu là số lượng học sinh và sinh viên học giỏi, đậu cao tại các học đường Âu, Mỹ, rồi tự lấy làm hí hửng là dân tộc mình number one. Bình tĩnh mà xét, điều này cũng không có gì lạ lắm, vì có cả trăm triệu người ở Châu Âu, Châu Mỹ đậu những bằng cấp mà người mình đã, đang và sẽ đậu, nhưng họ nào có xuýt xoa hay khua chiêng, gỏ mõ gì đâu, mà chỉ im lặng làm việc và thành công sau khi đã lấy được những bằngcấp kia. (6) Ðó là chưa kể tới câu hỏi mà ai cũng nhắc tới là Một người Việt Nam thì vậy, còn hai, ba hay nhiều người Việt Nam nữa đứng chung với nhau thì sao? Còn về tính kiêu ngạo thì có lẽ không ai kiêu ngạo hơn dân tộc mình, kể cả dân Thiên Hoàng Nhựt Bản và dân Con Trời Trung Quốc. Theo lời Cộng Sản Việt Nam (và ngay cả một số những người Quốc gia bị thua trận trước đây), thì Việt Nam quả là cái thế anh hùng khi một mình đánh thắng hết mọi đế quốc sừng sỏ từ Trung Hoa và Mông Cổ tới Pháp, tới Nhựt rồi tới Mỹ. Người Cộng sản còn phô trương rằng giới lãnh đạo của họ là những bộ óc ưu việt, những đỉnh cao trí tuệ cuả loài người tiến bộ trên thế giới đã xuất thần mà đề xướng ra hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ rồi lại sáng suốt “dắt giống nòi” vào con đường xã hội chủ nghĩa. (7) Nên nhớ rằng kiêu ngạo là tính mà Ông Trời ghét nhứt, và cũng chính vì tật xấu này mà loài người hay bị Trời phạt nhiều nhứt. Các thành Sodom và Gomorrha (như được kể lại trong Thánh Kinh Cơ Ðốc Giáo) đều đã bị lửa Trời tiêu huỷ chỉ vì dân chúng ở đó quá kiêu ngạo đến nỗi lo ăn chơi sa đoạ và dâm loạn, bất chấp những điều răn của Thượng Ðế. Cứ xem dân tộc mình hiện đang bị nghèo đói, trầm luân, rên siết đêm ngày dưới ách Cộng sản thì biết ngay.

Cố chấp và ngoan cố: Không ai cố chấp và ngoan cố như dân ta. Cái gì của mình cũng là nhứt, còn người ta là hạng bét. Hễ đã tin là mình đúng rồi thì cứ bắt người khác phải theo cho bằng được; còn nếu sai thì vẫn cứ cố cãi cho tới chết chớ không chịu nhận là mình sai. Vua Tự Ðức không tin lời Nguyễn Trường Tộ nói là dân mình bị lạc hậu so với Tây phương, tiếp tục nghe theo Tàu gọi các nước Âu Mỹ là Tây di, rồi khư khư ôm lấy chính sách bế quan, toả cảng, để rồi cuối cùng dân tộc ta phải làm nô lệ cho thực dân Pháp. Hồi thập niên 1950-60, Hồ Chí Minh và phe đảng ông, vì tin rằng muốn cho đất nước giàu mạnh thì cả hai miền Nam, Bắc chỉ có cách là đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà thôi nên đã nhứt quyết dùng võ lực buộc chính phủ và nhân dân Miền Nam Việt Nam phải từ bỏ con đường tự do dân chủ. Còn chính quyền Ngô Ðình Diệm hồi đó thì vẫn khăng khăng cho rằng các chính đảng khác, kể cả Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Ðại Việt, không có khả năng chống Cộng như mình. Phe quân nhân sau đảo chánh 1-11-1963, vì quá tự tin ở khả năng mình, đã không để cho các nhà lãnh đạo dân sự có cơ hội cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam, cho dù họ có tài đức đến đâu. Cộng sản Việt Nam thì cho giáo điều của họ là hay nhứt, không có lý thuyết chính trị nào hay hơn, kể cả bọn xét lại Liên Sô và bọn hiện đại hoá Trung Quốc. Ngay cả sau khi Liên Sô, vị thánh tổ của Cộng sản thế giới và ôđại sư báọ của Cộng sản Việt Nam, đã sụp đổ cùng với khối Cộng sản Ðông Âu hồi 1991, Cộng sản Việt Nam, dù biết rằng mình đã hoàn toàn sai trái, nhưng vẫn ngoan cố không chịu nhìn nhận điều này để sửa đổi chế độ cho dân tộc được nhờ. Một số đảng viên đã ly khai của họ — như “hồi chánh viên” Bùi Tín chẳng hạn — vẫn cứ nhứt định cho rằng chỉ có giới lãnh đạo tại Hà Nội, chớ không phải là chủ nghĩa Cộng sản, đã sai lầm. Các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, tiêu biểu là tại Nam California, không ai nhịn ai, mạnh ai nấy xưng hùng, xưng bá, làm cho cộng đồng nát bét, chẳng qua cũng chỉ là vì tính cố chấp mà thôi.

Ðộc tôn: Người mình, nhứt là các nhà lãnh đạo, thường có tính ưa độc tôn, tức là chỉ muốn độc quyền làm lãnh tụ hay chỉ muốn lịch sử ghi nhận rằng không có ai ngoài họ có thể trị nước an dân. (8) Hồ Chí Minh vẫn thường nói với đám con nít: “Xưa các Vua Hùng có công dựng nước, nay Bác cháu ta có công giữ nước.” (ý của họ Hồ là chính ông ta, chớ không phải là ai khác, mới là kẻ có công giữ nước.) (9) Chính vì cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ muốn thế giới coi ông là người anh hùng duy nhứt có khả năng giữ vững được Miền Nam Việt Nam khỏi bị Cộng sản nuốt sống nên ông đã cố tình làm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải tan rã (cho thiệt đúng với câu après moi le déluge, nghĩa là nếu tao mà xuống ngôi rồi thì tụi bây chỉ còn có nước đắm chìm trong bể khổ) (10) rồi lại ráng canh cho tới giờ thứ 25 mới giao quyền lại cho cựu Tướng Dương Văn Minh để cho ông này, vốn cũng không có tài kinh bang tế thế gì mấy, chỉ còn kịp đầu hàng Cộng sản mà thôi (11). Trong các cộng đồng người Việt hải ngoại cũng vậy, phàm người không làm được việc gì để phục vụ đồng hương thì cũng chẳng thích kẻ khác làm được việc cho cộng đồng để nổi bật hơn mình. Thái độ này đã và đang là trở lực chính ngăn chặn Việt Nam tiến lên bắt kịp với trào lưu tiến bộ hiện nay của thế giới. Người Cộng Sản trong nước, dù biết chắc là họ thua tài, thấp trí và bất lực, vẫn không chịu chấp nhận một thể chế dân chủ đa nguyên để cho người Quốc gia có cơ hội đóng góp tài năng xây dựng đất nước.

Kỳ thị: Người Việt hải ngoại, nhứt là tại Mỹ, vẫn hay cười chê người da trắng bản xứ là kỳ thị chủng tộc này nọ. Nhưng hãy suy gẫm kỹ mà xem thử người mình có mắc bệnh kỳ thị hay không, và bệnh đó so với người Mỹ thì nặng hay nhẹ hơn. Người viết bài này nhớ hồi nhỏ, lúc còn đi học, vẫn được mấy anh lớn trong xóm dạy cho một bài hát châm chọc người Hoa kiều -thường được gọi là “các chú” di cư sang buôn bán làm ăn tại Việt Nam. Bài hát có câu: Si-noa là giống bên Tàu, đẻ ra thằng Chệt ăn toàn… trâu! Ðối với dân tộc thiểu số miền núi (như Rhadé, Tày, Mạ, Mán…), người mình không ngần ngại gọi họ là “mọi,” với ý nghĩ rằng họ là những giống người kém văn minh hơn ta đây. Dĩ nhiên là đối với hai ông bạn láng giềng Lào và Căm-Bốt thì người Việt Nam lúc nào cũng vẫn tự coi là mình hơn người ta một bậc, bất kể về phương diện nào. Lại nhớ ngày xưa khi còn lính Mỹ tại Việt Nam, những người đi làm sở Mỹ hay phụ nữ kết hôn với binh lính và sĩ quan Mỹ vẫn còn bị coi là làm chuyện kém vinh dự hay thiếu đạo đức (vì ham tiền mới làm), và con lai —dù lai Pháp hay lai Mỹ— vẫn bị xã hội mình coi rẻ, nếu không bảo là khinh khi, gọi là “đồ lấy Tây,” “đồ lấy Mỹ.” (Chả bù với thời nay, có chút dính dáng về máu huyết hay hôn nhơn với người Mỹ da trắng, kế tới là Anh, Pháp, Ðức, Hà Lan, Gia Nã Ðại, ý, Ðan Mạch, Na Uy, Thuỵ Ðiển, áo, Úc… thì lại là một vinh dự lớn lao!)

Tàn ác, thiếu cao thượng và ưa chơi gác: Thật ra, người Việt Nam mình không phải là một chủng tộc có bản tính tàn ác. Trong các vua đời Nhà Lý và Nhà Trần, nhờ ảnh hưởng tốt đẹp của Phật Giáo, nhiều vị đã hết sức thương dân và còn biết đem lòng từ bi, hỉ xả cuả nhà Phật ra để dạy dân biết ăn ở cho có đạo đức, nhân từ. Về mặt tàn ác của người mình, sử sách còn ghi lại cách đối xử tàn bạo cuả binh lính Nhà Nguyễn dưới quyền Tướng Nguyễn Huỳnh Ðức lúc đang chinh phạt Cao Miên (đời Vua Thiệu Trị). Cung cách Cộng sản Việt Nam đối xử với tù binh Mỹ trong tay họ phải nói là tàn ác và tồi tệ chẳng thua chi quân phiệt Nhựt hồi Thế Chiến II nữa. (12) Người Mỹ, tuy bị coi là ham mê tình dục mà ít chú trọng tới danh dự (kiểu Clinton) và chỉ nghĩ đến cá nhân mình, nhưng lại giàu lòng thương hại kẻ yếu kém hơn họ. Chẳng hạn, người Mỹ, lúc đã trở nên giàu có, thường dùng tiền bạc dư thừa để làm việc từ thiện, dù có khi chỉ để mua danh. Và họ ít khi muốn đánh kẻ đã ngã ngựa, cho dù kẻ đó là Ðức hay Nhựt. Việt Nam mình thì khác: Kẻ thắng sẽ đánh, giết người thua cho tới cùng. Các ví dụ trong lịch sử gồm có chuyện Trần Thủ Ðộ giết hại tôn thất nhà Lý, chuyện Vua Gia Long cho đào mả Vua Quang Trung để lấy đầu lâu đái vào và xử tử nữ Tướng Bùi Thị Xuân cuả Tây Sơn một cách tàn nhẫn, chuyện các vua đời Hậu Lê và Nguyễn giết hại công thần… Quân viễn chinh Việt Nam tại Lào và Căm-Bốt luôn luôn chơi gác đồng minh của mình, dù phe ta là Quốc gia hay Cộng sản. Hiện đại nhứt vẫn là chuyện Cộng Sản Bắc Việt chơi gác Mỹ tại bàn Hội nghị Ba-lê, với lá bài tẩy là tù binh Mỹ trong tay họ. (Có điều trớ trêu là người Mỹ chỉ ngu đoản kỳ, trong khi Cộng sản Bắc Việt lại ngu trường kỳ!)

Phe đảng: Không dân tộc nào lại có tính phe đảng hơn người mình. Phe đảng đây có nghĩa là ngoài mình ra, mình chỉ lo cho vợ con mình, bà con mình hay bè bạn mình là hết, còn đất nước thì cứ kệ mẹ nó, muốn ra sao thì ra. Ðiều này đúng cho cả phe Quốc gia lẫn phe Cộng sản, cho nên đất nước mình mới mau chóng tàn mạt như thế này. (13) John Paul Vann, Cố vấn Trưởng Vùng II Chiến thuật hồi thập niên 1970, đã ngỏ ý xa gần rằng “người Việt Nam là những kẻ yêu thương chan chứa nhứt (thế giới)” (the Vietnamese are the greatest lovers), ý nói người mình chỉ biết yêu thương, lo lắng cho sự an nguy của quyến thuộc, thân bằng mà quên đi vận mệnh chung của đất nước. Ngay cả lúc cần phải lui quân (cỡ Dunkerque), sĩ quan và binh lính ta vẫn đèo bòng vợ con làm cho cuộc triệt thoái thêm phần vướng víu, chậm chạp và dĩ nhiên là nhiều thương vong. Hồi còn Việt Nam Cộng Hoà, cái triết lý một người làm quan, cả họ được nhờ là triết lý phổ biến nhứt và được nhiều người theo nhứt. Ai cũng chê Tổng Thống Diệm là gia đình trị, nhưng nếu chính quyền rơi vào tay một gia đình khác thì cũng thế, có điều là gia đình này có độc tài và tham nhũng hơn gia đình kia hay không mà thôi. Thời quân nhân cầm quyền ở Miền Nam Việt Nam thì chỉ có ai trong đảng ka-ki mới được trao quyền cai trị đất nước. Quân đội thì lại bị một số tướng lãnh coi như là tài sản riêng, để rồi họ cứ nhân danh tập thể Quân đội mà ban phát cấp bậc hay chức vụ cho những ai trung thành với họ. Thời Cộng sản thì khỏi nói rồi, chỉ có “Ðảng ta” là xứng đáng được ăn trên, ngồi trốc, làm giàu và cho con du học (Ðế quốc) Mỹ mà thôi! Thử hỏi một khi đã mở cửa cho dân chủ đa nguyên thì làm sao mà Cộng sản có thể thực thi chính sách phe đảng cho được?

Thiển cận: Ai viết sách hay giảng thuyết nơi đâu cũng khen ông cha chúng ta là nhìn xa, trông rộng. Sự thật chỉ đúng một phần nào đó mà thôi như phần chịu nhịn nhục triều cống Trung Hoa sau mỗi đợt chiến thắng quân xâm lược phương Bắc còn phần nhiều là thiển cận. Vì vậy dân tộc ta mới bỏ mất cơ hội canh tân đất nước (thời nhà Nguyễn), cơ hội hoà giải dân tộc và tái thiết đất nước thời hậu chiến (khi Cộng sản thắng năm 1975) và cơ hội lấy lại Quần đảo Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của ta 100 phần trăm (khi Trung Cộng đang bị đánh bại trên mặt trận sáu tỉnh biên giới phía Bắc). Cứ nhìn các công trình kiến trúc nhỏ xíu của các triều đại vua, chúa Việt Nam để lại cho hậu thế thì biết: Không phải tại vua, chúa ta nghèo hay chẳng muốn vắt kiệt sức dân để phục vụ quyền lợi riêng như vua Tàu, vua Miên, vua Xiêm hay vua Lào đâu, nhưng chính là vì cái nhìn cuả người mình không thoáng, không vượt quá luỹ tre xanh đầu làng nên các công trình kiến trúc của mình thiếu vẻ bề thế, bao la và hùng tráng. (14) Cũng chỉ vì tầm nhìn không xa, không rộng nên dân chúng Miền Nam mới liên tục biểu tình đòi hoà bình với bất cứ giá nào, đòi Mỹ cút ngay, cho dù Việt Cộng đang đánh sát sàn sạt bên hông. Còn các tướng, tá trong Quân Ðội Cộng Hoà thì chỉ thích lật đổ Tổng Thống Diệm cho khuất mắt để được dịp tự lên lon cho lẹ! Và cũng chính vì cái tính thiển cận này mà người Việt hải ngoại ít quan tâm đến những cuộc đầu tư có tính cách lâu dài, như đầu tư vào chính trị (đi bầu cho đông để tạo áp lực, ra tranh các chức vụ dân cử…) hay đầu tư vào văn hoá (cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam, làm công tác bất vụ lợi…) mà chỉ thích làm sao hễ sáng bỏ tiền ra là tối phải thu lợi vào ngay, chớ không thể để ngâm vốn lâu được!

Ganh ghét và đố kỵ: Tại sao người Việt hải ngoại sau hơn hai thập niên sống lưu vong vẫn chỉ làm được có mỗi một việc (coi không được) là đem nộp cho Cộng Sản Việt Nam hơn một tỷ đô-la mỗi năm? Ðó lại người mình không đoàn kết (trong tình đồng bào cũng như trong sách lược chung), mà cỗi nguồn của tình trạng này vẫn là lòng ganh ghét, đố kỵ nhau từng ly, từng tí. (15) Ðối với người mình, trâu buộc ghét trâu ăn đã đành, nhưng trâu ăn này lại còn ghét cay, ghét đắng trâu ăn kia nữa mới là đáng nói! Một ví dụ điễn hình là vụ Còi hụ Long An thời Ðệ nhị Cộng Hoà ở Miền Nam Việt Nam, tức là vụ phe của Bà Thiệu tranh đua buôn lậu với phe của Bà Khiêm, đôi bên đều sử dụng các lực lượng quân đội hùng hậu, kéo còi hụ hộ tống hàng hoá um sùm trời đất. Người viết bài này trộm nghĩ phe Cộng sản bên nhà cũng chẳng khá hơn phe hải ngoại trong lãnh vực này. Cứ nhìn việc “Ðảng ta” hạ bệ ngay và không tiếc xót “đệ nhất công thần” Võ Nguyên Giáp sau trận Ðiện Biên Phủ hồi 1954, cứ nhìn những cuộc thanh trừng nội bộ liên tiếp trong “Ðảng ta” —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là nạn nhân “đáng thương” nhứt— từ hồi chiếm được Miền Nam Việt Nam đến nay thì đủ biết.

Thích làm vua, làm chúa: Cái này thì đã rõ từ thời còn mồ ma thực dân Pháp kia, khi các quan cai trị Pháp nghiên cứu về dân tộc tính của người “An-nam” ta. Một vị Tây mũi lõ —dường như là Toàn Quyền Pierre Pasquier— đã “phán” thẳng thừng: Trong bụng mỗi một người An-nam đều có một ông quan. Câu nói này tuy hơi khắt khe nhưng cũng đã nói lên tính thích làm vua, làm chuá của người mình. Chính vì cái tính này mà người mình đâu có ai chịu phục ai. Bởi thế cho nên, nhìn quanh, nhìn quất trong cộng đồng người gốc á châu-Thái Bình Dương ở hải ngoại, chỉ có nhóm người Việt Nam mình là phải thường xuyên khổ sở vì tranh chấp và kiện tụng về quyền lãnh đạo, từ các trung tâm văn bút cho tới các ban đại diện cộng đồng. Quý vị còn lạ gì khi thấy cảnh bên Mỹ một tiểu bang hay nửa tiểu bang mà có tới hai, ba ban đại diện cộng đồng Việt Nam, trong khi đó xuất hiện hằng trăm hội đoàn, mà hầu hết các hội đoàn này chỉ có chủ tịch đứng tên trong hội đồng quản trị mà thôi. Thậm chí có người đã cả gan một mình đứng làm chủ tịch cả chục hội đoàn, vừa Việt vừa Mỹ. Mà phải như các hội đoàn này có hoạt động gì ích quốc, lợi dân cho cam! Trái lại, nó chỉ hiện diện để người cầm đầu dễ bề lợi dụng danh nghĩa cộng đồng vào những âm mưu làm kinh tế hay chính trị riêng tư của họ.

Không công tâm: Không công tâm tức là tư vị, mà chuyện này thì xảy ra như cơm bữa tại Việt Nam dù dưới chế độ nào đi nữa. Con ông, cháu cha (phải được ưu tiên) vẫn là phương châm của mọi thời đại. Vì không công tâm nên mới sinh ra nạn phe đảng và bè phái làm ung thối mọi cấp chính quyền trong quá khứ cũng như hiện tại, bên này hay bên kia vĩ tuyến 17 cũng vậy. Chính nhờ nổi tiếng là có công tâm nên Cụ Trần Văn Hương mới được mời làm đến Thủ Tướng và sau đó là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng điều đáng tiếc cho vận nước là số người như cụ không nhiều hơn số ngón trên một bàn tay đã cụt hết bốn ngón rồi! Bệnh không công tâm còn thể hiện qua cách viết lách, tường thuật, phê phán vụ việc và ghi chép lịch sử nữa. Ðặc biệt về cuộc Chiến Tranh Việt Nam, người Việt Nam, ở một mức độ cao hơn người Mỹ, thường thiếu công bằng khi kể lại các sự kiện xảy ra. Nếu là một cựu quân nhân Nhảy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến hay bộ binh viết về một trận đánh nào đó tại Nam Việt Nam, thành tích của đơn vị gốc cuả tác giả thường được đề cao, trong khi thành tích cuả các đơn vị bạn lại bị kín đáo dìm xuống hay có khi bị lờ đi, không đề cập gì tới cả. (16) Lối tường thuật và viết sử của Cộng sản dĩ nhiên là còn tồi tệ hơn nhiều, nghĩa là không đếm xỉa gì tới sự thực mà hoàn toàn thiên vị nhằm mục đích tuyên truyền và độc tôn phe Cộng sản. Dĩ nhiên, một lý do khác của sự thể này là người cầm bút của mình thường thiếu phương pháp sử học và không hề để ý tới nguyên tắc vô tư trong tường thuật báo chí.
10. Không tôn trọng luật lệ: Chính nhờ tinh thần thượng tôn luật pháp mà Mỹ Quốc,tuy chỉ mới lập quốc có hơn 200 năm, nay đã trở thành một siêu cường giàu mạnh nhứt thế giới. Nhưng Việt Nam ta thì coi như không mấy ai bận tâm đến chuyện phải tôn trọng luật pháp. Ðây là hậu quả tất yếu của một quốc gia phải trải qua cả nghìn năm chinh chiến, hết nội thù đến ngoại xâm, hầu như không có lúc nào được an hưởng thái bình đủ lâu để củng cố hệ thống luật pháp chung cho đất nước. Ðất nước Việt Nam tuy mang tiếng là được trung ương tập quyền từ đời Lý (thế kỷ thứ 11-13) nhưng thiệt sự triều đình chỉ nắm được quyền thu thuế và bắt lính qua trung gian một hệ thống làng xã khá vững chắc. Phép vua thua lệ làng, câu này vừa nói lên tính tự trị từ ngàn xưa cuả hệ thống làng xã Việt Nam – vì triều đình quá bận bịu chinh chiến chống ngoại xâm và nội thù — vừa nói lên sự lỏng lẻo cuả luật pháp quốc gia. Hay nói khác đi, Việt Nam chỉ thiệt sự có luật pháp quốc gia từ đầu thế kỷ 19 với Bộ Luật Gia Long, mặc dù, trên nguyên tắc, đất nước đã có luật pháp chung kể từ thời Lê Thánh Tôn (thế kỷ thứ 15) với Bộ Luật Hồng Ðức. Nói chung, ý thức tôn trọng luật pháp của người mình rất thấp. Một phần là vì khả năng truyền thông yếu kém do tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phần khác do đầu óc sứ quân và óc địa phương, làng xã còn nặng, phần khác nữa do đời sống dân chúng hãy còn quá đơn giản, chưa có những nhu cầu phức tạp của một dân tộc văn minh cao. Khi Cộng Sản cởi đầu, cởi cổ được cả hai miền Nam Bắc thì họ liền trở về với tình trạng phân hoá sứ quân cũ, nghĩa là mỗi tỉnh đều có luật lệ riêng để áp dụng, có khi luật tỉnh (do bí thư tỉnh ủy đảng Cộng Sản hành xử) còn được đặt trên cả luật pháp quốc gia, với dụng ý để cho cán bộ tỉnh dễ bề tham nhũng và có thể tuỳ tiện ăn hối lộ mà không cần phải trình báo cho trung ương. Và rồi tình trạng vô luật pháp chỉ là một hậu quả tất nhiên của tệ nạn tham nhũng và hối lộ lan tràn, bởi vì lúc nào cũng thấy diễn ra cảnh “nén bạc đâm toạc tờ giấy.” Ngày nay, những ai từng về Việt Nam du lịch đều nhìn nhận rằng Việt Nam không hề có luật lệ giao thông. Hễ đã ra đường rồi thì mạnh ai nấy chạy, mạnh xe nào nấy đi, chừng nào tai nạn xảy ra thì cứ chửi nhau inh ỏi cả lên, ai to tiếng hơn thì thắng, còn có bồi thường thì cũng chỉ là vờ vịt, qua loa mà thôi, chủ yếu là xuýt xoa xin lỗi.
Cướp công của người khác: Vì không có một hệ tư tưởng hay học thuyết dân tộc cuả riêng mình, người Việt Nam rất dễ dàng tiếp nhận những luồng tư tưởng từ bên ngoài. Việt Nam đã du nhập nào Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo, Cơ-Ðốc Giáo, chủ nghĩa tự do dân chủ Tây phương, chủ nghĩa duy vật Mác-xít Lê-nin-nít, triết học hiện sinh cùng với các trường phái nghệ thuật từ cổ điển và lãng mạn tới ấn tượng và lập thể. Người mình còn ưa lấy các học thuyết khác nhau của Trung Hoa và Ấn Ðộ xào nấu lại rồi cho đó là công trình sáng tạo của mình, gọi các công trình đó là một hình thức Việt Nho hay Việt Học (17) Các sản phẩm kiến trúc hay âm nhạc cuả Việt Nam thiệt ra đều là những bản sao có thêm thắt cuả lối xây cất hay cách thế ca hát, nhảy múa của Trung Hoa và Chàm (Ấn Ðộ) (18) Các nhà cai trị thực dân Pháp cũng từng ghi nhận rằng dân tộc Việt Nam có tài bắt chước, mà hễ đã bắt chước thì không phải là sáng tạo mà chỉ là lấy của người làm của mình thôi. Một tỷ dụ điển hình khác cuả thói xấu này là tật “cướp công cách mạng” khi Cộng Sản tự vỗ ngực cho rằng chính họ là người duy nhứt đi tiên phong trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhựt. Thiệt sự thì những đảng phái quốc gia khác như Việt Nam Quốc Dân Ðảng hay Ðại Việt, hoặc các giáo phái như Cao Ðài và Hoà Hảo cũng là những thành phần có công chống Pháp, kháng Nhựt vậy. Chỉ có điều là họ không giành được chính quyền vào tay để mà tha hồ kể công với lịch sử như Cộng sản đang làm.

Ưa nịnh bợ, tâng bốc: Vì có máu kiêu ngạo thêm tính ưa làm quan (như đã kể trên), người Việt Nam thường chỉ thích được kẻ khác nịnh bợ, tâng bốc. Những lời nói thiệt, nói thẳng kiểu Nguyễn Trường Tộ hay Phan Châu Trinh dễ làm vua quan ta phật ý. Sử chép rằng Vua Khải Ðịnh thích được các quan quỳ lạy, xưng tụng đến nỗi nhà vua đã cho thiết lập cả một triều đình ngay tại Marseilles trong thời gian có Hội Chợ Kinh Tế (Ðấu Xảo) Ðông Dương thuộc Pháp năm 1925. (19) Tổng Thống Diệm cuả Miền Nam Việt Nam chỉ thích được nghe người ta ôsuy tôn Ngô Tổng Thống.ọ Nhưng họ Hồ và Ðảng Cộng Sản Việt Nam thì ở một mức độ cao hơn nhiều. Ðám bồi bút và văn nô cuả Hồ Chí Minh, đứng đầu là Tố Hữu (nhà thơ mà sau làm đến Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Ðổi Bạc) với các phụ tá như Xuân Diệu, Nguyễn Ðình Thi, Huỳnh Minh Siêng… lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, làm văn, làm nhạc, hết mình ca tụng Bác và Ðảng. Và cho dù Bác và Ðảng có thực sự xua đẩy đất nước mình xuống bờ vực thẳm, họ cũng không hề dứt lời say sưa ca ngợi: Bác đến từng nhà thăm các cụ già, cầm tay chúng con, Bác bắt nhịp bài ca kết đoàn. —Tiếng Hát Thành Phố Mang Tên Người.

Thích ăn hối lộ: Ðây là căn bệnh chung của phần lớn các quan lại và những người mà trong bụng lúc nào cũng có một ông quan. Bệnh phát triển quá mức bình thường một khi niềm tin vào kỷ cương và giềng mối cuả đất nước tan rã. Tại Miền Nam Việt Nam, sau khi chiếm được Dinh Gia Long, phe đảo chánh Tổng Thống Diệm chỉ tìm thấy chiếc giường gỗ và một giá sách trong phòng ngủ của ông. Nhưng sau khi Tổng Thống Thiệu ra đi, người ta tin rằng ông đã mang theo ra nước ngoài nếu không phải là cả tấn vàng thì cũng một số lớn tài sản tích luỹ được -kể cả các chương mục ngân hàng tại Thuỵ Sĩ— sau 10 năm cầm quyền. Các tướng lãnh dưới quyền ông từ Trần Thiện Khiêm tới Cao Văn Viên và Ðặng Văn Quang cũng đều được người đời nhắc nhở tới như là những tay tham nhũng lớn của chế độ. Các vị này vẫn thường coi chuyện ăn hối lộ và tham nhũng như là quyền đương nhiên của giới lãnh đạo, nhứt là trong lúc đất nước đang có chiến tranh, bản thân họ thì phải vào sanh ra tử. Tỷ dụ như Tướng Ðỗ Cao Trí, một vị tướng rất tài giỏi (cỡ Patton) nhưng không sạch của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong một phút cao hứng, từng nói với báo chí ngoại quốc rằng ông vừa đánh giặc vừa làm giàu, (ý nói ông có quyền tham nhũng và buôn lậu qua vùng tam biên). Nhưng than ôi! Tham nhũng cỡ đó thì đâu có thấm béo gì nếu so với các quan chức Cộng sản hiện đang toàn quyền cai trị 75 triệu dân Việt Nam (và một số Việt kiều yêu nước ở hải ngoại)! Trên thực tế, tình trạng tham nhũng và hối lộ ở Miền Nam, phát sinh từ chiến tranh chống Cộng, đã gia tăng với một nhịp độ khủng khiếp sau khi Sàigòn rơi vào tay Cộng sản. Và tình trạng này đã lây lan mãnh liệt, làm ung thối luôn cả chế độ Cộng sản Miền Bắc vốn bị kìm hãm trong kỷ luật sắt của một nước độc tài, đảng trị (đang dốc hết mọi tài nguyên vào cuộc chiến tranh xâm lược nước khác) và quá nghèo nàn, không biết lấy gì để tham nhũng cho ra trò. (20) Dân chúng Miền Nam Việt Nam vẫn cho rằng ngày xưa vì chỉ có các ông lớn ăn —mà phần lớn là ăn tiền của Mỹ cho— nên dân còn đỡ đỡ một chút. Nay dưới trào Cộng sản thì mạnh lớn, lớn ăn, mạnh nhỏ, nhỏ ăn (mà lại chỉ ăn vào tiền mồ hôi nước mắt cuả dân chúng chớ làm gì có viện trợ của Liên Sô hay Trung Quốc đổ xuống dồi dào như hồi Mỹ chưa phụ bạc Miền Nam Việt Nam) nên đất nước ta mới xác xơ đến vậy. May mà có Việt kiều hải ngoại thương tình mỗi năm chính thức bôm vào trong nước khoảng 1 tỷ rưỡi đô-la chớ không thì dân nghèo sẽ chết trước hết, rồi từ từ mới đến người giàu và cán bộ, đảng viên khệnh khạng mua vé Air France hạng tối danh dự bỏ nước ra đi sang định cư tại Thuỵ Sĩ!

Tham lam: Mặc dù lòng tham là bản tính chung Trời ban cho loài người không phân biệt chủng tộc, người Việt Nam đặc biệt tham hơn người khác vì đau khổ và thiếu thốn nhiều quá. Lòng tham này biểu hiện trong cách buôn bán lừa đảo, làm hàng giả và chặt đầu lột da, không phân biệt phải trái và không kể chi đến chuyện lưu nhân tình để ngày sau hảo tương kiến. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, người Việt gốc Hoa, tuy cũng tham lam chớ chẳng phải là không, trong buôn bán vẫn tỏ ra thiệt thà và giữ gìn chữ tín hơn là người Việt chính tông của mình. Cộng Sản, tuy tự xưng mình là vì giai cấp vô sản mà chiến đấu, lại đặc biệt bóc lột đám dân vô sản cô thế và xô đẩy con người vào chỗ tham lam vô cùng, vô tận. Cứ đi về Việt Nam du lịch một vòng thì biết liền: Bà con, họ hàng gì mà cho tiền ít thì hờn giận, nói xỏ, nói xiêng; địa phương thanh lịch gì mà qua cầu khỉ cũng phải trả tiền; khách sạn tối tân cỡ nào mà giá lại đắt hơn cả bên Mỹ; “núm ruột ngàn dặm” gì mà hễ đi thăm thú nơi đâu thì cũng bị đồng bào ruột thịt chặt tiền gấp đôi… Ai cũng ngậm ngùi khi thấy cảnh hoàng cung và các lăng tẫm tại cố đô Huế tiêu điều, hoang phế mặc dầu đây là một trong các điểm du lịch hái ra tiền nhiều nhứt nước. Ai có ngờ đâu rằng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cấp cho nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hằng triệu Mỹ kim để trùng tu di tích này, nhưng họ cứ để vậy, một phần vì tiền đó đã bị họ chia chác nhau ăn cả rồi, phần khác vì họ có thâm ý tạo cảnh tang thương đặng gợi lòng xúc cảm của du khách, mà chung quy cũng chỉ là để moi tiền thêm mà thôi!

Không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc: Người Việt Nam tỏ ra rất thích nghi thức và kiểu cách, nhưng lại không chịu tuân thủ một nguyên tắc nhứt định nào làm chuẩn cả. Từ lễ cúng ông bà ngày Tết cho tới lễ cúng thần hoàng hay lễ hỏi, lễ cưới… mỗi miền đều theo một nghi thức riêng, không ai chịu ai là chuẩn mực. Rồi cứ thế tam sao thất bổn, đến đời nay mỗi khi có lễ lạc gì thì mạnh ai nấy làm, mới nhìn thì cũng na ná như nhau, lại gần mới biết là không nơi nào hành lễ giống như nơi nào cả. Theo một bài viết của cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, hồi tháng Ba năm 1975, các đơn vị thuộc Vùng I Chiến Thuật đã phải rút bỏ Huế chỉ vì phải tuân thủ nguyên tắc ôthi hành trước, khiếu nại sauọ của Quân Ðội, trong khi đó vị tổng tư lệnh là Tổng Thống Thiệu thì lại không tuân giữ nguyên tắc trước sau như một khi ban lệnh: chiều thì lệnh phải giữ Huế, sáng thì lệnh phải bỏ Huế, làm cho lòng quân rối loạn dẫn tới chuyện mất Vùng I rồi mất nước luôn (21) Cộng Sản cũng vậy, đã có lệnh của trung ương rồi, nhưng các tỉnh ủy vẫn tuỳ tiện ra phản lệnh hoặc ra thêm lệnh khác, nhứt là lúc cần đánh thêm một đợt thuế nữa vào những nhà đầu tư ngoại quốc lớ ngớ tới làm ăn tại Việt Nam. Còn chuyện không tuân thủ giờ giấc thì ai cũng biết là người mình chẳng hề có khái niệm nào đứng đắn về thì giờ, vì thế mới có thứ giờ cao su. Cứ chịu khó đi dự một phiên họp cộng đồng hay đi ăn một đám cưới nào thì quý vị đủ biết. Giờ hành lễ trên giấy tờ là 9 giờ sáng hay 5 giờ chiều thì cứ y như rằng là phải đợi mãi đến 11 giờ trưa hay 7 giờ tối mới nói tới chuyện khai mạc được, rồi rề rà, ê a mãi tới quá ngọ hay tuất gì đó (9 giờ tối ) mới thực sự đi vào trọng tâm buổi lễ. Ðiều có vẻ khó hiểu là hầu hết các quan khách Việt Nam này bình thường, khi đi làm sở Mỹ để lãnh lương, thì lại rất hiếm khi thấy có ai dám thử mạo hiểm dỡn mặt supervisor đi làm trễ giờ!

Không tuân giữ các cam kết: Thất hứa hay không tuân giữ các cam kết cũng là một trong các thói xấu mà người Việt mình mắc phải. Các chính trị gia thời chế độ Cộng Hoà ở Miền Nam ưa thất hứa vì tình trạng bầu bán lúc đó, tuy có dân chủ nhưng chưa dân chủ đúng mức, cho nên cử tri khó có dịp để trừng phạt họ bằng lá phiếu. Chính quyền Cộng sản bây giờ tại Việt Nam thì hoàn toàn không hề bận tâm đến chuyện phải giũ lời hứa với ai, vì có cử tri nào có thực quyền hạ bệ họ đâu mà họ phải ngán? Chuyện nuốt lời hứa của Cộng Sản đã nổi bật ngay sau khi họ “giải phóng” được Miền Nam và đưa hằng trăm ngàn quân nhân, viên chức, thành viên các đảng phái đối nghịch với họ đi “học tập cải tạo” từ 1 tháng tới 10 ngày. Các con số 1 tháng hay 10 ngày này sau cùng đã biến thành 5 năm, 10 năm, 15 năm hay lâu hơn nữa, bởi vì toàn thể Miền Nam Việt Nam đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trắng trợn lường gạt ngay trong “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” (22) của cuộc “hoà hợp, hoà giải dân tộc” mà họ đã không ngừng cổ võ và cam kết để phía bên kia nhẹ dạ nghe theo mà buông súng đầu hàng cho lẹ.

Trên đây mới chỉ là 18 trong vô số những thói xấu mà người Việt ở trong cũng như ngoài nước hiện đang mắc phải. Có thể một số quý vị sẽ cảm thấy bàng hoàng vì không tin là cái dân tộc của chính mình mà lại mang nhiều khuyết điểm trong đạo đức làm người đến như vậy.
Ðể quý vị có thêm cơ sở, người viết xin đưa ra một số nguyên do đã đưa đẩy con người Việt Nam, bằng máu và thịt, ở trong cũng như ngoài nước, đến cuộc khủng hoảng đạo đức và xã hội như hiện nay:

Vì nội chiến và ngoại xâm liên miên trong suốt chiều dài của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn phải đặt mình trong tình trạng nghi ngờ, giận dữ và thù hằn. Cái đạo đức của một dân tộc hiếu hoà như bất cứ dân tộc nhỏ bé nào đó trên một hải đảo Thái Bình Dương nào đó thiệt khó có cơ hội phát triển trong dân tộc mình. Ðiều này cũng tương tự như hoàn cảnh cuả một đứa bé phải sống trong bối cảnh một gia đình đầy những sự lạm dụng (abuse) và bạo lực (violence). Do lâm trận hoài trong chiến tranh, người Việt Nam có thể là những chiến sĩ tài giỏi nhứt thế giới, nhưng đồng thời cũng có thể là những con người ít thuần tánh nhứt và dữ dằn nhứt. Cứ xem cung cách quân ta hành xử với người Chàm trước đây hay người Miên sau này (mà sử sách còn ghi lại) thì đủ biết. Ðiều này cũng có thể giải thích phần nào sự tàn ác mà Cộng sản vẫn thường dành cho các tù binh trong tay họ, cho dẫu đó là người (Miền Nam) đồng chủng tộc với họ hay người Mỹ dị chủng, mũi lỏ, mắt xanh.

a. Chiến tranh triền miên và tiêu hao, cộng thêm với những năm tháng bị xích xiềng nô lệ vừa làm cho người Việt Nam bị phân hoá (dân Bắc kỳ, dân Trung kỳ, dân Nam kỳ; Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo, Bình Ðịnh so đo, Thừa Thiên đớp hết…) vừa làm cho quyền lực của chính quyền trung ương khó tới được các địa phương và tạo ra tình trạng phép vua thua lệ làng như đã nói, một tình trạng thiệt chẳng hay ho gì nếu ta xét về mặt quyền lợi quốc gia, vì nó đẻ ra tệ nạn sứ quân (thời tiền Ðinh) và tỉnh uỷ (thời Cộng Sản). Ðiều này cũng giải thích tại sao dân tộc Việt Nam là một trong các dân tộc ít được chính quyền (do họ bầu lên hoặc không) chăm lo, phục vụ nhứt trong lịch sử nhân loại. Mối quan hệ dễ thấy nhứt giữa ônhà nướcọ và ônhân dânọ ở Việt Nam là bên này chỉ chăm chú bắt bên kia phải đóng thuế và đi lính cho mình, chớ bên này chẳng hề phải lo lắng, phục vụ cho bên kia như quan hệ giữa chính quyền và dân chúng tại các nước khác trên thế giới mà người Việt hải ngoại đã may mắn có dịp nhìn thấy và học hỏi.

b. Chiến tranh và “đổi đời” liên tiếp cũng tạo nên trong tâm lý người Việt Nam những điều thái quá không hay khác như không cha không chúa, hoài nghi, lo lắng, tích luỹ, dễ bạo động, không khoan nhượng và tha thứ, nhẫn tâm, chai đá, sống cuồng sống vội, vá víu, cục bộ, tuỳ tiện, bội bạc, tham lam, hỗn quân hỗn quan, vô luật pháp, vô đạo đức… Ðọc lại lịch sử đất nước, các vua, chuá ta một khi đã chiến thắng kẻ khác thường không mấy khi hành xử cho cao thượng mà chỉ lo trả thù, đôi khi khá hèn hạ. Họ cứ làm như là không hề biết tới cái đạo lý của các hiệp sĩ từ Ðông sang Tây là không đánh kẻ ngã ngựa. Ðiều này giải thích tại sao Cộng Sản Việt Nam đã công khai hành hạ và ngấm ngầm giết hại hằng trăm ngàn tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hoà qua chính sách giả nhân giả nghĩa “học tập cải tạo” mà họ luôn mồm huênh hoang là “khoan hồng nhân đạo” (nhứt thế giới!) Quý vị hẳn cũng thừa biết, về phiá dân tộc Mỹ, với chỉ có 200 năm văn hiến, kẻ thắng (phe Miền Bắc) đã đối xử ra sao với người bại (phe Miền Nam) sau cuộc Nội Chiến 1861-1865.

c. Xét riêng về Miền Nam Việt Nam, nền đạo lý dân tộc cũng đã suy sụp theo thời gian và tuỳ vận nước nổi trôi. Thời Ðệ Nhứt Cộng Hoà, chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tuy bị người đời (và nhứt là người Mỹ) gán cho là gia đình trị và đàn áp tôn giáo, vẫn có cái thanh bình, an lạc và kỷ cương của nó mà suốt quãng đời còn lại sau này dân chúng Miền Nam Việt Nam không còn tìm thấy đâu nữa. Thời Ðảo Chánh và Tướng Lãnh cầm quyền, đạo đức bắt đầu đi xuống và hỗn loạn đã thấy ló mầm với hơn nưả triệu binh lính Mỹ tràn vào các thành thị và thôn làng Việt Nam, (cho dẫu với sứ mạng cứu viện đồng minh). Thời Ðệ Nhị Cộng Hoà, khi mãnh lực cuả đồng đô-la Mỹ bắt đầu lấn áp nền luân lý khắc kỷ Á Ðông —vẫn còn đâu đó ở Nam Việt Nam sau cơn hỗn quân, hỗn quan— các tệ nạn như tham tài bội nghĩa, giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ, vật giá leo thang, bợ đít quan thầy, đĩ điếm, ăn cắp (đồ Mỹ trước, đồ bạn sau rồi tới đồ nhà), ăn chơi đua đòi, sống thác loạn… bắt đầu hoành hành, gây đổ vỡ cho gia đình và làm rạn nứt giềng mối quốc gia. Với cường độ tham nhũng gia tăng theo đà chiến tranh tàn khốc cộng với nạn khủng hoảng kinh tế triền miên vì tiền viện trợ Mỹ, khi trồi, khi sụt (thời Tổng Ngọc, thời Tiến sĩ Hảo, thời thuế trị giá gia tăng, thời thuế kiệm ước…), luật pháp quốc gia và đạo đức dân tộc coi như tụt giốc kinh hoàng. Nhưng cũng chưa đến nỗi, vì vẫn còn có những gương sáng xa xa và lẻ loi như một Thủ Tướng Trần Văn Hương liêm khiết, một nhà văn hoá Mai Thọ Truyền tâm huyết cộng với nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng là bốn tướng sạch (và giỏi nữa) trong Quân Ðội. Cho đến đời Cộng Sản thống trị thì vũ trụ mới thiệt sự sụp đổ hoàn toàn trên đầu dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Ðể giải thích cho sự băng hoại và tan rã hoàn toàn cuả xã hội Việt Nam hiện nay dưới ách thống trị mê muội và điên cuồng của Cộng sản, chỉ cần xét tới các nguyên do sau:

Người bình dân Việt Nam, vốn không phải là những triết gia có chiều sâu và những tín đồ có đức tin vững vàng, dễ có khuynh hướng tin rằng Ông Trời không có thiệt hoặc không có mắt, vì làm lành như Việt Nam Cộng Hoà lại bị Thế Giới Tự Do và người bạn Ðồng mInh Mỹ rủa sả và bỏ rơi, trong khi làm ác như Cộng Sản vẫn không hề bị trừng phạt mà lại còn được vinh thân phì da, thăng quan tiến chức, giàu có bốn biển, năm thê bảy thiếp, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng, tiền rừng bạc biển, ăn trên ngồi trốc, miệng hét ra lửa, tay chân nắm quyền, Việt kiều [vừa yêu nước vừa] sợ sệt, tiền gởi Thụy Sĩ, con học Huê Kỳ… Hễ Thượng Ðế (Ông Trời) đã chết thì con người được phép làm mọi sự mà không sợ bị ai xét đoán, trừng phạt. (23) Người Việt Nam ngày nay được tự do làm mọi điều thất đức và đoản hậu vì, qua cuộc đổi đời vừa qua, lúc người trung mắc nạn chẳng hề có tiên xuống phò gì cả. (24) Hơn nữa, chủ trương cuả Cộng Sản là vô thần và bách hại tôn giáo, nhưng, cho tới nay, chưa có vị thần thánh nào (mà các tôn giáo vẫn cho là linh thiêng lắm) đủ quyền năng để ra tay trừng phạt (bẻ cổ…) họ cho dân chúng mở mắt ra. Sự thực thì chỉ có tôn giáo mới có thể cung ứng một thứ luật pháp tối thượng và vĩnh cửu để chăn giữ người đời làm lành, lánh dữ, cũng như chỉ có sự hiện hữu cuả một Ðấng Chí Tôn mới củng cố được niềm tin cuả nhân loại về tội ác và hình phạt và về ngày phán xét cuối cùng. (25) Cứ xem cái gương của nước Mỹ: May mà tôn giáo (mà đại diện là các nhà thờ) bên này vẫn còn mạnh chớ nếu không thì luân thường đạo lý của dân Mỹ ngày nay đã đi đong rồi (mặc dù hiện nay tiền bạc và tình dục đang ở thế thượng phong, trên chưn đạo đức).
Tâm lý tuyệt vọng đã xô đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ ngày càng xa rời đạo lý và tiến gần đến tội ác. Thông thường, nếu một người có chút hy vọng vào cuộc sống thì người đó, dẫu sao, vẫn e dè hay miễn cưỡng khi phải phạm tội, vì họ vẫn còn hy vọng vào sự thưởng phạt trong đời. Ngược lại, người tuyệt vọng có mọi lý do để biện minh cho những hành động vô luân, ác đức của mình, bởi vì, theo họ, trách nhiệm về mọi tội ác thuộc về kẻ khác, nhứt là những kẻ đã làm cho đời họ trở nên tuyệt vọng, mà trong trường hợp này là những lãnh tụ Cộng sản bất tài và vô đạo đức đang thống trị đất nước. Phần lớn dân chúng Việt Nam hiện nay đều mang tâm lý tuyệt vọng, không hề tin tưởng gì vào tương lai đất nước hay vào những mỹ từ như tổ quốc, dân tộc, danh dự, trách nhiệm… mà mạnh ai nấy tìm cách đưa gia đình, con cái mau mau chạy ra nước ngoài (nhứt là sang Mỹ, dĩ nhiên rồi!) qua ngã chữa bệnh, du học, hay theo các diện hôn phu, hôn thê, hôn phối… Và phần lớn số người còn ở lại Việt Nam đều là những kẻ, hoặc không có phương tiện hay cơ hội nào để bỏ nước ra đi, hoặc là vì họ đang có thừa thế lực và tiền bạc để có thể lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của người khác mà củng cố quyền hành và làm giàu thêm.

Nền giáo dục cuả Cộng Sản Việt Nam coi như sụp đổ hoàn toàn vì tiền bạc cũng không để xây dựng trường, lớp và nâng đỡ học sinh nghèo (vốn chiếm đại đa số trong tình trạng kinh tế suy sụp hiện nay) mà tình nghĩa thầy trò cũng mất rồi. Thiệt tình mà nói, hiện nay một số các tổ chức tư nhân từ hải ngoại đang phải về Việt Nam lo xây dựng trường, lớp cho con em đi học, bởi vì chính quyền Cộng sản trong nước, có lẽ vì tham nhũng nhiều nên mập quá, tối ngày chỉ biết nằm mà ăn thôi, chớ không sao đứng dậy nổi mà lo cho dân nghèo (theo đúng đường lối mà Ðảng đã huênh hoang từ năm 1932), cho dù dân nghèo đó lại chính là các em nhi đồng cục cưng của “Bác Hồ kính yêu” thuở nào. Trong khi đó, một số không nhỏ các giáo viên trong nước, nhân danh nghèo đói, lại đang triển khai lề thói bắt học trò của mình phải đóng tiền để học riêng tại nhà mình (viện cớ phải kèm cặp thêm cho mau giỏi), nếu trò nào, nghèo quá, không đến học nổi thì thường bị trù dập. Vả lại, các trường học Cộng Sản không hề dạy cho trẻ em về đức dục, tức là luân lý (như kiểu “luân lý giáo khoa thư” mà các cụ lưu vong bên này vẫn ngày đêm nhớ thương, tiếc nuối) mà chỉ dạy về chính trị, về lòng hận thù (giai cấp) và về lý thuyết cộng sản, tức là một hình thức công dân giáo dục (civics) nào đó. Ngay sau “giải phóng,” một giáo viên Miền Bắc thuộc loại con ông cháu cha vào dạy học ở các trường Miền Nam Việt Nam đã phải thốt lên: Ôi! Sao mà học trò trong Nam này lại lễ phép và học giỏi đến thế! Chả bù với học sinh Miền Bắc (xã hội chủ nghĩa), vừa vô lễ lại vừa dốt như bò! (26)

d. Chủ nghĩa vật chất, mãnh lực kim tiền và nếp sống thụ hưởng kiểu Mỹ (mà Cộng Sản đã hoan hỉ rước vào như một cứu tinh cho nền kinh tế thối rửa của họ) đang hoành hành dữ dội tại Việt Nam nhờ có những đợt thăm viếng (điạ đạo Củ Chi) của du khách ngoại quốc cùng với các chuyến về thăm quê hương liên tiếp và gởi tiền về Việt Nam ồ ạt của Việt kiều hải ngoại (mà số dách là Việt kiều từ Mỹ, kế đến theo thứ tự là Ca-na-đa, Anh, Pháp, Bỉ, Hoà Lan, Úc, ý, Ðức (bắt đầu hơi kẹo), Nhựt Bản (cũng hơi kẹo), Nam Hàn (kẹo hơn chút nữa), rồi mới tới các lân bang, các hải đảo Thái Bình Dương và Phi Châu). (27) Từ chỗ tranh sống, những thành phần giàu có không mấy hợp pháp nhờ thời thế hỗn mang hiện nay (như thành phần đảng viên, cán bộ cộng sản, dân đầu cơ tích trữ, mánh mung…) lại đang tranh sướng, tức là làm sao cho cuộc sống của cá nhân mình, gia đình mình và phe đảng của mình ngày một tràn đầy khoái lạc hơn, bất kể quốc gia hưng vong. Trong khi nội lực (đạo đức làm người) thì không có, mà ngoại chưởng (đô-la và nếp sống hưởng thụ) thì lại quá mạnh, hỏi làm sao dân tộc Việt Nam chống nổi để khỏi bị trầm luân, băng hoại và từ từ tiến đến chỗ diệt vong?

e. Sống gian lận, lừa đảo lâu thành quen, và thói xấu này dần dần đi vào cõi vô thức của dân tộc, hay nói cách khác là nhập tâm, tức là hội nhập vào tâm tình dân tộc. Tội nghiệp cho dân Việt Nam thuộc thế hệ hiện nay ở chỗ là họ không hề biết là mình đang ngày càng xa rời cỗi nguồn đạo đức mà mới đời ông, đời cha của họ vẫn còn có đó. Hễ vào làm việc nơi đâu thì phải lo ăn cắp thì giờ, nguyên vật liệu và cả tiền bạc (khi có cơ hội thụt két) để được no đủ, vì nhà nước hay xí nghiệp chỉ có thể cung cấp cho họ đồng lương chết đói. Là dân buôn bán, cho dù là bán thuốc Tây —trên nguyên tắc là để cứu nhân độ thế— nhưng người ta vẫn phải áp dụng mọi thủ đoạn lường gạt khách hàng mới mong giàu có. Câu chuyện ngụ ngôn về đạo đức nhan đề Cái Cân Thuỷ Ngân mà ngày xưa vẫn thấy đem giảng dạy tại các học đường để cảnh giác con người phải làm ăn và sống cho lương thiện thì ngày nay không hề được nhắc nhở đến. Ngày xưa thì chỉ có Hoa kiều Chợ Lớn chuyên làm đồ giả mạo để tranh thương, ngày nay người Việt mình dường như đã trở thành sư phụ trong những ngón nghề làm đồ giả để lường gạt đồng bào mình. (Chớ đem bán ra nước ngoài, ai mà thèm mua?)

Trong nước, vì có nạn Cộng sản, mới đành phải ra nông nỗi. Nhưng tại sao bản chất của người Việt định cư tại các nước văn minh ở hải ngoại lại cũng vẫn không khá hơn “khúc ruột quê nhà”của mình về mặt đạo đức? Xin thưa:
Một học giả người Pháp mà người viết bài này không nhớ rõ tên, khi viết về dân tộc Việt Nam, có ngỏ ý khen rằng người Việt Nam có biệt tài hấp thụ và đồng hoá những cái hay, cái đẹp của các nền văn minh thế giới do tình cờ lịch sử được mang đến Việt Nam. Thiệt ra thì ông đã quá khen. Người mình quả có tài đó, nhưng lại chỉ hấp thụ những cái dở, cái xấu của nước người để làm thành sản phẩm của mình, vì cái dở, cái xấu lúc nào cũng dễ nuốt hơn là cái hay, cái đẹp vốn đòi hỏi nhiều hy sinh, khắc kỷ mà con người nói chung khó có thể có được. (28) Ngoại trừ thế hệ trẻ của người Việt hải ngoại được sinh ra, lớn lên và được giáo dục y hệt như người bản xứ, các thế hệ phụ huynh đi trước dễ có khuynh hướng hấp thụ những cái xấu của nước người, mà trước hết là thói hưởng thụ. Khi cái chủ trương hưởng thụ nơi người Việt từng bỏ nước ra đi vì lý tưởng Tự do mà gia tăng thì phải biết rằng họ đang ngày càng xa rời lý tưởng Tự do và cội nguồn đạo đức cuả dân tộc, vì họ không còn tâm trí và thì giờ đâu mà tranh đấu cho Tự do nữa! Rồi từ đó sinh ra bệnh trục lợi (hay nhân danh một lý tưởng nào đó đặng lạc quyên mà làm giàu cho mình), tranh giành, lường gạt và khoe khoang thành tích là những tai họa đang liên tục giáng vào tình đoàn kết trong các cộng đồng người Việt hải ngoại.
Mang nặng nhiều mặc cảm cuả kẻ chiến bại khi đặt chân đến xứ người để tiếp tục cuộc sống lưu vong, những người Việt Nam từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hoà thuở xưa, nhứt là những người có ít nhiều trách nhiệm trong Chiến Tranh Việt Nam, dễ có khuynh hướng chạy tội bằng cách đổ lỗi cho nhau, rõ nét nhất là qua hằng loạt hồi ký do các cựu tướng lãnh viết về cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm, về cuộc chiến đấu chống Cộng không thành sau đó, về vai trò và trách nhiệm của họ, vân vân và vân vân. Rất ít người có can đảm và đủ khẳng khái tự nhìn nhận là “tôi làm tôi mất nước,” (29) trong khi đó một số nhà lãnh đạo trước đây của Miền Nam Việt Nam lại còn mơ hồ nghĩ tới chuyện Cộng sản có thể triệu vời họ về cho một giải pháp hậu hoà hợp hoà giải dân tộc nào đó! Những vị này thường lợi dụng những cuộc họp mặt với bạn bè và thuộc hạ xưa để nay thả ra một quả bóng, mai gióng lên một tiếng chuông thăm dò đặng chào mời sự ủng hộ của đồng hương, nhưng thường thì chỉ nhận được những lời phản đối, chỉ trích, châm biếm chua cay, có khi còn có tính cách xúc phạm nữa. (30) Ngược lại, một số không nhỏ khác lại trở nên tiêu cực vì không còn được hưởng những đặc quyền, đặc lợi, lên voi xuống chó như ngày xưa. Có khi, vì quá tiêu cực, họ đâm ra phân biệt kẻ chạy trước với người chạy sau, kẻ ở tù Cộng sản với người bỏ nhiệm sở chạy ra nước ngoài sớm. Ðó cũng chính là mầm mống gây chia rẽ, bất an âm ỉ khôn nguôi trong cộng đồng nguòi Việt tỵ nạn ở hải ngoại hiện nay.
Nhờ được hưởng các quyền tự do rộng rãi nơi những đất nước thiệt sự dân chủ, nhiều người Việt lưu vong đâm ra quá trớn trong những lời chỉ trích và luận tội những người không cùng ý kiến với mình mà, oái oăm thay, phần lớn lại là các chiến hữu cũ của mình. Thông qua tự do báo chí và nhờ vào chi phí in ấn khá rẻ tại hải ngoại, có tới hằng ngàn tờ báo Việt ngữ đang lưu hành trên khắp thế giới tự do. (ở đây không nói tới sách vở với hàng ngàn hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, khảo luận, diễn từ… mà phần nhiều là được viết tuỳ hứng chớ không dựa theo một phương pháp hẳn hoi.) Ðiều đáng buồn là chỉ có một số rất ít trong các tờ báo này làm đúng thiên chức thông tin, nghị luận hay văn hoá, còn phần nhiều chỉ chuyên chửi bới nhau, có khi còn lôi cả tông chi, họ hàng đối thủ ra mà chửi. (31) Bởi vì, như người ta thường nói, xem văn, biết người, chúng ta chỉ cần xem cung cách người Việt Nam mình (dĩ nhiên là người ở hải ngoại, chớ trong nước hiện nay thì làm gì có tự do ngôn luận mà đòi cầm bút) viết lách ra làm sao thì cũng có thể thấy được không những là trình độ học vấn mà còn cả đạo đức làm người của họ nữa. Kiến thức và đạo đức vẫn là hai điều kiện không thể thiếu của một người cầm bút trong ý nghĩa là làm văn hoá, dù ở bất cứ nơi đâu và trong bất cứ thời đại nào.

f. Một số đáng kể những người Việt lưu vong, do bất đắc dĩ phải tiếp xúc lâu dài với môi trường mới đầy những luận điệu tuyên truyền xảo trá tại quê nhà trước khi ra hải ngoại, đã bị nhiễm những tánh xấu của Cộng sản hồi nào không hay. Một trong các tánh đó là óc tự hào dân tộc thái quá đến độ cuồng tín, bất chấp sự thực là khả năng của mình không có là bao nhiêu. Chẳng hạn, khi có ai nêu lên một sự thực (đau lòng) rằng trong cuộc chiến tranh vừa qua, Miền Nam Việt Nam không có tài nguyên nào đáng kể để đánh Cộng sản mà chỉ dựa vào viện trợ Mỹ cấp cho mình do nhu cầu Chiến Tranh Việt Nam mà Mỹ là kẻ chủ chốt thì lập tức thế nào cũng có một vài người giận dữ phản đối, cho nhận xét đó là không yêu nước và sai sự thực. Họ lý luận rằng ta có nhân sự, và nhân sự đó chính là vốn quý của ôta.ọ Nghe như âm hưởng đâu đây của một bài học chính trị căn bản mà Cộng sản đã đem ra dạy cho dân chúng Miền Nam Việt Nam sau ngày giải phóng: ôÐất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng…(32) Họ quên rằng nếu ta thiệt sự có khả năng (vật chất) thì cho dù Mỹ có bỏ rơi ta bằng cách cúp viện trợ thì cũng mặc xác họ, mắc mớ gì mà ta phải thua chạy vất vả đến như vậy? Chỉ vì quá tự hào với tiềm năng vu vơ của mình đến độ kiêu căng chưa từng thấy mà Cộng sản đã xô đẩy dân tộc Việt Nam đến chỗ nghèo hèn cùng cực như hiện nay.
g. Người ở hải ngoại, nhứt là những người đã lớn tuổi, dẫu sao khi rời bỏ đất nước ra đi cũng đã mang theo một số tánh xấu căn bản cuả dân tộc, để rồi khi sang đây cứ thế mà phát huy: chia rẻ, khích bác lẫn nhau, thích làm lãnh tụ, không lo viết lách cho ra hồn mà chỉ lo chửi bới, loè bịp bạn bè nơi xứ lạ (bằng nhà lầu, xe hơi trả góp), loè bịp người trong nước đang nghèo túng (bằng những chuyến ôáo gấm về làngọ vung tiền qua cửa sổ)… Một số, nhờ vào lệnh cấm vận kinh tế trước đây của Mỹ chống Cộng sản Việt Nam, đã dùng những chuyến du lịch về thăm quê nhà của mình để buôn bán hay chuyển tiền lậu, không ít thì nhiều cũng làm giàu cho cán bộ, viên chức Cộng sản trong nước.
Có người, vì quá tha thiết với chuyện về Việt Nam, đã không dám tỏ thái độ nào với những vi phạm nhân quyền hay bách hại tôn giáo của Cộng sản trong nước, lơ là trong các sinh hoạt chống Cộng ở hải ngoại, miễn sao khỏi bị Cộng sản nằm vùng ghi sổ đen rồi trả thù khi họ lơn tơn xách gói về Việt Nam mà thôi. Lại có kẻ ráng sức bình sanh làm ra các sản phẩm văn nghệ sao cho thiệt hợp gu với Cộng sản bên nhà, với hy vọng nới rộng thị trường làm ăn, buôn bán với Cộng sản sau này, cho dù, để làm chuyện đó, họ đã phải nhẫn tâm phản bội tình chiến hữu năm xưa và chà đạp lên sự thực, trong đó có sự thực về cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua. (33)
Sự hoành hành của các thói xấu kinh niên này tưởng cũng đủ để giải thích tại sao Việt Nam ta ngày nay đang rơi vào hố sâu của sự nghèo nàn lạc hậu, chia rẻ và nghi kỵ lẫn nhau đời đời không nhạt phai, cho dù chúng ta có trốn chạy đến góc biển, chân trời nào đi nữa. Và nếu đà nầy cứ thế tiếp diễn, dân tộc Việt Nam sẽ tự mình đi vào chỗ diệt vong bên cạnh ông láng giềng Trung Hoa khổng lồ đang ngày càng bành trướng thế lực sang các lân bang nhỏ bé hơn như Hàn Quốc, Việt Nam, Lào, Căm-Bốt, Thái Lan, Miến Ðiện và Nê-pan.
Khi cảnh giác mọi người về những thói hư, tật xấu này của người Việt Nam, người viết không hề có ý định bôi lọ dân tộc mình —như những thiên tài chụp mũ trong cộng đồng mình vẫn nghĩ— mà chỉ muốn gióng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả những ai đang ngủ mê trong giấc mộng vàng son rằng người Việt chúng ta quá tài hoa, quá đức độ, để rồi lại uất ức, tức tưởi sao vận nước —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam trước đây thường ca cẩm là “đã đến rồi” —(34) vẫn cứ còn lao đao ghê gớm, dân tộc mình vẫn còn trầm luân, khổ ải như vậy. Sự thật thì người mình cũng chẳng có tài cán là bao so với các dân tộc bạn như Trung Hoa, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, và nhứt là Nhựt Bản. Vài ba cái thành công lẻ tẻ trên đường học vấn hay trong kinh doanh nhỏ mà mình luôn hãnh diện kia không nói lên được cái gì đáng chú ý. (35) Ðó là chưa nói tới sự kiện là hầu hết những kẻ thành công này —hiện không còn mang quốc tịch Việt Nam nữa cho dẫu khi về thăm quê hương họ có thiệt sự được Cộng sản ban cho quy chế song tịch (Việt-Mỹ đề huề)— sau cùng cũng chỉ dốc tâm phục vụ cho xứ sở mới của họ chớ không mấy khi cho đất nước Việt Nam. Chỉ có những thói hư, tật xấu có tính cách tổ tông truyền đó là còn ở mãi trong ta như là một di sản dân tộc không thể tách rời, và chính vì thế mà nó đã tác hại tới tương lai dân tộc Việt Nam rất nhiều. (36)

Dám xin các bậc thức giả và quý vị có chút công tâm hãy giúp soi sáng đồng hương về những gì tốt đẹp mình đáng nên hãnh diện và những gì chẳng hay ho mình nên biết tự lấy làm xấu hổ mà sớm từ bỏ. Thiết tưởng, bên cạnh lòng tự hào về dân tộc, chúng ta cần phải nhìn ra những nhược điểm, những thói hư, tật xấu của mình. Thái độ vô tư, khách quan trong việc phê phán, đánh giá là cần thiết để nhận diện lại mình ngỏ hầu đưa đến một phản tỉnh chân thành. Bởi vì có nhìn rõ được mình và có tự biết mình chúng ta mới tự sửa đổi được để tiến lên Chân, Thiện, Mỹ. Trên thực tế, phải tu thân trước đã rồi mới mong tính tới chuyện tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. (37)

Ðức Khổng Tử có nói:Người quân tử hễ biết điều lỗi thì sửa đổi nhanh như gió. Thiệt là xót xa khi toàn bộ vận mệnh đất nước Việt Nam ngày nay lại tuỳ thuộc vào ý thức về câu nói trên, tức là vào thành tâm, thiện chí sửa đổi bước đường sai trái mà, vì bệnh ngoan cố kéo dài từ hơn nửa thế kỷ qua, những người Cộng sản đã dùng bạo lực cưỡng ép dân tộc phải đi theo. Người viết bài này ước mong rằng người Việt chúng ta khắp nơi sẽ sớm tìm dịp thuận tiện để nhìn lại mình trong gương, sửa đổi bớt những điều sai trái kia, bớt tự hào xằng bậy đi, bớt kiêu căng đi, bớt nghi kỵ đi, bớt chấp nhứt đi, bớt chửi bới nhau đi, để rồi cùng nhau bắt tay tìm một lối ra hợp lý cho đất nước, ngỏ hầu đem lại hạnh phúc, ấm no cho hằng triệu đồng bào giờ đây còn “điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm.” (38) Chỉ có lúc đó Việt Nam mình mới có hy vọng tiến lên theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại trong thiên niên kỷ tới.

Ghi chú:

(1)Nếu quả dân tộc Việt Nam ta có đầy đủ những đức tính quí báu hơn hẳn người gấp bội như yêu nước, yêu người, anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang, cần cù chịu khó vượt bực, thông minh, tài trí, lanh lợi, kiên trì… thì sao lịch sử lại lắm tang thương và đến nay tình trạng sa đọa, phân hoá hầu như không thể nào chữa trị được? Và đối chiếu với thế giới, thực trạng đất nước càng bi đát, thua sút hẳn một đôi dân tộc mà lịch sử không lắm oai hùng như Việt Nam. (Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Tinh Thần Việt Nam, Mekong-Tỵnạn, 1991.
(2)Nguyễn Gia Kiểng, một thành viên cuả Nhóm Thông Luận tại Paris, Pháp Quốc, trong một bài báo nhan đề Phải chăng nhân vật Nguyễn Huệ qua lịch sử đã được tôn vinh quá lố? đăng trên Ngày Nay Minnesota ngày 31 tháng Mười, 1997, đã đặt lại vấn đề công lao và thành tích của Vua Quang Trung trong lịch sử, tỏ dấu hoài nghi rằng sử sách Việt Nam, nhứt là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, đã thổi phồng quá lố uy danh và đảm lược cuả Quang Trung Ðại Ðế, một trong những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhứt và được tôn thờ nhứt qua bao triều đại và chế độ chính trị tại Việt Nam.
(3)Cựu Thiếu Tướng Ðỗ Mậu cuả Việt Nam Cộng Hoà, người giúp phe quân nhân lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963, viết quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, một hồi ký cho hay tại sao ông phản bội vị đỡ đầu tinh thần trước đây của mình là Tổng Thống Diệm để đứng về phe đảo chánh do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Phe đảo chánh đã giết vị tổng thống và bào đệ của ông rồi lên cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam. Các Tướng Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi và, gần đây nhứt, Tôn Thất Ðính cũng viết hồi ký về cuộc đời binh nghiệp và những đóng góp của mình vào đất nước mà các vị đó đã giúp cho bại trận.
(4)Nhiều người, sau khi từ Việt Nam trở về, đã giúp quảng cáo cho du lịch Việt Nam. Có người đã viết cả những bài báo dài khen ngợi những đổi mới tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, với ngụ ý rằng Việt kiều hải ngoại nên thử về thăm đất nước một phen. Tất cả những việc làm này đều nhân danh tổ quốc và dân tộc.
(5)Xin xem Việt Nam Văn Hoá Sử Cương của Ðào Duy Anh và Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
(6)Ðối với người Mỹ, các công trình sau khi tốt nghiệp đại học thiệt đáng kể, vì họ không dừng lại ở mảnh bằng kiếm được mà đánh giá cao những phát minh, nghiên cứu hoặc sáng tác cuả người mang bằng cấp đó. Sinh viên các nước khác đến du học tại xứ này lấy được bằng cấp xong thường về xứ làm quan to, và coi như thoả mãn với thành tựu khoa bảng của mình.
(7)Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong một bài giảng nhan đề Thập Ðại Bịnh đăng trên Tập san Dấn Thân, tháng 5 & 6, 1999, gọi đó là bệnh phô trương chiến thắng. Thập Ðại Bịnh là 10 thói hư tật xấu của người Việt Nam mà theo tác giả thì nay đã biến thành những căn bệnh hầu như hết thuốc chữa.
(8)Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đó là bệnh cá nhân chủ nghĩa. (bđd).
(9)Theo Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Cộng Sản Việt Nam chủ trương toàn dân phải kế thừa có phát triển nền văn minh rực rỡ của Việt Nam mà tiền nhân đã để lại. Phê phán chủ trương này, tác giả viết: Chủ trương rất đẹp, nhưng họ [Cộng sản] lại tự hào chỉ có Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản, chỉ có nền văn học, văn nghệ ôhiện thực xã hội chủ nghĩaọ mới phát triển được truyền thống dân tộc một cách trung thực và tốt đẹp, ngoài ra không một ai khác. (sđd).
(10)Cựu tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Tướng Lê Quang Lưỡng, trong một bài viết đăng trên Ðặc san Hoa Dù Denver, 30 tháng Tư năm 1998, đặt nghi vấn về ý đồ của vị tổng tư lệnh quân đội, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, khi ông ra lệnh xé lẻ đại đơn vị vũ bão hàng đầu này của quân lực ra từng lữ đoàn riêng rẻ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tại Việt Nam. Trước đó, Ông Thiệu cũng đã ra lệnh buộc một đại đơn vị vũ bão hàng đầu khác, Sư Ðoàn Thuỷ Quân Lục Chiến, phải cấp tốc cùng với Biệt Ðộng Quân và bộ binh rút lui khỏi Vùng I Chiến Thuật, làm cho sư đoàn này bị thiệt hại rất nặng vì phải hứng chịu toàn bộ gánh nặng của một cuộc rút quân không có chuẩn bị. Nhiều cấp chỉ huy TQLC từng vào sinh, ra tử để tái chiếm và giữ vững từng tấc đất của vùng giới tuyến khỏi tay Cộng sản trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, 1972, đã uất ức tự sát khi bị địch bao vây và phục kích.
[Ðiều cần ghi nhận là Miền Nam Việt Nam đã không sụp đổ chỉ vì những hành động có tính cách không ăn được thì đạp đổ đó của cựu Tổng Thống Thiệu, mà vì chúng ta đã bị đồng minh Mỹ bỏ rơi. Một khi Mỹ đã bỏ rơi rồi, không ai —kể cả người anh hùng tận trung báo quốc Nguyễn Khoa Nam— có thể giữ vững Miền Nam hay xoay chuyển tình thế trong giờ phút đó, vì chúng ta đã quá tuỳ thuộc vào viện trợ Mỹ. Vận nước đã đến hồi như vậy, cho nên mình cũng khó trách cứ riêng ai được.]
(11)Nhiều người vẫn nghĩ rằng Tổng Thống Thiệu đã chơi khăm Tướng Minh Lớn cho bỏ ghét, vì giữa khi cuộc chiến đang khốc liệt và tinh thần quân dân Việt Nam Cộng Hoà có lúc đang lên cao, vị cựu lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm và cũng là lãnh tụ của cái gọi là thành phần thứ ba tại Miền Nam Việt Nam (mà Cộng Sản ưa thích) lại hô hào một giải pháp hoà bình, với chủ trương rằng Việt Nam Cộng Hoà nên đơn phương ngưng chiến đấu mà tiếp tục thương thuyết với Việt Cộng là phía luôn luôn áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa đàm trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Dĩ nhiên là Tướng Minh đã quá tin vào phe Cộng Sản nên mới chịu nhận trách nhiệm lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà sau khi một trong những phòng tuyến cuối cùng của phe chính phủ là Xuân Lộc, cách Sàigòn 70 cây số về hướng Ðông Bắc, đã mất — hay nói cho đúng hơn là sau khi quân Cộng Sản, mệt quá, đã bỏ không đánh Xuân Lộc nữa mà đi vòng về phía Sàigòn.
(12)Xin xem When Hell Was In Session (Rớt Xuống Âm Ty) cuả Jeremiah A. Denton, một Ðại tá Hải Quân Mỹ từng bị Cộng Sản Bắc Việt bắt giam tại Nhà tù Hoả Lò Hà Nội sau khi phi cơ cuả ông bị bắn rơi trên vùng trời Bắc Việt trong Chiến Tranh Việt Nam. Nhà xuất bản Traditional Press, Alabama.
(13)Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đây là bệnh bè phái chia rẽ. (bđd).
(14)Thành tựu lớn nhứt về kiến trúc của Việt Nam cổ xưa là Thành Cổ Loa thời An Dương Vương Thục Phán mà nay đã bị thời gian với bao lớp sóng phế hưng và binh lửa tàn phá. Các tài liệu của Cộng Sản Việt Nam mô tả thành xây trên một khu đất cao và rộng, diện tích 92 hec-ta, nằm trên tả ngạn sông Hoàng Giang, gồm ba vòng thành theo hình xoáy trôn ốc. Chu vi vòng ngoài 8km, vòng giữa 6,8km, vòng ba là 1,6km… Bề rộng chân luỹ 20m, rộng 4m, cao 12m. Giữa hai vòng thành, nơi xa nhất 400m, giữa các vòng thành có hào sâu có thể lưu thông bằng thuyền. Mỗi luỹ có nhiều lối, nhiều ngõ thông nhau…
(15)Theo Trần Trọng Kim, người Việt Nam cũng có khi quỉ quyệt và hay bài bác nhạo chế. (sđd).
(16)Trong Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975 (Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ), tác giả Nguyễn Ðức Phương, khi đề cập đến Trận An Lộc, đã không hề nhắc nhở tới vai trò của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù là một đơn vị vừa vô cùng thiện chiến vừa đầy tinh thần cảm tử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Nếu Biệt Cách Dù không nhảy vào giải cứu An Lộc thì làm sao có được hai câu thơ bất hủ vinh danh: An Lộc địa sử ghi chiến tích; Biệt Cách Dù vị quốc vong thân? Nên nhớ là để soạn nên chương này, tác giả đã tham khảo tất cả tới 32 quyển sách, báo được liệt kê trong một thư mục dà ở cuối chương. Các hồi ký hay tường thuật của phe ta về những trận đánh lớn khác —như trận Quảng Trị chẳng hạn— cũng vấp phải lỗi lầm tương tự tuỳ theo người viết thuộc màu áo, màu mũ nào.
(17) Thiệt ra, từ lâu đã có Thuyết Việt Nho, một công trình nghiên cứu hết sức khoa học và nghiêm túc do Giáo sư Kim Ðịnh khởi xướng và thuyết minh qua 14 tác phẩm mà ông đã viết. Ðại khái, tác giả cho rằng văn minh và văn hoá Việt Nam có trước hay ít ra cũng đồng thời với văn minh và văn hoá Trung Hoa, bởi vì giòng giống Việt (Bách Việt) từ phương Bắc đã tiến vào Trung Hoa trước để lập nên các triều đại cuả Vua Phục Hi, Thần Nông và Huỳnh Ðế. Sau đó Hoa tộc (tức Hán tộc) tràn đến. Và sau trận đánh tại Trác Lộc giữa Hoàng Ðế (lãnh đạo Hoa tộc) và Si Vưu (lãnh đạo Viêm Việt tộc), Si Vưu chết nên giống Viêm Việt lùi bước dần về phương Nam để trở thành người Việt Nam ngày nay. Trong quyển Nguồn Gốc Văn Hoá Việt Nam, Giáo sư Kim Ðịnh vạch rõ rằng Việt Nho chủ trương nhân chủ, dân quyền, bình quyền, bình quyền nam nữ, quân bình tình lý hay là văn võ song hành.
(18) Sử chép rằng đời Nhà Trần, sau những trận đánh Chiêm Thành, quan quân Ðại Việt thường bắt đem về nước các cung nga, vũ nữ cuả Chiêm Thành. Các đặc sứ văn hoá này đã truyền bá nghệ thuật Chiêm Thành tại Việt Nam qua các vũ điệu cung đình mà họ trình diễn, làm say mê ngây ngất triều đình ta và làm cho ta phải lật đật bắt chước.
(19)Vào đúng lúc có Cuộc Ðấu Xảo Ba-lê, Phan Châu Trinh đã gởi cho Vua Khải Ðịnh một bức thơ dài, đại khái ông hài tội nhà vua là chỉ lo sống xa hoa, ưa xiểm nịnh và chuộng sự quỳ lạy cho rõ mình là một đấng quân vương mà không hề để ý đến phúc lợi của dân tộc Việt Nam lúc đó đang nằm dưới ách đô hộ cuả thực dân Pháp. Bức thơ có tác dụng như một gáo nước lạnh tạt vào mặt một vị hoàng đế, mà vào thời đó nếu không phải là một nhà Tây học được Hội Nhân Quyền Pháp hậu thuẫn triệt để như Phan Châu Trinh thì không một sĩ phu Việt Nam đương thời nào dám dỡn mặt.
(20)Nhiều người vẫn tin rằng dân tộc Việt Nam mình đặc biệt có khả năng xâm thực và làm hư hỏng bất cứ học thuyết đạo đức hay ý thức hệ chính trị nào được du nhập vào Việt Nam, cho dù đó là đạo lý Khổng Mạnh, học thuyết dân chủ Tây phương hay ý thức hệ Mác-xít Lê-nin-nít!
(21)Xin xem Vì sao tôi bỏ Quân Ðoàn I cuả cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, đăng trong Tạp chí Sóng Thần 1999, Kỷ Niệm 45 Năm Thành Lập Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà.
(22)Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, nghìn năm chưa dễ đã ai quên. Thơ Thế Lữ.
(23)Hai triết gia vô thần Ðức của thế kỷ 19 là Feuerbach vả Nietzsche lần lượt rao giảng tin dữ Thượng Ðế đã chết, và mọi giá trị truyền thống của con người theo đó cũng chết luôn. Hễ đã không có Thượng Ðế thì cuộc đời chẳng hề có mục đích và ý nghĩa gì, và con người được phép làm mọi sự mà y muốn.
(24)Ai cũng phải nhìn nhận rằng, qua cuộc xung đột tại Việt Nam, Cộng Sản Việt Nam đã chứng tỏ họ thuộc loại tàn ác nhứt, nhì thế giới, với thành tích thủ tiêu thiệt lẹ đối thủ theo phương châm thà giết lầm hơn bỏ sót, pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư (chỉ vì các khu này tình cờ nằm gần các căn cứ quân sự Mỹ hay Việt Nam Cộng Hoà), bắn giết dân lành vô tội ngay trong lúc họ đang chạy trốn Thần Chiến Tranh do chính họ thả ra, tạo nên những Ðại Lộ Kinh Hoàng và Quốc Lộ Máu vang danh trong lịch sử. Nhưng vì sao Ông Trời lại để cho họ chiến thắng? Tại sao Ông Trời lại bắt những người cầm súng bảo vệ dân lành và tự do cho dân tộc như các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải thua, phải chết thảm? Nếu còn phải đợi tới “ngày phán xét cuối cùng” lúc đó Ông Tròi mới chịu ra tay trừ bạo thì ai còn biết Ông Trời ở đâu?
(25) Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu, nghĩa là Lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng không ai có thể thoát ra được. ý nói con người dù có thể thoát được luật pháp trần gian (nhờ cướp được chính quyền nên khỏi bị thế gian trừng trị) nhưng không thể thoát khỏi lưới Trời, bởi vì Thượng Ðế chí công và đầy quyền năng sẽ trừng phạt những kẻ gian ác, cho dù kẻ đó hiện đang cầm quyền sinh sát trong tay.
(26) Một giáo sư trường Cao Ðẳng Sư Phạm Sàigòn đã tâm sự như vậy với các giáo sinh của mình về tình hình trường trại và trình độ học vấn của học sinh Miền Bắc Việt Nam từng là học sinh của bà trước đây.
(27) Người Việt Nam tại quê nhà hiện nay, có lẽ vì quá thiếu thốn nhưng lại ham hưởng thụ vì cuộc đời tuyệt vọng, luôn luôn đánh giá Việt kiều hải ngoại về thăm quê hương qua cách chi tiền rộng hay hẹp của mấy người này. Thương thay cho những Việt kiều nào tiền thì không có là bao mà tình yêu quê hương đất nước thì dạt dào như biển rộng, sông dài và đại dương bát ngát, chi tiền nhỏ giọt như xê-rum phòng mổ nên mới bị người thương xỉa xói là đồ Việt kiều kẹo kéo!
(28) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân viết về khả năng hội nhập các nền văn hoá nước ngoài của dân tộc Việt Nam như sau: “Cái cốt tuỷ, tinh hoa cuả các thứ du nhập hầu như không có đất tốt để thị hiện mà chỉ có cái phần đuôi cặn bã của những thứ đó mới tung hoành ngang dọc trên mảnh đất này [Việt Nam]. Tóm lại, chúng ta chạy theo cái đuôi cuả mọi nền văn hoá bên ngoài mà không thực sự nắm bắt được cái tinh lý ảo diệu của các luồng tư tưởng ngoại lai.” (sđd).
(29) Tôi làm tôi mất nước, bút ký cuả Lê Văn Phúc. Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ.
(30) Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, trong một bài nói chuyện trước các chiến hữu Không Quân của ông cách nay vài năm tại Texas, đã hô hào một cuộc hợp tác chính trị với Cộng Sản Việt Nam như là một cách thế để người Việt trong và ngoài nước cùng nhau bắt tay kiến tạo quê hương. Lời hô hào của vị cựu tướng Không Quân đã lập tức bị những người Việt chống Cộng tại khắp nơi trên thế giới phản đối kịch liệt, cho là đón gió trở cờ. Dường như thời gian gần đây cựu Tướng Kỳ đã có những tiếp xúc không chính thức với Hà Nội để mưu cầu một chỗ đứng chính trị nào đó nơi quê nhà, vì vị cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, người từng đem máy bay ra oanh tạc Bắc Việt hồi 1965, coi như không làm nên được chuyện gì kể từ khi qua sống lưu vong bên Mỹ. Có tin là một cựu tướng lãnh khác cuả Miền Nam Việt Nam, Nguyễn Khánh, cũng đang thực hiện những cuộc phiêu lưu chính trị tương tự. Cũng như ông Kỳ, vị cựu tướng lãnh này vẫn tin rằng một ngày nào đó Cộng Sản sẽ phải cần tới ông. Riêng cựu Tổng Thống Dương Văn Minh thì đã công bố kế hoạch về sinh sống tại Việt Nam với Cộng Sản. Vị cựu tướng bốn sao từng có công sát hại một trong những địch thủ lợi hại nhứt của Cộng sản là Tổng Thống Diệm của Miền Nam Việt Nam trong một cuộc đảo chánh hồi năm 1963, nghĩ rằng mình đã lại có công đưa Việt Nam Cộng Hoà vào chỗ đầu hàng không điều kiện quân Cộng Sản Bắc Việt hồi tháng Tư năm 1975, tiết kiệm được nhiều xương máu cho cả đôi bên trong cuộc chiến.
Bà Hạnh Phước, Hoa Hậu Phu Nhơn Liệt Quốc Trong Vũ Trụ, 1995 (Mrs. All Nations Universal, 1995), Giám Ðốc Thẩm Mỹ Viện Hạnh Phước tại Houston, Texas, vì lý do cạnh tranh nghề nghiệp, đã bị một tờ báo Việt ngữ điạ phương chửi bới liên tục. Vị chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo trịnh trọng tuyên bố: “Chừng nào Bà Hạnh Phước còn thì tờ báo chúng tôi vẫn còn,” ý nói tờ báo này được sinh ra với sứ mạng chửi Bà Hạnh Phước! Thiệt là: “Truyện Kiều còn thì tiếng Việt hãy còn” (Phạm Quỳnh), và “Tôi chửi bới, vậy tôi hiện hữu” (kiểu Descartes).
(32) Tất cả những trại “học tập cải tạo” tại Miền Nam Việt Nam đều có một giáo trình 10 bài học chính trị cơ bản cho sĩ quan, viên chức “ngụy” (tức chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũ), bắt đầu bằng Bài Số 1 “Ðất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng”. Các bài còn lại là về cuộc chiến đấu chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính sách “khoan hồng nhân đạo” của Chính phủ Cách mạng (Cộng sản) dành cho “nguỵ quân, nguỵ quyền”… Trên lý thuyết, “cải tạo viên” học xong 10 bài này thì coi như mãn khoá và được trả về nguyên quán. Nhưng vì 10 bài này có xào tới, nấu lui cũng chỉ lâu khoảng hai tháng cho nên không có ai được về, mà tất cả đều phải ở lại tiếp tục “cải tạo lao động” cho đến khi “thật sự tiến bộ”. “Cải tạo lao động” tức là đi lao động khổ sai tại đồng ruộng hay núi rừng. Muốn được coi là thật sự tiến bộ, cải tạo viên phải ở lại trại tập trung từ ba đến năm hay mười năm hay lâu hơn nữa, thường là tuỳ ở sức nặng của món “nợ máu” đối với nhân dân (tức là Cộng sản) mà “cải tạo viên” đã vay trong cuộc chiến.
Xin xem Paris By Night 40, chủ đề Mẹ, cuả Nhà Thuý Nga Paris. Giám đốc sản xuất là Tô Văn Lai; biên tập & giới thiệu chương trình là Nguyễn Ngọc Ngạn.
(34) Ðoạn cuối bản quốc thiều nước Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam [Cộng Sản Nam Việt Nam] trước ngày bị chính đàn anh Cộng Sản Bắc Việt yêu dấu của họ thủ tiêu: Vận nước đã đến rồi, nguyện hy sinh đến cùng. Dựng xây non nước sáng tươi muôn đời… Giải Phóng Miền Nam Hành Khúc.
(35) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: Chúng ta có thể có một đôi cá nhân thông minh,xuất sắc, nhưng để tạo nên một ôcái tiếngọ chứ trên thực tế không có một đóng góp nào đáng giá. (sđd).
(36) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: “Kể không hết những thói hư tật xấu của người Việt Nam. Ðến nay, những thói xấu đó càng trở nên lộ liễu khiến cả thế giới phát sợ.” (sđd). Trên thực tế, tại hải ngoại đang có hiện tượng chối phăng nguồn gốc Việt Nam khi nào có thể được, điễn hình là một số người trong giới ca sĩ chuộng sĩ diện. Ca sĩ hát tiếng Việt Nam gì mà hễ được hỏi tới nguồn gốc thì cứ khai mình là người Tàu! Vì sao được sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, nói tiếng Việt Nam từ thuở mới lọt lòng mẹ, và nhờ có người Việt Nam đổ máu ra trong chiến tranh mới được quốc tế cho đi tỵ nạn mà lại không dám nhận mình là người Việt Nam? Té ra là vì sợ. Mà điều gì làm cho mấy người này phải sợ? Hỏi tức là trả lời.
(37) Khổng Tử: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nghĩa là: Trước hết phải tu dưỡng tánh tình để trở thành người có đạo đức. Sau đó mới tính tới chuyện quản lý gia đình. Kế đó mới đem tài năng ra mà trị nước. Và sau cùng, khi đất nước đã thịnh vượng, ta mới tính đến chuyên mang lại an lạc, thanh bình cho tất cả mọi người trên thế gìan.
(38) Lời nhạc trong Chuyến Ðò Vĩ Tuyến của Lam Phương.

Bài II

Nếu Nguyễn Hồi Thủ, người dịch “Người Trung Quốc Xấu Xí” của Bá Dương đã gióng trước, “Có thể giữ được lòng bình an nếu đừng đọc cuốn sách nầy”… Quả thật là như vậy, vì chỉ đọc bài giới thiệu của Phan Thanh Tâm thôi, chúng ta đã lậm phải ngay điều xa xót với câu hỏi cay đắng: Chẳng lẽ người Việt cũng “xấu” đến độ đáng sợ như thế sao? Câu trả lời không thể khả quan hơn vì như Saroyan Vann đã tường trình quá đầy đủ và quá hữu lý (ở phần I), mà chúng ta dẫu đào cái hố sâu bao nhiêu, tiếng vọng của lời tố giác “Vua Midi mọc tai lừa!!” cũng không thể lấp liếm được. Vâng, người Việt Nam đã trở nên thậm tệ dị dạng, và biến tướng đến độ thảm thương – Ðã đến lúc chúng ta phải chập nhận sự thật, dẫu khắc nghiệt đến bao nhiêu.
Có thể tạm bỏ qua một bên sự kiện tranh chấp quyền lực chính trị bằng biện pháp quân sự giữa hai phe Quốc-Cọng, mà lần khởi sự và buổi kết thúc (ắt phải có giữa hai phe lâm chiến) đã diễn ra cách đây hơn nửa kỷ, quá 25 năm. Nói như thế không phải để ‘chạy tội”, đánh tráo trách nhiệm cho tập đoàn người cộng sản ở Hà Nội về tình trạng sa đọa của Việt Nam hiện tại. Nhưng, bởi chúng ta cần trung trực, khách quan hơn để nhìn vấn đề từ nguồn cội, mà tác động đích thực, quyết định trực tiếp đến vận mệnh, tương lai đất nước, hầu định hình, định tính lại diện mạo, bản sắc người Việt Nam. Chúng ta nói về diễn tiến nguy hại, hậu quả lâu dài khi – nền giáo dục nhân bản và dân tộc mà người Việt tối cần thiết dần bị hũy hoại và tiêu diệt.- Ðầu mối tội của người cộng sản là nơi đây.
Chẳng đợi đến năm 1883, 1884, hai Hòa Ước Quý Mùi và Giáp Tuất hợp thức hóa chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, giới sĩ phu mới có phản ứng không chịu khuất phục, nhưng ngay sau khi quân Pháp đánh chiếm Ðà Nẵng, 1858; thành Chí Hoà, ba tỉnh Miền Tây Nam Bộ, 1861, từ Nam ra Bắc, Trương Ðịnh, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Thuyết, Phan Ðình Phùng, Cao Thắng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật…. đã thống lãnh quân binh, phối hợp với những vị vua minh duệ Duy Tân, Hàm Nghi liên lũy chống Tây xâm, giúp vua, cứu dân, giữ nước. Trí thức quan lại cũng không thiếu trí tuệ viễn kiến hoặc dũng khí bản lãnh để thúc dục triều đình cải cách, hoặc cùng đành tiết tháo hy sinh, tỏ lòng tận trung báo quốc, trường hợp của Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu. Và đỉnh cao trung dũng Kẻ Sĩ Việt Nam được đánh dấu bởi cái chết bi tráng của mười ba Liệt Sĩ Quốc Dân Ðảng nơi pháp trường Yên Báy, 17 tháng 6, 1930. Thế nhưng, năm mươi năm sau, hơn nửa thế kỷ được thụ lãnh “học thuật” Tây phương, nơi phương tây hàng đầu của tổ chức và kỹ thuật cao, phía Tây- Âu với Mỹ, Pháp, phía Ðông-Âu với Nga, Ðức – cuối cùng, tiếng than xé cật đã vang lên vô vọng – Kẻ sĩ nay ở phương nào? Kẻ sĩ nào thấy đâu?! Tình trạng bi thảm nầy hẳn phải có một đâu mối. Ðầu mối tiên khởi và độc nhất: Người Việt ở thế kỷ qua đã hẳn thiếu một nền QUỐC HỌC. Và đảng cộng sản ở Hà Nội là thủ phạm hàng đầu của “sự nghiệp tai họa”- thay thế nền quốc học khẩn thiết nầy bằng một kế sách mạo danh xã hội, mót nhặt từ những tay sát nhân siêu đẳng. Chúng ta hãy xem thuật “dạy người” của cán bộ cọng sản đệ tam quốc tế.
Do quá khốn đốn, quẩn bách trong cuộc sống, nên con người số đông luôn cần phép lạ và ân huệ mà thực tại trần thế lại không thể nào đáp ứng được, nếu không muốn nói còn tạo nên nguy biến trầm trọng hơn. Thế nên, các tôn giáo đã được các bậc đại trí, từ nhân khai sáng và mãi tồn tại cùng nỗi khổ con người. Chúng ta có thể nói chắc như thế mà không sợ sai lầm. Nhưng người cộng sản lại ngang ngược phủ nhận nhu cầu sinh tử nầy, họ khinh miệt đánh giá tôn giáo như là một hình thái tồi tệ tinh thần, loại “thuốc phiện của nhân dân”, và quyết tâm trị liệu cơn say thuốc nầy bằng biện pháp bạo lực. Sau khi thanh toán “ông trời” – không đáng một chữ viết hoa, và cưỡng ép người dân vào ngỏ cụt lịch sử lầy lội đẫm máu (phần I), người cộng sản (cộng sản Á Châu vốn là kẻ theo học xuất sắc, cộng sản Việt Nam lại là “đỉnh cao trí tuệ siêu việt” của quá trình thụ huấn khốc hại nầy) tra vào tay nhân dân một “ân huệ” độc địa nhưng cũng thích hợp vớI tính ác tự thân của người – quyền giết người – được biện hộ vì mục đích, yêu cầu của chủ nghĩa và chế độ. Và giới gọi là “kẻ sĩ” thêm một lần được “vận động cách mạng”:
Từ, Ðường vinh quang xây xác quân thù… Tiến Quân Ca của Văn Cao”, đến

Giết! Giết! Giết!…
Bàn tay không phút nghỉ
Ðể ruộng đồng thêm tốt
Lúa thêm xanh
Chế Lan Viên

Trong hơn năm mươi năm, cán bộ cộng sản đã cưỡng ép, thực tập buộc người dân nhiễm thói quen – một bản năng thứ hai – sống cùng cảnh giới của sự ác và hóa thân nên tính ác. Quá trình tàn nhẫn nầy không loại trừ đến cả tình thương, trái tim người mẹ – tất cả đồng bị “chính trị hóa”:

Bầm thương con nên bầm yêu đồng chí
Bầm quý con nên bầm mến anh em
Tố Hữu

Hoặc giây phút linh thiêng của cuộc tồn sinh – khi người sản phụ lâm bồn – được so sánh, đánh giá như động tác bắn giết một loại quân thù tàn tệ

Tao đánh mầy hân hoan như sinh đẻ
Và linh thiêng như xây dựng kỳ đài
Chế Lan Viên

Ðể cuối cùng hoàn tất nên “con người xã hội chủ nghĩa” với nỗi ngu muội mê thiếp theo hình ảnh của một “lãnh tụ tôn giáo mới”

Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương ông thương mười!!
Tố Hữu

“ÔNG” chính là “Stalin, tên giết người” ghê tởm nhất của lịch sử nhân loại với thành tích 20 triệu người Nga và những dân tộc thống thuộc đế quốc sô-viết, chết dưới tay y trong 29 năm cầm quyền. Hoặc, một mẫu mực khác gần gũi, quen thuộc hơn, Mao Trạch Ðông với “tính sáng tạo vô sản”, dùng xe hốt rác để dọn xác người, chỉ một thành phố Nam Kinh sau một lần Hồng Vệ Binh xuống đường biễu dương lực lượng năm 1965. Trước những đỉnh cao thắng lợi nầy, ba ngàn người Huế bị chôn sống trong Tết Mậu Thân, 1968, hoặc 800 bộ đội miền Bắc của sư đoàn 308 bị tan xác bởi một pass B52 nơi mặt trận Khe Sanh cuối năm 1967, (do thực hiện âm mưu thí quân, đánh lạc hướng Tướng Westmoreland, để đoạt thắng lợi trong lần tấn công đầu năm 1968) không hề làm Võ Nguyên Giáp chạnh lòng, nên ba mươi năm sau, khi nhắc lại với người Mỹ, y vẫn hân hoan giương giương tự đắc về một “chiến thắng Khe Sanh, Mậu Thân 1968″.
Vâng, khi giết người đã là một “sự nghiệp”, máu người là “chất men vinh quang”, xác chết của đồng bào mình là món hàng phải trả giá bằng những tờ giấy bạc mới được phép đem chôn (Xác người chết vượt biên trôi vào bãi biển Vũng Tàu nhân ngày giỗ Nguyên Hồng, Thơ Trần Mạnh Hảo) – chữ “xấu xí” có còn đủ nghĩa để gọi đến “người Việt Nam” nữa hay không. Tuy nhiên, trong khi đó, vẫn còn một số người không nhỏ – Lẽ tất nhiên cũng là”người Việt Nam ta” tung hô, ngợi ca và cố công bắt chước những kẻ “xấu xí cách mạng vô sản tiên tiến” kia.
Và về phía cộng hòa, trách nhiệm dạy người được trao gởi vào tay những viên cai, đội mà cùng đích “võ nghiệp” không gì hơn là một vài mẫu kim loại hình ngôi sao được đeo lên cổ áo, để có “uy tín” chiếm giữ nhiệm vụ “đặc trách văn hóa”, nên thành “thần tượng tuổi trẻ” với kỹ thuật cao giải tử vi, chọn gà chọi và đánh bài mạt chược. Bài viết của Phan Thanh Tâm sau đây e rằng không đủ vào đâu.

Vạch Áo Cho Mọi Người Cùng Xem
PHAN THANH TÂM

Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại và nhất định không có chuyện vạch áo cho người xem lưng. Ðó là phương châm của phe ta. Tại sao vậy? Tự cho là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên, và có quá khứ hơn bốn ngàn năm văn hiến nên người mình lúc nào cũng tốt, cũng bãnh, cũng anh hùng, xuất chúng. Hễ nói tới người ngoại quốc thì xách mé, trịch thượng; gọi họ bằng thằng, bằng con. Và nước VN phải là minh châu trời đông, là bó đuốc soi đường. Tuy nhiên gần đây, có dư luận lên tiếng là phải xét lại cái ý tưởng tự tôn, tự đại, ngông cuồng đó. Họ cho rằng cứ hót ca và, nâng bi dân tộc mình một cách lộ liễu như vậy hoài thì ta sẽ mãi mãi ngất ngư như con gà mắc dây thun. Chắc hẳn phải có vấn đề, có trục trặc đâu đó vì tài khôn như vậy mà chưa ra cái con gì cả trong khi các nước lân bang ở Ðông-Nam Á nay đã là con cọp, con beo, con sư từ rồi.
Cái hay ở chỗ, người tạo ra dư luận là một nhà thơ hồi nhỏ ở Saigon, du học ở Nhật năm 1966, định cư ở Pháp năm 1969, trong khi sang Tàu, vớ đựơc một cuốn sách khiến ông ‘thích thú quá cỡ” và ông nghĩ rằng “bất cứ người VN nào khác đọc được, bảo đảm cũng sẽ thích thú” như ông. Ông tin rằng quyển sách sẽ “giúp nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hóa của mình trong giai đoạn hiện nay”. Vì thiện ý, ông bỏ công ra dịch và mong có nhiều người đọc. Nhà xuất bàn Chân Mây Cuối TrờI phát hành bản dịch lấn đầu tiên tại Paris năm 1998. Cuốn sách được đón tiếp nồng hậu. Giới báo chí đua nhau nói về nó. Nhà xuất bản Văn Nghệ ở quận Cam, thủ đô của người tị nạn, hưởng ứng in lại và quyển sách được coi là bán chạy trong năm 1999.
Nhà báo Lê Ðình Ðiểu, trước khi qua đời, trong khi nằm trên giường bệnh, viết bài điểm sách đăng trên Thế Kỷ 21 số tháng 4/99: “Ðọc Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương, người VN nào cũng liên tưởng đến việc đây là chuyện của mình. Có lẽ chỉ thay cái tựa là Người Việt Nam Xãu Xí cuốn sách cũng vẫn có ý nghĩa. Phải chăng đó là lý do nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ bỏ thì giờ, công sức ra dịch cuốn sách sang Việt ngữ?” Trả lời câu hỏi của nhà phê bình văn học Ðặng Tiến, đăng trong Việt Mercury, dịch giả, tên thật là Nguyễn Khôi Minh, sinh năm 1945 tại Hà Bắc nói, sự đời là thuốc đắng đả tật. Có chướng tai cũng phải nói. Ông tâm sự, “không đọc quyển sách này có khi đở phải nghĩ ngơị lôi thôi; còn chẳng may đọc có thể sẽ bị đau khổ nhiều hơn là thích thú”.
Trong bàì phỏng vấn hồi tháng 10/99 này, khi đề cập về những cuốn sách như Người Việt Ðáng Yêu, Người Việt Cao Qúi, dịch giả, đã có bảy tập thơ xuất bản ở ngoại quốc từ năm 1968, cho biết, “Ðó là chuyện ngược đời. Ở những nước tiên tiến giàu mạnh, chưa có nước nào bốc thơm dân tộc mình một cách lố bịch như thế cả. Người Mỹ, người Nhật, người Pháp, người Ðại Hàn đều chỉ có những sách nói lên khuyết điểm, những cái tồi dở của dân tộc, đất nước mình. Bây giờ đến lượt người Trung Quốc. Cuốn Người Trung Quốc Xấu Xí xuất bản ban đầu ở Ðài Loan; sau đó được tái bản ở lục địa. Họ đã biết nghĩ, tuy là môt nước lớn, văn hóa lâu đời, nhưng nếu cứ mãi ra rã về những cái vĩ đại thì theo nhá báo Bá Dương, tác giả cuốn sách, Trung Hoa sẽ đi đến chỗ diệt vong mà thôi”.
Nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ, trong phần lời người dịch viết, ngay sau khi từ Trung Quốc về đến VN, ông đã đưa bản sao cho một người bạn ở Hà Nội và động viên người này dịch ra tiếng Việt. Nước Trung Hoa Cọng Sản đã chấp nhận cuốn sách. Người Âu Mỹ cũng thế, thì không có lý do gì người VN lại không thể được đọc nó, cho dù không phải để học hỏi, mà có thể vì hiếu kỳ, thông tin về một nước láng giềng. Hơn năm năm, ông đã hy vọng là cuốn sách sẽ xuất hiện tại VN; nhưng cho đến nay, người trong nước vẫn chưa được đọc. Theo dịch giả, cuốn sách sẽ rất có ích cho tất cả các cộng đồng có liên quan it nhiều đến văn hóa Trung Quốc. Chủ đích của tác giả Bá Dương là nếu muốn phục hưng dân tộc, phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết điểm, sai trái của mình.

Ðọc người rồi ngẫm đến ta

Tác giả Bá Dương, là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và là sử gia, sinh năm 1920, chạy sang Ðài Loan năm 1949, ở tù 10 năm vì các bài viết bị xem là phạm thượng. Ra tù ông đi diễn thuyết về hiện tượng Người Trung Quốc Xấu Xí. Cuốn sách gồm những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông. Có người cho rằng nếu không đọc được sách của Ba Dương là một sự thiệt thòi lớn. Sách hấp dẫn, hơn chuyện chưởng của Kim Dung, vì nó khiến thiên hạ phải: đọc người rồi ngẫm đến ta. Thấy sao nó giống dữ vậy cà. Giống dễ sợ. Theo ông, văn hóa Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết, càng lâu càng thối, thành một vại tương rồi. Ðặc tính rõ nhất của người Trung Quốc là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Có nhiều nơi, nếu người Trung Quốc đến ở là những người khác dọn đi.
Bất kỳ ở chân trời góc biển nào hễ có người Trung Quốc là có cắn xé nhau. Mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ổ dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi. Người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được. Mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đòan kết. Bất cư xã hội người Hoa nào it nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Họ chưa biết tầm quan trọng của sự hợp tác; nhưng họ có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đòan kết, hay ho đến Thượng Ðế cũng có thể khóc được. Những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: chết cũng không chịu nhận lỗi. Họ thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hay tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định.
Người Trung Quốc sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hữu, trung lập, độc lập, thiên tả, trung, trung thiên hữu, hưũ thiên trung vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò.Người này đối vớI kẻ nọ đều mang mối cựu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Ðối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ, hăm dọa người Trung Quốc lại không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Người Tây Phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết. Sống trường kỳ trong cái hũ tương lâu ngày quá tự nhiên sinh ra tâm lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ; không có can đảm dám khen người khác, chỉ có dũng khí dùng để đả kích kẻ khác; chửi bới sau lưng; yêu thì sợ chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Họ vĩnh viễn không thể nào so sánh được với ngươi Do Thái, chỉ cần so sánh với người Nhật, ngươi Ðại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn năm ánh sáng rồi.
Người Trung Quốc sợ sệt đủ moị thứ trên đờì. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan không bao giờ bị tiêu diệt, và đã biến dân tộcTrung Quốc thành một dân tộc hèn mọn. Sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy củu giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng. Trong 4000 năm, từ Khổng Tử trở đi, không còn có một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Cái hũ tương văn hóa, cái hũ tương thối làm cho người Trung Quốc xấu xí, không thể dùng tư duy của mình giải quyết, phải bắt chước, phải dùng cái tư duy của kẻ khác; lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc,bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo âu.Trung Quốc diện tích rộng thế, lâu đời thế mà người Trung Quốc lại có một tâm điạ thật hẹp hòi, không muốn ai hơn mình. Phải chăng Thượng Ðế đã phú cho chúng ta có một nội tâm xấu xa?
Trên đây là những đọan trích các ý tưởng tản mạn trong sách của nhà báo Bá Dương. Ai cũng biết, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hơn một ngàn năm đô hộ, lại sống sát nách một kẻ như thế, chẳng lẽ ta gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn? Họ sao ta vậy hay ta tệ hơn thì chẳng có gì lạ cả. Lại nữa, mỗi dân tộc có mỗi bệnh trạng xã hội. Bệnh trạng của ta cọng thêm bệnh trạng của anh bạn láng giềng thì chắc phải hết thuốc chữa; hèn gì nước ta lúc nào cũng loay hoay như gà mắc đẻ, lệt bệt đì sau thiên hạ. Nếu văn hóa Trung Hoa đã biến thành một cái hũ tương thối thì văn hóa ta là cái hũ gì? Hũ vàng hay là hũ mắm thối? Còn Người VN ra sao? Thử nhìn thoáng vào gương xem.

Mẫu người Việt Nam

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có đoạn tả tính tình người VN trước năm 1930 như sau: Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người VN có cả các tính tốt và các tính xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng có hay tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình nhưng mà đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật. Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang, và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỉ, sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn. Ðàn bà thì hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quí là tiết, nghĩa, cần, kiệm.
Với mẫu người nói trên và nếu cho rằng, văn hóa là sinh hoạt, ta không hiểu văn hóa ta là văn hóa gì, lại có thể sản sinh một tay gian hùng nhưng rất thành công như Trần Thủ Ðộ. Việt Nam Sử Lược của học gỉả Trần Trọng Kim cho biết, vì cốt gây dựng cơ nghiệp cho nhà Trần, dù tàn bạo đến đâu Trần Thủ Ðộ cũng làm cho được. Ông đã chôn sống cả giòng họ Lý. Trước đó, Trần Thủ Ðộ nói với vua Lý Huệ Tông, tuy đã bỏ ngôi vua, xuất gia đi tu, môt câu để đời “nhổ cỏ thì phải nhổ cả rể cái”. Trong khi đó, Nguyễn Trãi, đại công thần của vua Lê Lợi, thảo ra Bình Ngô Ðại Cáo, môt bản văn chương giá trị, và là tác gỉả câu đầy tình người “Thương người như thể thương thân”, trong tập Gia Huấn Ca, thì lại bị giết cả họ vì bị kết tội là dùng người thiếp đẹp và giỏi thơ, Nguyễn Thị Lộ, để mưu hại nhà vua.

Cụ Hoàng Văn Chí, trong cuốn từ Thực Dân đến Cọng Sản cho biết, vào những năm 1954 và 1956, khi Cọng Sản Việt Nam đem chiến thuật “Cải Cách Ruộng Ðất” của Mao Trạch Ðông, áp dụng tại Bắc Việt, mới thấy người mình sao lại có đầu óc nô lệ dữ vậy. Ðúng như cụ Trần Trọng Kim phê bình: “từ tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở”. Mà theo Bá Dương, Trung Quốc hiện tại còn là một nước dã man nguyên thủy, thì việc Cọng Sản Việt Nam đưa ra phương châm: “thà giết mười người vô tội còn hơn để thoát một kẻ thù” trong khi phát động chiến dịch long trời lỡ đất nói trên cũng là điều hiển nhiên thôi. Ở các nước văn minh thì khác. Nguyên tắc luật pháp của họ là: thà tha lầm hơn bắt lầm.
Mặc khác, trên sân khấu chính trị nước ta có một “diễn viên kỳ tài”, chữ của nhà văn Vũ Thư Hiên khi nói về Hồ Chí Minh, một người làm cách mạng chuyên nghiệp, được huấn luyện tại Nga, tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Ông tiến, ông thoái, khi hai bước, khi ba bước, khi khóc, khi cười, biến ảo khôn lường. Cả thế giới đêu nghe danh ông. Cho đến nay chưa ai biết rõ con đường bác đi. Theo giáo sư Nga Anatoli Sokolov, chuyên viên Liên Sô về Việt Nam Học, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông Phương ở Mạc Tư Khoa, trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, ông có trên 150 bí danh. Ðể cho “chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới” ông sẵn sàng mua chiến thắng đó “dẫu phải đốt sạch cả dãy Trường Sơn” hay phải “đánh Mỹ đến người VN cuối cùng”.Không hiểu khí thiêng sông núi VN thế nào mà lại có thể hun đúc một con người kỳ bí như vậy? Ông đã gây ra bao cuộc bể dâu, chết chóc.
Hồi thập niên 60, có bài Tâm Ca Số Năm của Phạm Duy mang tên Ðể Lại Cho Em nói lên thực tế của đất nước: “bây giờ chỉ còn là một mảnh đất bị chia cắt, cày xới lên bởi bom đạn. Hận thù nhân danh chủ nghĩa, bạo tàn vênh vang bề thế”; và “Ðường về tương lai nghẽn lối”. Thế hệ đàn anh chỉ đề lại “những giả dối, đê hèn, và vụng dại”. Bài hát lưu hành ở miền Nam rồi rơi vào quên lãng, bị át bởi tiếng xe tăng, máy bay, hỏa tiển, AK, M16. Vũ khí này được cung cấp bởi các nước đồng minh của hai miền Nam Bắc. Ðó là hệ quả của việc tìm đường cứu nước của bậc tiền bối. Kè đi Tàu, đi Nga, ngưòi đi Tây, đi Nhật, đi Mỹ. Ai cũng cho là thuốc mình mang về là thuốc tiên; nhưng vì muốn độc quyền trị nước nên VN thành chỗ thử lửa của cuộc chiến tranh lạnh.
Trong ba mươi năm nội chiến từng ngày, nửa nước từ con sông Bến Hải trở ra bắc theo Nga, theo Tàu; nửa bên này chống lại bằng dựa vào Tây, vào Mỹ. Cuối cùng miền Nam sụm vì hết điểm tựa. Hoa Kỳ rút lời cam kết, ngưng viện trợ. Chỉ nội hai tháng Ba và Tư năm 1975, cả một chế độ tan tành. Khôn sống, mống chết. Tướng tá cao chạy xa bay, tìm đường thoát thân. Trong lúc trời đất nổi cơn gió bụi mới thấy nhân tài, khôn lanh thì nhiều như lá mùa thu, còn tuấn kiệt thì như sao mai buổi sớm. Có bao nhiêu người đứng lại chịu chết, chịu tù, chịu nhục, chịu chia xẽ với thuộc cấp? Anh hùng tất phải hiếm. Ðiều đó dễ hiểu. Nhưng đâu rồi câu hát “Dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao”?
Ngày 30/4/1975 là ngày phơi bày rõ ràng bộ mặt của cấp lãnh đạo hai miền: miền Nam hèn kém, miền Bắc độc ác, xảo trá, đê tiện, đầu óc nô lệ. Sau khi chiếm Sàigòn, người Cọng Sản tìm cách tiêu diệt các thành phần tinh nhuệ bằng học tập cải tạo và vơ vét tài sản của miền Nam một cách có hệ thống bằng hai chữ quản lý. Họ lại đốt sách baó và cấm lưu trữ các sản phẩm văn hóa cũ như thời Tần Thủy Hoàng. Họ cố xoá bỏ căn cước của dân miền Nam. Dân miền naỳ không thấy được giải phóng mà thấy mình là dân bị trị, bị người anh em làm nhục, trả thù vì thế mới có chuyện người Việt dù chết vẫn tìm cách lao đầu ra biển, làm mồi cho hải tặc, cho sóng dữ. Ðến ngay “cả cái cột đèn nếu biết đi cũng còn muốn bỏ nước ra đi”? Dân tộc VN, có quá khứ dài lâu; anh em như thể chân tay, sao lại không thể sống chung với nhau, mà lại đi ra xứ người sống với thiên hạ?

Con Rồng Cháu Tiên?

Sau thế chiến thứ hai, chỉ trong vòng 20 năm, hai nước chiến bại, Ðức và Nhật đã phục hưng nhanh chóng, trở thành cường quốc kinh tế. Ông Bá Dương đã ví họ, “chẳng khác nào, một anh khổng lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục xuống đất, một lúc sau từ từ hồi tỉnh, đứng dậy phủi quần aó bước đi, vẫn đường đường là một hảo hán”. Còn nước ta, Việt Nam là một nước nghèo. Ðời sống nói chung so với các nủớc ở Ðông Nam Á hãy còn thấp. Tuy theo tin báo, hiện đã có 39.000 thuê bao Internet nhưng nhà nước lại tăng cường tốc độ các bức tường lửa (fire wall) để ngăn dân chúng vào Net. Người dân chưa được tự do xử dụng máy in, một phát minh từ thế kỷ 15 của ông Johann Gutenberg. Mọi ấn phẩm đều phải có giấy phép của chính quyền. Ở thời đại tin học mà còn phải làm báo chui, báo lậu như tờ Thao Thức của một số sinh viên thì phải kể là chuyện hiếm hoi trên thế giới.
Tháng 5/1999, nhà văn Dương Thu Hương, từ trong nước đã gửi lén ra hải ngoại một đoản văn. Theo cô: sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỷ, trên dãi đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào nam, từ nam ra bắc, và Chiến tranh không làm cho các công dân chín chắn hơn, khôn ngoan hơn, xử dụng quyền công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn, dễ thỏa hiệp hơn với sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác. Tại sao vậy? Ông Nguyễn Gia Kiểng, thuộc nhóm Thông Luận trong bài Vết Thương 30/4/1999 cho rằng: Ðó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Ðó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mõi, đã mất ý chí và lòng tự hào. Ðảng Cọng Sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc VN. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy.

Còn hải ngoại, được coi như là một VNCH nối dài thì thế nào?.Tờ báo Hợp Lưu số 49 viết: “có nước nào trên thế giới chỉ bé tí bằng lỗ chân lông như Bolsa tiểu quốc, thế mà cái gì cũng thặng dư lạm phát. Báo chí thì rợp trời kín đất như lá mùa thu. Văn bút thì chúng tôi có đến nhị vị chủ tịch (dù bây giờ chả còn ai trên thế giới công nhận, nhưng mặc xác thế giới, chúng tôi cứ là văn bút, cứ là chủ tịch, làm gì nhau?), cộng đồng cũng đương kim hai ngài tổng thống (dù thật thà mà nói, trông mặt các ngài, con nít sẽ khóc thét như gặp ma, người lớn sẽ nôn nao ruột gan muốn ói), và chính phủ lưu vong cùng đảng phái yêu nước, nói không phải khoe, trung bình mỗi tháng mọc thêm chừng mươi cái, nhanh, nhiều như nấm dại mùa đông”. Sang đây, mất tất cả, thiên hạ mơ có quyền lực. Ông nào cũng tự cho mình có sứ mệnh, như “ai bao năm từng lê gót nơi quê người” của thuở nào. Vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật, đâu là giả.

Năm 1958 hai tác giả William J.Lederer và Eugene Burdick cho phát hành cuốn The Ugly American (Người Mỹ Xãu Xí), nói về thói hư, vụng về, ngu dốt, tham nhũng, dốc tướng, của các chính khách Mỹ. Cuốn sách gây xôn xao trong chính trường Hoa Kỳ, bán rất chạy. Hơn sáu triệu ấn bản được bán ra. Tổng Thống Mỹ Eisenhower phải cho thành lập một ủy ban gồm chín nhân vật có uy tín để duyệt xét lại các chương trình viện trợ quân sự. Thựơng viện Hoa Kỳ cùng lập một nhóm nghiên cưú cuốn sách và gửi cho mỗi Nghị sĩ mỗi người một cuốn. Ông Bá Dương viết, họ có năng lực sưả sai, tự điều chỉnh mình. Thay ví lấy tay che đít, họ nói toáng lên cho mọi người biết “tôi có bệnh trĩ đây”. Họ có được cái trí tuệ và dũng cảm, tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thỏa đáng những lỗi lầm.

Nước Việt Nam cứ lẩn quẩn trong vòng chậm tiến, cũng hoang mang lúng túng chẳng kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ là vì ta không biết mình biết ta. Ta cần có một cuốn Người Việt Xãu Xí để “nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột”, rồi tìm ăn những thứ có chất dinh dưỡng tốt, giúp ta có thể tự phản tỉnh. Bỏ chuyện tự kiêu hảo, giấy rách giữ lấy lề hay đói cho sạch rách cho thơm, thẳng thắng nói lên những tệ hại của dân tộc mình, để cùng nhau cải tiến. Trước thềm năm mới cũng là trước thềm thế kỷ và thiên niên kỷ mới, nhân loại đang tiến nhanh tiến mạnh trong cuộc cách mạng thông tin, chúng ta phải lẹ lẹ lên. Chậm thì chết. Trong khi chờ đợi có cuốn sách như vậy, chúng ta hãy hè nhau vạch áo cho mọi người cùng xem, nếu không, thay vì Con Rồng Cháu Tiên lại trở thành con khùng cháu điên mất. Phải không quí vị?

* * *

Hãy Biểu Dương Cùng Tận -Đoản Văn- PHAN NHẬT NAM

:::Phan Nhật Nam:::
Hãy Biểu Dương Cùng Tận
Biểu dương, hãy biểu dương cùng tận
Vinh hiển lầm than một kiếp người.
(Tô Thùy Yên)

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, học qua Pétrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội Miền Nam trước 1975. Tô Thùy Yên lập gia đình với vợ chánh là bà Huỳnh Diệu Bích. Còn có thời gian chung sống và có mấy con với nhà văn nữ Nguyễn Thị Thụy Vũ. Sau 1975 Tô Thùy Yên ở tù gần 13 năm. Cùng bà Hùynh Diệu Bích sang Mỹ theo diện cựu tù nhân chính trị. Hiện đang cư ngụ tại Houston

Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng Tạo. Một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ Tự Do” trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960. Cả hai tập thơ Tuyển Tập Thơ Thùy Yên (1995) và Thắp Tạ (2004) đều được xuất bản ở Hoa Kỳ sau khi ông đi tỵ nạn chính trị tại quốc gia này vào năm 1993.

Dẫn Nhập

7 tháng 9, 1981 nơi Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hóa, Việt Nam

Cửa thứ nhất khu kỹ luật mở ra.. Anh ngó trân trân lên khối sắt sơn xanh không cảm giác, vô hồn bước vào khoảng sân vắng tanh, lau sậy khô teo, vàng úa, xao xác hỗn loạn. Viên cán bộ kỹ luật và gã tù hình sự phải vạch lối đi qua để dẫn anh tới trước tấm cửa bên ngoài dãy buồng giam. Thanh sắt chắn ngang khung cửa gỗ thứ hai được kéo ra, rút bỏ xuống.. Âm rền rĩ siết lê gay gắt, gào chìm rờn rợn. Đi tiếp vào căn phòng tối lạnh, chiếc bàn gỗ xiêu vẹo dựa vách tường trên có chiếc chén nhựa bẩn, cơm, khoai, sắn đọng khô nâu quanh vành chén (có lẻ từ lâu không được dùng đến), anh nhìn quanh, dãy buồng kỹ luật tối im chập choạng, kín như khối nhà mồ chất chứa xương cốt của những người chết để lâu không chôn cất. Tử khí ẩm ẩm tanh tanh. Cuối cùng, anh bước vào căn buồng hẹp sau cánh cửa thứ ba (đúng nghĩa chỉ là chiếc hộp dựng đứng), đặt chân vào khoen cùm hình chữ U. Bên ngoài, tiếng động ổ khóa khóa lục cục, xong thanh sắt giữ chân cùm chuyển động, day day chạy ngang cổ chân anh. Căn phòng hoàn toàn chìm đẫm vũng tối sau loạt động âm do những tấm cửa đóng lại. Không biết bây giờ là mấy giờ? Hôm nay thứ mấy?! Anh quên ngay ý nhiệm thời gian, ngày, tháng vừa tách rời. Nơi nầy năm trước, 1979 anh đã một lần vào, và khoảng một năm sau anh được cho ra, trở về trại chung với đồng ngũ. Nhưng lúc ấy thân thể anh bền bỉ, rắn chắc; trí tuệ mạnh mẽ cương nghị.. và nhất là chung quanh, bên ngoài, ở cạnh những bức tường phòng giam nầy còn có một tập thể bạn tù Miền Nam – Những người bạn anh mà có thể phân biệt cụ thể, chính xác từng âm nói của mỗi người.. Cách phát âm của Phan Văn Giỏi (với âm sắc Quảng Nam được nhấn mạnh) đang múc nước ở khu nhà bếp (sát tường buồng kiên giam).. nhớ nghe không..Nhớ uống cà phê.. nghe Phượng (“Cà-phê phượng”- biệt danh các bạn đặt cho, do anh uống cà phê pha chế bằng những hạt phượng rang cháy). Trước kia, năm ngàn người của lần chuyển trại đến đây (tháng Tám, năm 1978) đã chiếm dụng toàn thể bốn dãy nhà giam chính của khu giam giữ; nay chỉ còn hai-mươi-hai người ở gọn đúng vào một chiếc buồng (của dãy nhà cuối cùng) luôn khóa kín sau giờ lao động. Đúng hai mươi-hai người. Anh là người cuối cùng của nhóm người khốn khổ còn lại nơi Miền Bắc nầy. Chung quanh anh nay không còn ai. Chung quanh anh nay không có người. Có ai chia sẻ với mình đây?! Anh cố gắng nghĩ đến điều xót xa nầy nhưng không nổi. Hình như ý nghĩ cũng gây đau. Anh sờ tay lên bức tường.. Động tác vô nghĩa nhưng để chứng tỏ mình đang còn sống, biết suy tính. Là con người biết xê dịch bàn tay.. Có ai chia sẻ với mình không? Ý nghĩ được kết thúc như thể hoàn thành xong lần cố gắng.

.. Ta ngồi dậy
và như một thói tật,
Gõ gõ hỏi han
Hai bên tường tả hữu.
Có ai không?
Không có ai sao?
Ta khắc khoải chờ nghe
Những tiếng động của người
Tiếng động nào bất kể
..
Ta phải cố quên quên bằng mọi cách
Nỗi điêu đứng sống còn
Trong hằng hằng tĩnh chết..

(Thức giấc trong biệt giam, Thơ Tuyển – Hoa Kỳ, Thu 1996; trang168)

Năm 1992, nơi khu vườn của Như Phong ở Nhị Bình, Hốc Môn, Gia Định, trước ngày ra khỏi nước, anh nói cùng Tô Thùy Yên: Cám ơn Bạn đã viết những giòng Thơ chính xác, với ý nghĩa Thơ là Sức Nâng Đỡ. Anh nói không quá lời, e rằng bày tỏ chưa đủ ý, chưa diễn tả được hết lòng tin cậy đối với Thơ. Đối với Bạn. Lời kẻ chết là lời thiêng. Lời kẻ kinh qua cơn khốn cùng là lời thật. Người Viết Thơ Tô Thùy Yên là người làm chứng thuần thành nhất – Làm chứng về Sự Khổ – Cảnh Chết.

* * *

Phần Một
Thơ là cớ chứng thật nhất

16 tháng Ba, năm 1996 nơi phi cảng New York, Nước Mỹ

Anh đến đây từ Houston (Texas), trên đường đi lên một nơi thuộc vùng bắc lục địa Bắc Mỹ. Một nơi nào đó. Anh không cố ý tìm hiểu chốn ấy ở đâu, như thế nào, dẫu đã là người chuyên nghiệp xử dụng bản đồ, tìm hiểu địa hình trong nhiệm vụ quân sự ở những năm tháng cách đây không mấy xa. Người bạn dặn, cứ theo chỉ dẫn trong vé máy bay mà đi.. Sẽ đến nơi đây, tiếp tới nơi kia. Trời đang mùa xuân nhưng ẩm ướt, giá rét. Tuyết đóng dày đẩy ùn ra hai bêân hệ thống những đường băng phụ thành đống khối lớn. Anh ngó mông ra phi đạo mù mù. Anh nhìn quanh quẩn khối người đông đảo di chuyển, thúc hối, nhưng rì rầm yên nặng.. À đây là New York, chỗ nầy có bức tượng Nữ Thần Tự Do. Tượng đó ở đâu? (Anh đảo mắt qua lại như thể đang cố ý tìm kiếm một điều gì đã rành rẽ, một người thân quen).. Chắc đâu đó ngoài khu bến tàu, tượng ấy đâu ở phi trường. (Anh cười thành tiếng chứng tỏ đã hiểu biết về một nơi chốn, một tình thế). Tượng nhìn ra cửa biển vào New York mà, thành phố nầy to nhất nước Mỹ đấy. To nhất thế giới nữa..” Anh tự hỏi, xong trả lời, buộc trí não phải bận rộn; cũng như để chứng tỏ không bị khuất lấp bởi hoạt động lôi cuốn ầm ầm chuyển dịch đang vây bọc. Không ai biết mình là ai cả? Và mình đi đâu đây? Cuối cùng, anh mở Tập Thơ Tuyển, viết lên phần trống những tờ giấy sau trang bìa.

Tôi đọc Thơ ông,
Tận trống trải..
Trống vơ, trống vốc.
Khi đến New York vừa rời Houston.

Phi trường xuống,
Không một ai.
Thật.
Không một ai.
Chỉ Tập Thơ ấm sâu trong ngực.

Và anh sống lại. Sống đầy đủ. Sống cùng tận nỗi bàng hoàng xa xót khi đọc qua những chữ nghĩa bình thản đến lạ lùng – Những chữ nghĩa nói về một cuộc sống-chết mà bản thân anh (cũ#ng của nhiều người) hằng mang nặng, nhưng không khả năng xóa mờ, vất bỏ. Mà vất bỏ nơi đâu? Xóa bỏ xong thì trí nhớ anh còn những gì?

Quán chật xanh lên rừng lính ướt
Mặt bơ phờ dính gió bao la
Khí ẩm mù bay, mùi thuốc khét
Chuyện tình cờ nhúm ấm cây mưa
….
Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên
Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên.
(Qua Sông; sđd, trang25)

Vào buổi chiều mù tối nơi chốn xa lạ hôm nay, qua những giòng thơ, cảnh sống tàn nhẫn tội nghiệp một cách bình thường trong chiến tranh kia thoắt trở lại tận đầy đủ.. Và anh nghe ra tiếng cười, giọng nói của những người lính; âm âm báng súng, giây đeo đạn, nón sắt.. va chạm lục cục trên mặt đất, nơi thành bàn, dưới chiếc ghế gỗ của một chòi quán ẩm ướt nào đó ở Long Sơn, Long Định vùng quê Long An ngày mới ra đơn vị, 1963; hoặc nơi Bồng Sơn, Lại Giang, Bình Định cuối năm sáu-mươi sáu, sau kỳ sinh nhật hai mươi-ba tuổi. Có thể anh không nhớ đủ hết tên họ, nét mặt những người đã cùng sống, kẻ đã chết thuộc những đơn vị nhảy dù mà anh hằng dự phần, có mặt. Nhưng lạ thay, anh nhớ chính xác mỗi chi tiết nhỏ nhặt của tiếng động, mùi nước bùn ẩm ướt thấm qua lớp áo trận, từng khuôn mặt của những người lính (quen và lạ) dồn chật trong chiếc quán nhỏ, lần dừng quân ngày mưa năm xưa. Và anh nghe lại giọng chậm, đục của hạ sĩ Ty vác súng trung liên khi mở lời xin anh điếu thuốc giải khuây cùng sắc mắt vô hồn, buồn phiền của những người lính địa phương quân đồn Long Sơn khi họ thoáng nghe, nhìn lướt qua trao đổi thân mật, gần gũi của thầy trò anh.. Sinh hoạt ngắn ngủi, nhỏ nhặt mà họ không thể có do phải ở lại đây giữ trách nhiệm ngặt nghèo giữa vũng tối sũng nước của vùng ruộng đồng hoang vắng, nơi chiếc đồn đang im im bốc khói cháy ngầm khi đơn vị nhảy dù cứu viện rút đi.. Hỏi chủ quán còn chai bia nào không, mời luôn mấy anh nầy. Anh đưa bao thuốc cho Ty, chỉ về phía những người lính địa phương.. Dạ, cám ơn, cám ơn thiếu úy,

Thiệt tình tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen
Hề chi, ta uống cho say đã
Nào có ra gì một cái tên.
…..
Người thuở trước tìm vàng khẩn đất
Tiêu xác thân, để lại oan hồn.
Ngày nay ta bạn đến đây nữa,
Đất thì không khẩn, vàng không tìm.
(Anh Hùng Tận; sđd, trg 28)

Tuy nhiên, hoạt cảnh lặng lẽ kể trên dẫu sao cũng là lần “ bình an, hạnh phúc”, khi chiến tranh chưa nặng độ (đầu thập niên 60), và lần dừng quân còn có một chái quán lợp lá dừa, chai bia, điếu thuốc của vùng thôn quê Miền Nam – vùng đầt trù phú với sức sống ứ tràn trong mạch nước dầm dề phù sa. Vì tiếp liền theo sau đó, chiến tranh mở rộng, giăng dầy, chụp xuống chiếc cánh âm u tai họa.. Và Thơ không chỉ là lời miêu tả cảnh Khổ, nhưng chạm đến mối Đau khi con người bị ném vào lần tận tàn sát, thực hiện cuộc tận diệt.

Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ
Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma
…..
Ta ngó thấy nhà cửa trốc nốc
Từng ngôi như mặt đất đang gào..

Nhưng cũng không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên, nhà cửa tang hoang, tiêu hủy mà đã đến lúc, đôi tượng hứng chịu tai ương – Con người trong chiến tranh – Người lính của hai bên lâm chiến, kẻ thụ nạn của một cuộc tương tranh tàn tệ, phải đối diện (thực sự đối diện) câu hỏi sững sờ vì mức độ phi lý, phi nghĩa, tận vô ích, và cực độ phí phạm của nhiệm vụ họ phải nhận lãnh..

Vì sao ngươi tới đây?
Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói
..
Vì sao ta tới đây?
Lòng xót xa thân xác mõi mòn.
Câu trả lời không có. Nếu có chăng cũng chỉ tăng thêm cường độ cay đắng của một vấn đề đã hư hoại, độc địa từ khởi đầu.
Ví dầu ngươi bắn rụng ta
Như tiếng thét
Xé hư không bặt im
Chuyện cũng thành vô ích.
Ví dầu ngươi gục
Nào có chi đáng kể.

Bi thảm hơn hẳn những nhân vật trong kịch và tiểu thuyết “phi lý” của Samuel Beckett – Trong đó, con người còn khả năng luận lý (cho dù luận về một điều “phi lý”); hoặc còn có điều chờ đợi (dẫu là một điều không tưởng).. Đấy, đời sống cứ qua đi.. Cũng vậy, chẳng có quan hệ gì nếu tôi đã sinh ra đời hay không, tôi đã chết đi hay đang lâm tử.. (Malone meurt; Minuit, Paris, Fr. 1952); hoặc trong kịch En attendant Godot; Minuit, Paris, Fr. 1953, hai nhân vật Estragon và Gladimir, sau một loạt đối thoại không mạch lạc, rối mù về những bàn tay, bàn chân, cái bàn, chiếc ghế.. xoay qua đối tượng gọi là Godot – Bất ngờ xuất hiện như một đồ vật cốt làm đầy cho câu chuyện vô nghĩa, của lần chờ đợi (không biết đợi cái gì).. Bởi: Godot khi là một nguồn động lực bắt con người phải chờ đợi, phải nói đến..Nhưng cũng chính là con người với sự chờ mong (vô vọng, vô nghĩa) của chính họ. Godot chỉ là điều tưởng tượng. Ở Việt Nam, trong chiến tranh, qua Thơ Tô Thùy Yên, diễn tiến sống-chết cụ thể với chính thịt xương con người, qua từng giờ khắc chịu đựng, bày ra như một điều hài hước. Bi kịch và hài tính đã nhập lại thành một khi cùng đối diện với sự chết. Kết thúc bởi sự chết.

Ta phá lên cười, ta phá lên cười
Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ
Ở cõi âm nào người vốn không tin,
Hỏi nhau chơi thỏa chút tính bông đùa:
Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho Tổ Quốc Việt Nam- một tổ quốc..?
Các việc ngươi làm,
Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm
Các việc ta làm
Ta xét thấy chẳng ra chi
Nên người hăng điên, còn ta ảm đạm
Khi cùng làm những việc như nhau.
Và kết luận cuối cùng không thểâ khác,
..Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
Có cùng gom góp lại,
Mặt đất nầy đổi khác được bao nhiêu?
Người há chẳng thấy sao
Phá Tam giang, phá Tam Giang ngày nầy đâu đã cạn?
(Chiều trên Phá Tam Giang; sđd, trg 74)
Cuộc máu lửa, súng đạn chấm dứt với ngày 30 tháng Tư, 1975, Thi Sĩ kẻ thụ nạn khốc liệt nhất trong mọi tầng lớp xã hội Miền Nam-cùng một lúc thực hiện hai chức năng, nạn nhân lẫn chứng nhân của lần xĩ nhục, đọa đày Con Người – Sinh vật nhận biết đau trong trái tim, trên xác thân.
Thức dậy, những ai còn sống đó,
Nhìn ra nhớ lấy phút giây này.
Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay
…….
Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc,
Đèn bão mờ soi chẳng thấy ai.
Ta gọi rụng rời ta thất lạc.
Ta còn chẳng đủ nửa ta đây.
…….
Dường như ta chợt khóc đau đớn.
Lệ nóng cường toan cháy ruột gan
Lệ chảy không ra ngoài khóe mắt.
Nghẹn ngào đến cả tiếng than van.
(Tàu Đêm; sđd 117)

Người phải sống và Thơ phải viết bởi lần đau không chỉ riêng đối với một cá nhân, nhiều giới người, hoặc giai cấp cầm quyền chính trị, hay một tầng lớp xã hội.. mà toàn bộ lịch sử – đời sống bị xáo tung, ngụy trá, mạo danh, miệt thị và hủy hoại. Không chỉ nơi Miền Nam, không riêng của Việt Nam, mà chung cho cả địa cầu, lần con người tận diệt.

Mà thôi hãy nuốt lệ còn nghẹn
Tỉnh thức, lòng ơi nhìn tận tường
Thời đại đang đi từng mảng lớn
Rào rào những cụm khói miên man
…..
Người bạn đường kia chắc vẫn thức
Mong tàu đi đến chỗ đêm tan
Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời những rỉ han
Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người, hãy thức, thức cùng nhau.
(Tàu Đêm; sđd 117)

Thi Sĩ phải sống để đi cho hết cuộc hành trình tưởng như không hề có thật- Hành trình băng qua thống khổ máu lệ cường toan – Khóc không nỗi, nói không nên lời, chỉ biết cúi đầu im lặng trước bi thương chập chùng oan nghiệp mà phận người phải gánh nặng từ một thuở bắt đầu vòng sinh-diệt.. Cũng để tận thấm hiểu nghĩa xa xót mong manh từ hạt sương, tiếng dế, giếng nước, sợi tơ trời nơi bản quán đã thật sự nhạt nhòa, hư vỡ.

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
……..
Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển đời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt.
Tội tình chi lắm nữa, người ơi!
(Ta Về; sđd 126)

Người ơi! Người nào? Không người nào cả. Chỉ riêng ta với tiếng gọi xé lòng.. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ- Thanh Tâm Tuyền. Hãy gọi lên một lần. Cho gọi thêm đến nhiều lần.. Gọi đến lay động chiếc bóng của chính ta ngã dài trên dặm trường thăm thẳm cô quạnh. Hãy gọi lên. Kêu lên.. Không còn ai.

* * *

Phần Hai
Thi Sĩ luôn hiện sống – Sống ròng

Gần mười năm sau Thơ Tuyển (1995), Thắp Tạ (2004) đã là một lần vượt thoát toàn diện, và Thi Sĩ thật sự Sống Ròng-Với Thơ.
Nếu những năm tháng trước đây trong chiến tranh, tiếp tù ngục và cảnh khổ Việt Nam (sau 1975) đã hé mở ra những vấn nạn không thể nào trốn thoát.. Gõ lấy đầu mình như gõ cửa. Liên hồi kêu cứu giữa đêm khuya.. (Mùa Hạn; Thơ Tuyển, trg 103); hoặc phải chứng kiến những kinh hoàng không thể quên.. Trăm họ lần lượt bỏ xứ trốn. Biển thì hung hãn, thuyền mong manh. Ta nghe kể lại xác lên bãi. Nằm dài dài như lúc chiến tranh. (Nỗi Đợi; TT, trg 163). Nhưng dẫu gì tại lúc nguy nan kia con người cũng còn đôi chút hy vọng – cách hy vọng bền bỉ của người không chịu khuất phục (bởi khuất phục có nghĩa tiêu vong) – nên người lại kiên nhẫn lên đường, vẫn luôn trên đường đi, dẫu đường vô hạn lẻ loi.. Con đường vô định chưa ai tới. Hay tới nơi, thôi chẳng trở về. Hởi gã du hành, hãy nói lại. Những điều người thoáng thấy như mê. (Và Rồi Tất Cả Sẽ Nguôi Ngoai; TT, trg 53). Nhưng hôm nay, cuối thế kỷ bão táp, sang đầu thời đại mạt pháp, Con Người tự tìm ra và phải tìm ra với sáng suốt, tận bình yên, bởi người hiểu nên rằng, sẽ không đi tới đâu cuối cuộc hành trình miên viễn khó nhọc suốt một cuộc đời. Không xa, không gần, không non cao, không biển rộng, không biên giới và cũng “không còn biên giới”.

Đi như đi lạc trong rời đất,
Thủy tận sơn cùng, xí xóa ta.
Cõi chiều, đứng lại, khóc như liễu:
Có thật là ta đã đi xa?
(Đi Xa; Thắp Tạ – Hoa Kỳ, 2004, trg 10).

Điều chứng ngộ nầy không đâu xa..
Chỉ là một bước, bước trờ..
Hỏi chưa ra, đã trăm năm sững sờ
(BiệtTăm; sđd, trg 11).

Phải, chỉ một bước thôi, bước ngắn ngủi, chóng vánh, cô đọng như một công án thiền đạo –Thi Sĩ thấy ra (thấy chính xác, cụ thể) kích thước tận cùng trong phần, đoạn hữu hạn.
Tưởng thôi, nháng tưởng thôi.
Trí năng nào chạy kịp
(Sát Na; sđd, trg 11).

Công phá tuyệt luân nầy phải do mỗi cá nhân tự chứng – Đây là Sự Thường nhưng không hề tầm thường – Chỉ được xác lập bởi những trí tuệ thật sự khắc khoải mới hiểu nên điều nguyên lý: Sự thất vọng về hữu hạn là do thiếu đi tính vô hạn (Soren Kierkegaard); hoặc chỉ từ khổ đau vô lượng của kiếp người – Bất cứ người nào khi gặp những cảnh ngộ.. Buồn trông nội cỏ dàu dàu, chân mây mặt đất một màu xanh xanh; hay khi đối diện, Bốn phương mây trắng một màu, trông vời cố quốc biết đâu là nhà – Mà thiển nghĩ (chắc nghĩ không sai), đây không là tình cảnh của một cô gái tên gọi Vương Thúy Kiều, nhưng thật phải là của người đã viết nên những giòng chữ xót xa nầy – Tâm cảnh thắt thỏm của Nguyễn Du lúc ở Huế nhìn về phương Bắc với lòng quặn đau: Bắc thành thập khẩu khẩn đề cơ – Mười miệng người kêu đói ấy không ai xa lạ, chính là vợ, đúng là con. Là đứa con mà Đỗ Phủ đã phải ôm chặt vào người, bịt miệng lại do trẻ quá đói cứ nhè ông mà cắn, và để đứa bé bớt la khóc (sợ hùm, sói nghe được) trên đường chạy loạn ngã Bành Nha: Si nữ cơ giảo ngã. Đề úy hổ lang văn. Hoài trung yểm kỳ khẩu.. Kinh qua những giờ khắc thương tâm đáng sợ nầy (không phải chỉ trong một khoảng thời hạn tại một hoàn cảnh nhất định), con người phải tự cứu.. Và không còn con đường nào khác ngoài thái độ bình thản vô vàn cao thượng trong tất cả mọi tình huống, cho dẫu gặp phải kết thúc đậm dấu bi ai nơi một chốn mịt mùng không định hướng.

Mai có ai về ngang quãng sông nầy
Xin ném cho hòn đất hỏi thăm.
……
Những nấm mộ đá chồng rỗng kiệt
Hình hài người chết đã tiêu tan.
Nhưng chắc đâu hồn mộng chẳng còn chạy giỡn bạt ngàn
Cho tàn hã cuộc mê man cùng Vô Biên độc nghiệt.
(Viễn Tây; sđd, trg 45).

Thế nên, không cần đến giải oan nơi sông Tiền Đường, cũng chẳng nên khóc than người nằm dưới nấm mộ dàu dàu ngọn cỏ bên đường, cuộc nhân sinh ai cũng thế mà thôi, mỗi người một cảnh, vô vọng , đơn lẻ như gió thổi qua cõi ngoài.

Một mai, ngoài cõi gió hao đuối
Ai hỏi ai về ai trước kia?
(Chim Kêu Bãi Quạnh; sđd, trg 32)

Ai hỏi ai? Và hỏi về ai? Không phải là cách chơi chữ nghĩa nhưng quả thật Người Viết Thơ đã nắm bắt được tiêu điểm tận cùng của biên giới tâm cảnh mà con người luôn gọi tên bằng những tính tự “tuyệt vọng, đau thương”. Và tuy biết bên ngoài vùng mông mênh “ngoài cõi gió” kia không còn nữa những “đơn vị gọi là ai”, nhưng Thi Sĩ không hề tuyệt vọng (như khi Tây Phương kiêu ngạo đối diện với Hư Vô; kẻ chinh phục thấy ra điều suy hoại, sụp đỗ đế quốc xây dựng bởi thành quả bạo tàn) – Vẫn vững tin và bình thản cậy trông.

Khắc khoải chim kêu mùa hóa giải
Hành nhân về bên giếng quê nhà
Ngõ trúc chiều ngát hoa gạo mới
Ngọn đèn thắp đợi đã rền hoa
…..
Chiêm bao, âu cũng chiêm bao cả
Mưa lớn chừng như rợp hải hà.
(Chim Kêu Bãi Quạnh; sđd, trg 33)

Đau thương thay và đáng được kính trọng thay, qua suốt cuộc biển dâu ba mươi năm với những cảnh huống trầm luân, khi hái rau nơi vực suối triền núi sâu đất Bắc.

Làm người, đã phải làm sao?
Thêm bề rau thấp, cỏ cao, tội người.
…….
Giá cho ta hỏi một lời
Rau nầy trăm họ mấy người đã ăn?
(Hái Rau; sđd, 37-38)

và khi thảng thốt về Nam chứng kiến cảnh xé lòng.

Làng đã cháy, im lìm bất trắc..
Người nhớ người mà cũng sợ người.
Trời ơi, những xác thây la liệt,
Con ai, chồng ai, anh em ai?
(Nhớ có lần, trên bến bắc khuya.; sđd, 70)

Nhưng Con Người đi hết chặng đường bão táp ấy vẫn sắc son bền bỉ vẫn tận sống từng khắc giây sung mãn với lòng yêu thương con người, hoa cỏ, lá cây, lát gừng cay, hạt muối mặn lấy ra từ Đất. Người còn, trời đất còn chan chứa.. Muối mặn, gừng cay trắng tóc xanh.. cho dẫu đã hơn một lần (rất nhiều lần) hiểu rõ nghĩa “được-mất; có-không”sau những lần bị tước đoạt trần trụi như tình cảnh của Job trong Cựu Ước; bị lấy đi cả tiếng sáo hót thắm thiết trong buổi ngày thơ.. Tình cảnh của miền Nam, của cả nước bị bóc vỡ đến những ngưồn vui trong sáng nhỏ bé sau 1975.

Con sáo trong lòng con đã chết
Bé ơi, sao bé còn đi tìm?
Còn kêu lạc giọng sáo ơi sáo.
(Con Sáo; sđd, trg 29)

Chẳng phải đợi đến khi có lời nguyền rủa từ Tây Phương về lần bức tử Thượng Đế, những dân tộc Đông Phương (điển hình cảnh huống người Việt, các dân tộc trên Bán Đảo Đông Dương suốt bao thế kỷ lầm than do những cuộc phân tranh khởi từ đời Lê Mạt, thế kỷ 16, 17 kéo dài đến cuối thế kỷ 20) đã hằng thấm cơn đau về một, “Lão tạo hóa đành hanh qua ngán. Giết đuối người trên cạn mà chơi” (Nguyễn Gia Thiều- Cung Oán Ngâm Khúc) – Giết vì một đố kỵ khắc nghiệt, “Trời xanh quen thoái má hồng đánh ghen” (Nguyễn Du- Kiều) – Giết như một trò chơi. Nhưng những con người thuần phác bền bỉ chịu đựng kia vẫn hằng nuôi dưỡng đức tin nhu thuận: “Trời luôn đến cùng người khốn cùng, kẻ khờ dại, và những trẻ thơ” Nên dẫu, Tạo hóa tham công hay lỗi lầm? Hoặc giả, Vũ trụ tạo hủy dở dang mãi, Con Người qua tuyên ngôn của Thi Sĩ vẫn nhận ra điều kỳ diệu:

Mới hay sống chết dễ mà khó,
Mệnh nghiệp không là chuyện dững dưng.
(Hành Giả Âu Sầu; sđd, trg 109)

Có Dân Tộc nào bản lãnh đến ngần ấy? Có Con Người nào mạnh mẽ đến nhường kia? Quả thật, chỉ riêng Thi Sĩ đã hoàn tất xử dụng chữ, nghĩa thanh khiết tạo nên lời ca ngợi vô vàn:

Thế nhưng ngươi sẽ vẫn yêu đến giọt nước mắt cuối,
……
Cũng như ngươi sẽ vẫn yêu đến giọt nước mắt cuối.

* * *

Kết Từ

Kể từ khi “người vượn- homo erectu” dựng đứng được xương sống và dùng hai tay để viết nên những ký hiệu đầu tiên, đến nay trong những trước tác của tổ chức nhân loại văn minh với Bộ Bách Khoa Toàn Thư (Encyclopedia Britannica) gồm hai mươi-chín cuốn, hoặc Tự Điển Từ Nguyên, Từ Hải đồ sộ của người Trung Hoa.. Tất cả nội dung trình bày trong những ấn phẩm to lớn nầy không gì khác hơn do một NÉT VẠCH ĐƯỢC SẮP XẾP theo một hệ thống từ con người dần xác lập, và đồng thuận xử dụng. Hệ thống nầy do Hai Mươi- Bốn chữ cái La-tinh, hoặc Bảy nét cơ bản của Hán Tự cấu tạo nên thành Chữ Viết tồn tại bền vững qua hàng ngàn năm cho đến nay. Và chắc chắn dẫu tiến đến một tương lai kỹ thuật cao đến bao nhiêu – CHỮ VIẾT-CON NGƯỜI (dưới nhiều dạng tự khác nhau, Phạn Ngữ. Á-Rập Ngữ..) VẪN VĨNH HẰNG TỒN TẠI. Thế nên, chúng tôi vô cùng tin cậy rằng: Trong những ký hiệu Chữ Viết kia ẩn chứa Thần Tính – Siêu Việt Tính nhưng cũng là Nhân Tính.
Chúng ta nhắc nhở với nhau như thế, đồng thời xác lập điều tự hào cảm động: Tiếng Việt qua vận động của Thi Sĩ đã trở nên thành nguồn nội lực đủ sức cất chứa những rung cảm tế vi của tâm hồn, và biểu hiện nên Lời Thơ hùng vĩ.

Chúng ta vẫn sống như rừng cây
Chúng ta vẫn sống như mặt biển
Bởi vì đã đi nên sẽ đến
Người và bóng tối phải chia tay.

Cảm ơn Người Bạn Viết Thơ Đinh Thành Tiên – Thi Sĩ Tô Thùy Yên.

PHAN NHẬT NAM
Mùa Lễ Tạ Ơn. Cali, tháng 11, 2004.

LINH NGHIỆM -Truyện Ngắn- Trần Huy Quang

Linh Nghiệm
Truyện Ngắn

Trần Huy Quang

Hinh là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân không nghèo nhưng cũng không giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan, nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố nên quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước. Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết thân làm bằng hữụ Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ… bằng nguyên bản nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoạị Ðạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.

Hàng ngày Hinh sống như người nuốt phải quả chùy gai vào bụng, buốt nhói, nhăn nhó, bồn chồn, vừa ngồi đã đứng lên, mới ngủ đã vùng dậy, trán nhăn tối,, mắt xa xăm. Như đang phải lòng một tiểu thư khuê các…

Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn. Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. Hinh ngước cái nhìn mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiện hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh.

Tháng ngày như sợi chỉ căng mà lòng khao khát làm trai hải hồ, khắc khoải mong một phút được quỳ dưới chân bậc Chí Thánh và nói: “Ơn Người, Người là nguồn ánh sáng dẫn dắt chúng con… Lũ chúng sinh con khao khát được gặp Người…”

Thế rồi như sự linh nghiệm của lời nguyện cầu, một đêm giông tố bão bùng, đất trời như trong cơn đau sinh nở, Hinh đã lên chín tầng Thánh địa để được gặp đấng Chí Linh.

Bắt đầu là một ngọn nến, ánh lửa dịu ấm tỏa một quầng sáng hình nón. Vầng sáng ấy tỏa hào quang, tia hào quang không thẳng mà có hình gấp khúc. Cuối cùng ở trung tâm vầng sáng ấy hiện ra khuôn mặt kiều diễm của một cô gái tóc vàng.

- Kính thưa… ố Hinh bàng hoàng thốt lên.

- Không phải! ố Cô gái mỉm cười độ lượng. ố Tôi chỉ là sứ giả của đấng Lập Ðạo. Anh có lời thỉnh cầu gì gấp lắm không? Người đang bận, việc hành đạo mới chỉ ở bước khởi đầu…

- Kính thưa, tôi là người của xứ sở Nhọc nhằn tăm tối…

- Thôi anh không cần phải nói, chàng trai ạ, người xứ Nhọc nhằn có khát khao ánh sáng thì việc hành đạo mới càng được dễ dàng. Ðây anh cầm lấy, theo đạo thư này, anh sẽ tìm được chân lý.

Vị sứ giả trao cho Hinh đạo thư quý giá ấy rồi nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn như một cái chấm chính giữa vầng hào quang rồi biến mất giữa bao la. Hai tay đỡ cuốn sách trước trán, Hinh vẫn quỳ và thành kính đặt lên đó một cái hôn, rồi anh run run dở ra đọc.

Hãy đi về phía Nam theo con đường một bên là cây và một bên là nước, cuối con đường có quán bia hơi và thịt chó, đừng vào chốn đam mê ấy và đi thật chậm. Dọc đường sẽ có người hỏi: Có đi không? thì đừng đi. Ðó cũng là người cần lao chứ không phải ma quỷ cám dỗ, nhưng phải đành từ chối. Ði tiếp sẽ gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất để tìm cái này. Cứ thế… chỉ cần một lúc sau, anh sẽ có được thiên hạ…

Hinh ấp cuốn đạo thư vào ngực tức tưởị “Trời ơi, bảo bối, bảo bối…” Hinh sung sướng hét toáng lên. Tiếng anh vang rất to trong đêm và lúc ấy Hinh mới biết mình vừa qua một giấc mơ. Nhưng trời ơi, tại sao những điều anh nung nấu trong tâm can bấy lâu nay lại được giải đáp trong mơ. Anh sung sướng và cảm động đến mức nước mắt giàn giụạ Ôi chúng sinh nhọc nhằn và tăm tối của ta, bảo bối này sẽ soi sáng đường chúng ta đi…

Sáng hôm sau, Hinh thành kính chuẩn bị lên đường. Quần áo tươm tất, mũ miện đàng hoàng. Trước nhà anh có một đại lộ chính Nam, có lẽ đúng là con đường này nên anh dần bước ra đị Một bên cây và một bên nước, hay một bên rừng và một bên biển? Anh cứ đi, qua vài đoạn phố nữa thì anh thấy mình đi đúng, con đường men theo cái hồ. Và giữa phố có hàng bia hơi thịt chó mà vài lần anh cũng đã bị cuốn vào đó. Ôi, sự linh nghiệm không sai một dấu phẩy. Ðường phố trong veo, lui cui dăm chiếc xe đạp chở kẹo bánh, than tổ ong đi bỏ mối cho các hàng nước vỉa hè, lọc cọc đôi chiếc xích lô cà tàng đi tìm khách. Vài cô điếm vật vờ.

- Có đi không?

Một cô gái điếm rủ rê. Hinh nhớ đến giấc mơ mà thấy lạnh xương sống, trong mơ cũng ba chữ ấỵ Ðến cuối phố, Hinh thấy một ki-ốt sách báo thật, chủ quán vừa mở cửạ Tại sao có sự kỳ diệu thế này, khi tỉnh anh nào có biết chỗ này có một quán sách? Ði tiếp, gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Hinh liền rẽ trái, đi một đoạn qua các cửa hàng bách hóa đã thấy vườn hoa Mùa Xuân.

Kẻ hành đạo không chần chừ đắn đo, đi tới giữa vườn hoa, lòng như ngây ngất hơi men, một nửa muốn bay lên, một nửa muốn trì xuống. Mắt Hinh hoa lên, đâu Thiên Thần, đâu Ðịa Thánh, không biết con đang đứng giữa Ðịa đàng hay mặt đất. Rồi anh chợt tỉnh lạị.. Tìm cái này là tìm cái gì, anh không hiểu nhưng không dám nghi ngờ lời vàng ngọc của đấng Tiên trị Vườn hoa nằm cạnh đại lộ, lúc này đang vắng hoe, chỉ có mấy ông già tập thể dục muộn, dăm chàng thanh niên đá bóng và một tốp học sinh cấp ba sắp đi quạ Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất… Hinh vừa cúi lom khom chăm chú tìm kiếm vừa lẩm nhẩm đọc. Anh như bị thôi miên, không biết mình đang tìm cái gì, nhưng anh cứ trung thành với lời chỉ giáo, người cúi lom khom, mắt dán xuống đất và từng bước một chậm rãi.

Những người qua đường lấy làm lạ.

Bắt đầu là một nhóm học sinh cấp ba, mấy đứa con trai vốn hiếu kỳ, đi đến và tự hỏi, không biết ông kia tìm cái gì nhỉ? Chúng không thể tự giải đáp được.

- Anh ơi, anh tìm cái gì đấy ?

Hinh mải mê không hề nhìn lên, chỉ buột miệng trả lời:

- Tìm cái này .

Ðối với chúng, câu trả lời ấy, làm ngứa ngáy chân tay. Nhất định cha này mất nhẫn, dây chuyền hay hạt xoàn gì đó thôi, chúng mình mà vớ được thì hay lắm.

Thế là cả bọn, cặp sách dồn lại một đống, nhảy vào cuộc tìm kiếm. Khi cả một đám người bò ra sục sạo tìm kiếm thì sự lạ tăng lên hàng chục lần. Người đi qua vườn hoa không bao giờ hết, dân lang thang thất nghiệp, dân nhà quê bỏ ra thành phố kiếm cơm, đang đói rách hy vọng vớ được một chút may mắn, những người này đi đến và không thể không hỏi:

- Tìm cái gì đấy

Lần này thì tụi trẻ con đã mau miệng trả lời:

- Tìm cái này.

Câu này đối với người lớn làm ngứa ngáy đầu óc. Thế là họ bỏ cả gồng gánh, xe cộ, nhảy vào quảng trường.

Hỏi tiếp đến…

Bây giờ là dân xích lô, ba gác, dân ăn xin, trẻ mồ côi bán báo, dăm cô điếm, đám bụi đời móc túi nghe tin cũng tìm đến.

- Tìm cái gì đấy ?

- Tìm cái này.

- Mả mẹ chúng nó, giấu như mèo giấu cứt. Nhất định là hạt xoàn, ru bi, có lẽ tối qua, tụi đào đá đỏ qua đây đánh nhau đổ ra bì đá đỏ không chừng. Mẹ chúng nó, ông mà biết trước, ông rào lại, ông đuổi tất. Ê, ông kia được một viên rồi hả, bắt nộp phạt chúng mày…

Cứ thế…

Và số người hy vọng có một chút no ấm bò lê trên vườn hoa để tìm vật báu, đến lúc này đã đông như một đàn kiến.

Hinh chợt nhận ra tiếng ồn của đám đông và anh ngạc nhiên đứng lên nhìn họ, hóa ra thiên hạ đã bu lại xung quanh mình. Một lúc sau anh sẽ có được thiên hạ. Hinh sung sướng đến rơm rớm nước mắt và mãn nguyện ra về.

Cái đám đông ấy cứ như dòng nước trong lòng sông, trôi đi chứ không cạn. Người đến trước, thất vọng ra về trước, người đến sau, thất vọng ra về saụ “Tìm cái này là cái gì thì không ai biết ố nhưng cứ hy vọng có chút no ấm mờ mờ phía trước cũng đã hấp dẫn để họ trở thành một dòng nước.

Trưa.

Rồi chiều.

Và… vẫn còn đám đông xúm xít giữa vườn hoa Mùa Xuân.

[Tuần báo Văn Nghệ (Hà Nội) số 27, tháng 7 năm 1992]

BÓNG ĐÈ -Truyện Ngắn- Đỗ Hoàng Diệu

Bóng Đè
Đỗ Hoàng Diệu

Tôi có bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại hiếm thấy. Bàn tay không thay đổi theo mùa hay béo gầy cơ thể. Thụ bảo bàn tay tôi không tuổi tác trọng lượng. Hồi hai mươi tuổi, mới ra trường nằm nhà ba tháng, chỉ ăn và ngủ, cơ thể trồi lên những múi thịt, nhưng bàn tay tôi vẫn mảnh dẻ. Thụ hay mân mê bàn tay tôi. Bàn tay thể hiện tâm hồn con người, dù em mập đến mấy ngón tay em vẫn chỉ là cọng cỏ chao lượn dưới gió xuân. Tôi đưa ngón dài nhất mơn quanh môi chồng. Cọng cỏ thường dai, chỉ liềm sắc mới cắt nổi anh biết không? Mắt Thụ cụp xuống tìm câu trả lời. Có khi chỉ một con kiến cũng làm ngọn cỏ tan gãy. Có thể. Tôi chìa bàn tay ra trước nắng, nhìn như nhìn bàn tay một kẻ khác. Giông gió, bão lũ, nắng hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn với năm ngón ngắn dài, làn da mỏng tanh không trọng lượng. Chỉ có tôi hiểu vì sao bàn tay tôi tách rời ra khỏi thể xác mình. Chỉ có tôi hiểu vì sao tôi hay trốn những vách dựng loang loáng một chiếc bóng. Thụ không hiểu. Chính tôi đôi khi cũng thấy mình là lạ.
Quê Thụ cách thành phố khoảng ba giờ tàu hoả. Tôi không ngờ đồng quê khác biệt đến thế. Một vùng đất vẫn giữ được nét cổ xưa hiếm hoi thời cuộc. Ngồi trên tàu Thụ dặn dò tôi kỹ lưỡng về những nghi lễ phải làm trong ngày giỗ cha. Chồng tôi mồ côi cha từ năm lên chín. Căn nhà mái ngói vốn là nhà gỗ ba gian được bao tường ẩn náu phía đáy làng. Đằng sau ngôi nhà, phơi mình trong nắng, ruộng ngô đang ra bắp xanh mướt. Kéo dài tầm mắt một chút, ẩn hiện giữa đám ngô, bãi tha ma thênh thang còn giữ nguyên được mồ mả đắp đất cỏ mọc xanh tươi tốt. Lần về trước bận bịu khách khứa tôi đã chẳng có thời gian đẩy đưa con mắt. Thụ bảo lần này phải ở lâu lâu một chút cho mẹ chồng tôi vui. Tôi dạ vâng ngoan ngoãn. Thụ véo mũi tôi: sao trên giường em chẳng ngoan hiền như thế cho anh được yên thân? Tôi lơ đãng trước câu nói đầy hàm ý. Tôi không thể ngoan hiền. Tôi hay chồm lên người Thụ nuốt lấy anh vồ vập. Tôi ưa kéo Thụ lên chà xát. Tôi bắt đôi tay Thụ bóp nắn liên tục. Tôi muốn đã cơn khát thèm từ buổi trưa ấy, một buổi trưa nắng bình thường như bất kỳ một ngày hè nào nhưng với tôi là bỏng rát, là bước ngoặt. Tôi cất giữ bí mật riêng mình. Thụ nào biết. Thụ cứ hay van xin tôi đừng hực lên như hổ cái. Tôi chẳng thể đặng đừng. Anh bị tôi co rút lôi đi. Đôi lúc thấy anh kinh khiếp tôi đành phải dè dặt. Nhưng rồi đến cơn khát tôi vung vấp hết. Mỗi sáng thức giấc trông Thụ thật tội nghiệp.
Bàn thờ nhà chồng tôi to dài quá cỡ. Chưa bao giờ tôi nhìn chiếc bàn thờ nào lớn như vậy. Có rất nhiều bát nhang và những bức trướng chữ Tàu. Mẹ chồng tôi nói bâng quơ mà tựa căn dặn: “Nhà ta mỗi năm cúng mười sáu đám giỗ. Sau này anh Thụ cúng tôi nữa là mười bảy, sẽ vất vả đấy.” Tưởng tượng ra viễn cảnh mỗi năm còng lưng làm cơm cúng mười bảy đám giỗ cho đến ngày Thụ qua đời, tôi không khỏi ngao ngán.
Khi Thụ quần áo tề chỉnh chắp hai tay trước ngực khấu đầu làm lễ, rèm vải hai bên bàn thờ lay động lươn lướt, màu đỏ nhức nhối trong nhang khói. Nép mình cúi đầu cùng mấy phụ nữ trong góc nhà, tôi cố giỏng tai xem chồng mình đang khấn những gì. Nhưng chỉ là ập è âm thanh xin xít nơi đầu lưỡi. Thụ không nói mà cũng không hát. Tựa tiếng kêu của loài bò sát. Tôi nhướng trí tưởng tượng phong phú của mình xem qua lời khấn của Thụ những ai đang về. Hồi sáng hai vợ chồng ra nghĩa địa dọn dẹp khu mồ mả tôi mới biết tổ tiên nhà Thụ cũng nhiều oan khuất. Mười một ngôi mộ dàn trải xưa cũ trong vùng đất trũng sâu dáng hình thung lũng. Thụ nói sau cơn động đất tự nhiên khu mộ nhà mình thụt xuống thành trũng như vậy và một ngôi mộ thì biến mất. Tôi băn khoăn về chuyện mười sáu đám giỗ sao chỉ mười một mộ phần? Giọng Thụ có vẻ buồn, tay anh đưa liềm cắt cỏ chuẩn xác.
“Cô em gái bố do hận tình nên trẫm mình xuống sông sâu năm vừa tròn mười tám không tìm thấy xác. Hai ông cố trẻ làm thầy phù thủy đi khắp nơi cùng chốn rồi không quay trở về, nhà lấy ngày hai ông bỏ đi làm ngày giỗ. Hai ông khác, một liệt sĩ Điện Biên, một liệt sĩ đường 9 Nam Lào, xương hốt về bằng đầu đũa chôn chung một mộ.”
Thụ im lặng đột ngột, tiếng liềm xén cỏ mạnh hơn.
“Thế còn một ngôi mộ nữa đâu anh?”
“Ông nội bị đấu tố hồi cải cách ruộng đất chết thảm trên tổ kiến lửa. Sáng mai bà nội chỉ tìm thấy vài cọng tóc ở nơi cột trói, xác không biết đi đường nào.”
Giọng chồng tôi nghèn ngẹn. Tôi thấy lạnh sống lưng. Tưởng như cũ xưa nào vừa lướt qua mình. Bây giờ quỳ trước bàn thờ tôi cũng lạnh sống lưng. Lẫn trong âm hưởng xin xít buồn thảm khấn vái của Thụ một tiếng nhẹ như gió lướt lụa bay trơn lọn. Đã có lần tôi nghe đâu đó rắn là loài vật linh thiêng dẫn dắt người chết về trần. Tôi ngẩng phắt lên thanh đà treo ngang bàn thờ. Thanh gỗ bóng nhẵn không vết bụi, trống rỗng. Cô em chồng cấu mạnh. “Chị cúi đầu xuống đi, anh tôi không dạy chị à?” Khi đầu tôi lại cúi xuống, một cái gì láng nhẫy bay qua. Linh cảm đôi khi chỉ là linh cảm nhiều khi.
Và Thụ đứng lên húng hắng báo hiệu. Chồng tôi đã cúng xong. Cỗ được dọn xuống trong tiếng đũa lanh canh lũ trẻ háu đói. Suốt cả bữa ăn trong đầu tôi cứ lảng vảng hình ảnh mười sáu bóng ma tổ tiên theo lời khấn của Thụ trườn về, bay về thế nào. Thảng hoặc lại lành lạnh buôn buốt như gió cũ xưa nào lượt qua mình. Những cây nhang cháy hết cuộn thành vòng đầy ắp bát hương to màu đồng và những bát hương nhỏ màu trắng vẽ long phượng. Ai đó reo vui: “Hương cháy đẹp quá, nhà này năm nay chắc nhiều may mắn.” Mẹ chồng tôi thỏa mãn. “Anh chị Thụ thể nào chẳng sinh một thằng cháu đích tôn nay mai.” Thụ tay cầm cánh gà xoay xuống tôi đỏ mặt. Tôi thừa biết anh nghĩ hổ cái như tôi sẽ nhanh chóng kết nhuỵ sinh hổ nhỏ cho nhà anh nay mai. Đàn bà như tôi có lẽ sinh năm một, anh chẳng từng nói thế. Miệng tôi cười mà lòng trống trải. Ông trẻ mặt xanh men rượu ngoắc cánh tay xuống mâm dưới, tôi để ý đàn ông nhà Thụ tay thường dài chạm gối. Có lần tôi đùa Thụ tay dài như tay vượn, anh sa sầm nét mặt. Em chẳng biết gì cả, những người tay dài thường dòng dõi đế vương, thiên tử. Có lẽ ông tổ anh từng là vua chúa vương giả Trung Hoa gặp nạn nên chạy loạn sang đây. Tôi thấy Thụ thật ngây thơ nhưng không dám nói. Dòng họ nào ở miền bắc này mà không chạy loạn hay đội trên đầu xứ Trung Hoa?
“Nhân thể cháu dâu trưởng thắp nén nhang lên bàn thờ khấn xin cha thằng Thụ phù hộ cho sớm sớm được thằng cu. Cha chồng cô mất vào ngày trồng, linh thiêng lắm.”
Tôi không biết ngày trồng ông trẻ nói là ngày gì nhưng đoán chắc rất thiêng. Len lén luồn qua mâm trên, kính cẩn lấy ba nén nhang châm lửa cắm lên bát hương đặt cạnh khung ảnh một người đàn ông trung niên có hàm răng hơi nhô với tia nhìn sắc lạnh, tôi khấn lạy ba lần. Vừa thụt lùi vừa liếc trộm khung ảnh cha chồng, ống chân tôi đau tấy lan dần. Một khắc, tôi nghĩ đến ám dấu cơ thể biết báo hiệu trước những chuyện bất thường. Chưa kịp định thần, bỗng dưng mái tóc, thân thể tôi nóng hực và tiếng cô út hét lên: “Bát hương cháy rồi.” Thụ xô ngã tôi, quỳ mọp trước bàn thờ dập đầu lia lịa. Bát hương ngùn ngụt cháy. Tôi hoảng loạn nghĩ thế nào tia lửa cũng lan rộng thiêu cháy bàn thờ, thiêu cháy ngôi nhà, thiêu cháy bãi ngô, đốt rụi mồ mả. Tôi muốn tìm xô xách nước dập lửa nhưng chân tay tôi cứng đơ tựa khúc gỗ, cơn đau nhức oại oằn trí não. Giọng nói đon đả mẹ chồng cất lên như vệt điện chạy dọc sống lưng. “Mời các bác, các ông xơi tiếp. Tôi nghĩ ông nhà tôi hoá bát hương vui mừng đón cháu đích tôn đấy.” Mọi người ồ lên đồng thanh. Nhưng cái liếc xéo của bà về phía tôi lại đầy cay nghiệt. Bát hương cháy tận gốc, tro dầy lên hình thù ngôi mả mới đắp. Tôi biết ngôi mả mới đắp bằng tro nung này sẽ thiêu cháy cuộc đời tôi nay mai. Thụ nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc. Da thịt tôi rần rần kiến bò. Cảm giác ơn ớn, trơn lọn bóng nhẫy.
Tám giờ tối bãi ngô ngủ im. Thụ im lặng kéo tôi vào nhà. Sau buổi chiều hoá bát hương tro đắp hình ngôi mộ, Thụ nhìn tôi khang khác. Tôi chỉ cảm nhận khang khác trong một trực giác mơ hồ không bằng chứng.
“Anh chị Thụ vào buồng mà ngủ. Trong ấy ban đêm chuột hay thọc mạch, dém màn vào chiếu cho chặt kẻo nó vào giường.”
Sống lưng tôi dựng đứng. Viễn cảnh một bầy chuột chui vào giường bò lên thân thể khi tôi đang say giấc chẳng lãng mạn yên bình đồng quê chút nào. Tôi đưa bàn tay thon mảnh của mình ghì chặt Thụ, anh nhăn mặt nhìn tôi, bắt gặp ánh mắt thảng thốt của vợ, anh thẽ thọt nhìn mẹ:
“Mẹ cứ ngủ trong buồng với con Thắm để vợ chồng con ngủ ngoài này. Ban đêm gió máy mẹ không nên ngủ trên phản. Với lại con hay dậy đi ra đi vào sợ mẹ mất giấc.”
Mẹ chồng tôi loét quét đôi guốc vào buồng. Âm thanh roạc ngắn từng cơn. Con Thắm sang làng bên chưa về. Thụ bỏ tôi đứng trước cửa ra nằm chườn lên tấm phản kê gian ngoài cùng. Trước mặt tôi, bàn thờ chính giữa đã to giờ trương lên kỳ lạ. Hình ảnh nó phình nở trong đầu tôi. Bức màn đỏ lừ loang rộng. Hốt hoảng tôi chạy nhào vào Thụ. Chiếc quạt tai voi Liên Xô không rào rỉ sét ọc ạch quay tiếng một. Người Thụ đẫm mồ hôi. Giọng anh đừng đững.
“Em ngủ đi đừng làm ồn, mẹ không nghỉ ngơi được.”
Thụ là lạ thế nào. Thường ngày chưa bao giờ Thụ lên giường trước mười hai giờ khuya. Một lần Thụ bị ốm, tôi bắt anh ngủ sớm, anh nói đấy là cực hình. Sao Thụ có thể ngủ vào tám giờ tối hôm nay? Tôi tỏ vẻ quan tâm.
“Anh có nóng không, em quay quạt lại chỗ anh nhé?”
“Anh nằm phản thấy mát rượi, mấy phút nữa là ngáy, ngủ đi em.”
Thụ lại đùa. Từ ngày làm vợ Thụ tôi nào nghe anh ngáy nửa giây? Chiếc áo ba lỗ trắng tinh trên lưng Thụ xoay về tôi vẻ cấm đoán. Tôi cười thầm sự cẩn thận ngăn ngừa của anh. Cửa giả mở toang, bàn thờ linh thiêng ngay cạnh, mẹ chồng có thể đi ra đi vào bất cứ khi nào. Dù thèm chồng đến mấy tôi cũng phải gò mình trong bộ đồ ngủ kín đáo mà hậm hực. Tôi cũng không buồn thắc mắc về việc trái khoáy khi anh nói mát rượi mà người cứ đầm đìa mồ hôi. Thụ giờ khắc này sao quá đỗi xa lạ, không còn là Thụ buổi chiều đổ bóng xuống mình tôi. Anh lặng câm yên vị trong ngôi nhà bao tường cũ kỹ. Còn tôi lại muốn vách tường nhà anh rạn nứt để tôi cùng Thụ trốn ra ngoài. Ba cánh quạt tai voi vẫn ì ạch quay rít. Trước lúc thiếp đi tôi mơ hồ nghe lại cái giọng ngột ngạt, nhừa nhựa ập è xin xít nơi đầu lưỡi lúc Thụ cúng lễ. Rồi tôi rơi vào mê man. Loang loáng bãi ngô im lìm hứng sương không gió nào thãng thột. Trăng khuya phổng đứng chiếu ánh sáng sữa đục. Thoắt một cái, bóng tối ngập oà. Tôi thấy mình bừng tỉnh. Cảm nhận không khí ngột ngạt, hãm bức, chật chội vây quanh. Môi miệng khát cháy, toàn thân căng cứng. Nực nồng, oi bức như sắp đổ cơn giông. Ba cánh quạt tai voi ngừng phắt xê dịch. Không một tiếng gió nhưng tấm màn đỏ che bàn thờ cứ chốc chốc lay động khẽ khàng, chỉ mình nó đang chuyển động đỏ lừ trong thời gian lẫn không gian ngưng bặt. Tôi sợ, tôi muốn quay sang ôm Thụ để anh che chở cho mình. Song tôi không thể nào cử động, màu áo ba lỗ trắng tinh chồng tôi nằm sát ngay cạnh như trêu ngươi mà tôi chẳng thể nào nhúc nhích. Không khí mỗi lúc một ẩm thấp, nực nồng khoá cứng lấy tôi trên mặt phản.
Tiếng ho đứt đoạn từ trong căn buồng mẹ chồng lôi tôi khỏi đêm đen. Tứ chi rã rời, đầu váng vất, mồ hôi tôi rịn rạn dính bết. Bộ đồ ngủ tự nhiên mở khuy trễ nải lạ lùng. Tôi nhìn hàng cúc nhàu nát lạ lẫm, giống Thụ vừa vò nát chiếc áo và tôi vừa bận lên mình chưa kịp cài khuy. Cạnh tôi, Thụ vẫn ngủ im bằng bặt, ngoan hiền trẻ thơ, đôi má phụng phịu ninh nính. Tôi đâm nghi hoặc, kín đáo luồn tay xuống dưới. Chất lỏng đẫm ướt sền sệt ngầy ngậy mông đùi, thấm nhầy chiếc quần lót mỏng. Thụ trở mình ú ớ giữa giấc mơ. Tôi hoang mang nhìn chồng, cơ thể anh vẫn đầm đìa mồ hôi.
Ngày gặp Thụ tôi không còn con gái. Cơ thể săn chắc mượt mà vun đầy hai mươi rúc lên hồi còi dài khi chiếc bóng của anh đổ ập xuống mình. Một buổi chiều, bóng tôi lọt thỏm giữa bốn vách nhà rông trong khuôn viên Bảo tàng Dân Tộc. Bàn chân ai lào xào sỏi đá sau lưng. Náu lặng tôi giữa hồi còi không ngừng rúc lên thúc bách trong da thịt. Chiếc bóng chồm lên chút nữa. Vách nhà rông nuốt chửng ngực tôi nhoi nhói từng hồi còi riết róng. Tôi chăm chú nhìn chiếc bóng đang hắt thẫm mảng sỏi đến gần, chiếc bóng như tạo ra tiếng động trên sỏi bị đè nghiến. Nghe có vẻ khác thường nhưng tôi tin chiếc bóng có thể đè nghiến được cả thế gian này, riêng gì sỏi đá. Chỉ có tôi mới biết điều ấy. Tôi muốn chạy trốn, khi trước mặt bóng đen lừng lững dịch chuyển. Giọng nói cất lên trước lúc cổ họng tôi bật ra tiếng kêu.
“Em bị chói mắt phải không?”
Gương mặt người đàn ông phúng phính hiện ra dưới chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ làm yên hoảng hốt trong tôi. Lúc anh đưa tay sửa vành mũ, tôi nhận ra cánh tay anh dài chạm gối. Tôi biết gương mặt này, cánh tay này, giọng nói này sẽ đóng đinh vào giữa vùng khuất lấp của mình. Vách nhà rông oặn ẹo vặn mình nứt khe. Tôi sẽ chui qua khe nứt ấy, tay tôi sẽ dắt anh cùng đi, chỉ cho anh thấy tôi thuộc về anh từ thuở nào. Anh rồi sẽ ngoan ngoãn nhập vào tôi như một gẫy gập định mệnh. Nhập vào tôi -hẫng hụt tôi- ngạc nhiên anh đêm tân hôn sau đó chẳng là bao. Làm sao để Thụ hiểu vì chính tôi cũng chỉ là người mù trong cõi tối tăm? Một cõi không Thụ, không mặt trời, không cả âm thanh giữa buổi trưa kỳ lạ. Tôi khám phá ra những chiếc bóng trên tường không chỉ đơn thuần là những chiếc bóng. Chúng cũng sống động như thân thể tôi khát thèm một vực thẳm. Chúng vờn vượt trên da thịt non tơ hứng háo của tôi. Về sau tôi biết mình đã đánh mất điều quý giá nhất buổi trưa hôm ấy. Chúng đã cướp mất cuộc đời con gái khi vừa chớm đến, khi tôi vừa mới biết xỏ tay thành thạo vào chiếc su chiêng. Chúng cho tôi biết nỗi sợ hãi khôn cùng, sự ngừng đập trái tim. Và cả khát thèm, chờ trông suốt những năm thiếu nữ khi chúng không còn quay lại. Mọi người nói tôi bị bóng đè, chẳng có gì đáng sợ. Tôi không thể ngờ đó chỉ là số phận. Thứ số phận đã đẩy đưa cho tôi gặp Thụ và làm vợ anh vội vàng, giống một linh ứng mà cơ thể tôi đã ám hiệu rúc còi.
Sau đám giỗ, chúng tôi đáp tàu trở lên thành phố. Trên đường về, Thụ luồn tay vào vùng ngực hồng hào của vợ xoa xoa bầu vú, miệng lấm lét cười. Tôi rất thích cử chỉ này của Thụ. Cả điệu cười tươi của anh. Dưới quê Thụ không cười với tôi như vậy, lúc nào cũng ra vẻ lạnh lùng.
“Vợ tôi thoát nạn nhà quê rồi, tiểu thư thôi không phải nằm phản mồ hôi nhễ nhại như đêm qua. Sướng nhé.”
Tôi không sướng, không thoát nạn như Thụ tưởng. Cảm giác như tiếc, như nhớ chiếc phản và bàn thờ với màn đỏ che đậy. Cảm giác lạ lùng mà chính tôi cũng không hiểu. Tôi vẫn không thể nào giải thích được những gì đã xảy ra trên tấm phản. Lẫn lộn tất cả. Nhưng có điều chắc chắn tôi không mơ cũng như Thụ không hề đụng chạm vào người vợ. Ban sáng anh đã giãy lên như đỉa phải vôi khi tôi dọ hỏi. “Về quê có một buổi không được làm hổ cái với anh mà em đã cuồng lên rồi tơ tưởng lung tung. Em thật là..!”. Tôi lại mơn nhẹ ngón tay dịu dàng của mình lên môi chồng. Như thế anh sẽ không còn giận dỗi. Bàn tay tôi thật kỳ diệu. Năm ngón ngắn dài với làn da mỏng tanh, như bàn tay của một người khác, có thể làm mọi việc mà tôi không có khả năng. Giá thân thể tôi cũng không trọng lượng như bàn tay đang xoè ra trước mặt. Giá thân thể tôi không có những đòi hỏi cảm xúc như bàn tay đang giơ lên trước nắng. Nhưng bàn tay ấy, của tôi hay của ai, chẳng thể nào phá tan được sự hoài nghi bí mật. Cảm giác trưa hè ngốt ngát năm nao đang trở lại. Chiếc bàn thờ to dài quá cỡ, tấm phản láng bóng thời gian, thung lũng mười một ngôi mộ, tiếng ho khúng khắng trong căn buồng mẹ chồng có liên quan gì đến nỗi hãi sợ mà kích động hứng háo đang chảy xuyên suốt huyết mạch đàn bà trong tôi?
Gương mặt Thụ ngó lơ những cánh đồng. Tôi nhìn Thụ đăm đăm. Mùi đất ràn rạt trên cần cổ anh. Tôi nghiện cái mùi ngai ngái trên ngực Thụ mỗi khi nằm sấp trên mình anh hôn tẩn mẩn đầu lưỡi có vị cỏ đắng. Bất giác tôi lại nghĩ đến cái đầu lưỡi đã phát thứ tiếng động ập è xin xít khi Thụ khấn vái.
Trở về thành phố, thân thể Thụ trở lại khô ráo thôi đầm đìa mồ hôi. Mỗi bận Thụ cởi trần, tôi ngắm tấm lưng anh nâu om khô ran tựa một mảnh ngói. Khô đến nỗi giá tôi đặt nụ hôn lên lưng anh khi ấy, đôi môi tôi sẽ bốc hơi khô cháy trong khoảnh khắc. Giống như thân thể Thụ đã trút hết nước ở vùng quê hoặc cái buổi tối Thụ nhễ nhại mồ hôi chưa bao giờ xảy đến. Chồng tôi trở lại làm một người đàn ông ưa nghịch ngợm, hay mân mê bàn tay vợ rồi khen dù mập ốm em vẫn giữ được bàn tay của một thiếu nữ. Tôi sung sướng mỗi khi nghe Thụ khen bàn tay mình không thay đổi. Thi thoảng tôi cũng nghĩ đến cái bàn thờ đỏ quạch và tự hỏi có phải mình nằm mơ? Đôi lúc thắc mắc khiến tôi mất ngủ. Nhiều lúc tôi nhíu mắt trước gương tự hỏi mình là ai và cố tìm một trả lời. Thụ trả lời thay tôi bằng cách bồng ẳm tôi lên giường biến tôi thành hổ cái, đánh thức những rực rào của hai bầu ngực tôi liên tục rúc lên những hồi còi dài. Tôi kẹp cứng Thụ không cho anh xổng thoát về với bãi tha ma. Tôi chỉ giật thót mình sau vung vấp nhận ra bãi tha ma vẫn còn ở đó.
*
Đám giỗ ông nội Thụ sau đấy một tháng. Hai vợ chồng lại thu xếp nhảy tàu lụi hụi về ngôi nhà mái ngói ba gian chất chứa bí mật dòng dõi đế vương. Thụ im lặng suốt quãng đường, mắt trống trải khi tàu vào ga. Tôi nghe tiếng rao bán hàng rong vọng lại thập thòm lẫn tiếng nghiến đường ray. Tâm trạng tôi lẫn lộn. Mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ.
Sau cúng lễ, y như lần trước, Thụ đi ngủ sớm. Tôi níu kéo.
“Đêm nay anh ôm em ngủ được không? Hôm trước em thấy sợ.”
“Em lại tính giở trò gì đây? Trời thiêu lửa mà ôm nhau ngủ?”
Giọng Thụ cục cằn, ánh mắt liếc xéo chẳng mấy yêu thương. Tôi trơ hẫng trước thái độ của chồng, ở thành phố Thụ chưa khi nào nói với tôi bằng giọng như vậy. Ngón tay tôi rụt vội. Hình như làn da mỏng tanh bị bỏng.
Mẹ chồng tôi không mấy vồn vã. Bỏm bẻm trầu cau, gương mặt tôi tối, bà vấn lại khăn trên đầu, mắt nhìn đâu đâu. Làm như mẹ chồng tôi cố tình thức khuya để canh chừng con dâu. Tôi ngó ngón cái tím bầm của mẹ chồng rồi lại ngó lên bàn thờ, vẫn ngôi mộ bằng tro nung và những tấm hình phủ mặt. Tôi cẩn thận đi tắm trước khi lên phản. Phòng tắm tuềnh toàng được quây chiếu lệ bởi những tàu dừa, dưới ánh trăng non vệt ra hình thù kỳ quái. Lớp trăng non lướt mỏng đến tấm phản soi lờ mờ gương mặt Thụ. Trong bóng tối nhìn gương mặt chồng có nét an bình đủ đầy, tôi bớt sợ. Mẹ chồng tôi đã tắt nến. Cơn buồn ngủ đến thản nhiên, một cách thanh bình tựa như nỗi hãi sợ và thân thể tôi là hai tách biệt không liên hệ. Tôi ríu mắt chìm ỉm vào giấc ngủ.
Thức giấc, tôi thấy mình khát cháy cổ họng. Làn môi khét khô căng rạn và mồ hôi lấm tấm trên trán, tôi nghĩ mình bị sốt. Người tôi ơn ởn. Mặt phản ẩm rít. Ngoài sân cửa nhà mở toang và ánh trăng vẫn đang rọi những mảng sáng cuối cùng. Đúng lúc tôi chống tay định nhỏm dậy thì tấm màn đỏ nhúc nhích và tứ chi nặng trĩu. Từ sau tấm màn đỏ, những chiếc bóng bay ra lũ lượt tích tụ thành mảng đen lớn. Trái tim tôi muốn nhảy dựng khỏi lồng ngực, tôi nhắm chặt hai mắt trong kinh sợ tột cùng, nhưng vẫn cảm giác rõ rệt trước mặt khối đen đang lẩn nhẩn về phía mình. Tựa quả đất đang nặng nề đè nghiến tấm phản. Trời ơi, tôi phải gọi Thụ, mảng áo trắng ba lỗ chồng tôi loá rực như con mắt anh mở thao láo trong đen đặc ám mờ. Chỉ cần khẽ nhích cánh tay là tôi có thể đụng vào Thụ nhờ anh cứu giúp. Hình như chồng tôi còn thức, hai tròng trắng ươn ướt trừng trừng. Anh nằm ngửa, hai tay xếp trước bụng ngay ngắn như một xác chết mở mắt. Một thoáng tôi nghĩ chồng tôi đang nhìn lên trần. Một lúc tôi nghe hơi thở Thụ đều đều vung vãi. Làm sao anh lại có thể ngủ ngon đến vậy? Chưa bao giờ tôi ghét cái khuôn mặt phinh phính bình lặng của Thụ như lúc này, anh bỏ mặc tôi đơn độc, nhoài nhã. Khí quyển mỗi phút một nực nồng, rít ẩm, ngột ngạt. Thời gian như bất tận, tôi không dám ngoái lại nhìn mảng đen đã rất gần, chỉ tích tắc nữa sẽ ập xuống mình. Tay chân tê cứng mà lạ thay, hai con ngươi tôi mở to chưa từng thấy, sáng xuyên thủng màn đêm, đến nỗi tôi nhìn được cả những sợi lông mi của chính mình đang vòng cung lên vầng trán căng rát, xót rạn mồ hôi. Dường như Thụ vừa dịch lưng. Anh lăn sát vào tôi hơn, một chút nữa thôi là anh chạm vào người tôi, nhưng Thụ bất động ở ranh giới ma mãnh ấy, bây giờ tôi nhìn rõ hai mắt anh không nhắm tý nào, thậm chí mở to hơn thường ngày. Mảng đen đã thôi uốn lượn trên mền vải, nó thò hẳn vào lùng sục từng bộ phận thân thể tôi. Bàn tay lần rờ trọn đường viền môi, nắn từng chiếc răng xinh xắn, hệt như khi Thụ trườn lên tôi thổi khúc dạo đầu. Đến hai núm vú bàn tay đang lạnh lẽo chợt nóng rẫy. Mỗi ngón thiêu rụi tôi như lửa. Màn đen rẫy rùng khi có tiếng giầy rón rén trên sân gạch và bóng áo cánh khen khét mùi đàn ông hiện ra. Cô út về tới. Bàn tay vẫn lẩn nhẩn nơi êm ái mượt mà làn da bụng con gái. Tôi đinh ninh em chồng mình sẽ nhìn thấy, sẽ tri hô lên và mọi người nhào tới hất mảng đen, chặt bàn tay vô liêm sỉ khỏi người mình. Nhưng Thắm chỉ trân trân ngưỡng cửa nhìn ngắm, hai hàm răng bít chặt, bước những bước ngắn vội vào buồng. Tôi nghe tiếng cười đắc ý sát gần. Bàn tay bắt đầu mạnh bạo hơn gỡ lớp vải kết mồ hôi, bóc tách thuần thục. Mồ hôi tướp ướt đùi non, rãi rà rề xuống mặt phản trơn rít. Rồi khi bàn tay túm trọn lụa nhiễu đen óng, mảng đen bỗng tan loãng hiện rõ hình dáng một con người nghênh ngáo. Tôi hiểu mình phải im lặng, im lặng trong sợ hãi tột tận đời người. Khói đen tan biến hết. Tôi hét lên, tôi thấy mình hét lên một tiếng sập trời khi lờ mờ nhận ra đường nét trên gương mặt đang đè mình. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô đanh ác đầy quen thuộc. Chưa kịp định thần, chiếc quần tôi đã bị kéo phăng bằng một động tác như ảo thuật. Mồ hôi rìn rịn bức bối hai đùi, đúng khi tôi cảm được sự cương cứng thúc lên bụng thì cánh cửa buồng mở toang và mẹ chồng tôi hiện ra với chiếc bật lửa. Tôi muốn vùng chạy khỏi nỗi nhục nhã ê chề. Bóng đen vẫn nhịch, từng phân nhịch xuống. Đôi mắt mẹ chồng nhìn vào phản làm tôi hãi hùng hơn tất cả những gì đang chịu đựng. Tia nhìn sòng sọc, hằn học, cay nghiệt bổ tát mỗi phân vuông cơ thể tôi loã lồ. Ánh mắt ấy như muốn thiêu cháy mỗi sợi lông măng hình hài tôi. Cố vùng vẫy, cằn đạp thoát cái nhìn của bà, tôi quên cả bóng đen đang nhinh nhích đã gần kề cửa sông con gái. Bóng tối tan chảy, lửa bùng lên loang khét tấm màn đỏ. Mẹ chồng tôi phẩy lia phẩy lịa nắm nhang khắp bàn thờ như điên dại. Bóng đen rít lên một tiếng man rợ xoẹt ngang lửa nhang. Bụng tôi kéo một vật gì dài cứng thép. Hụt hẫng rơi tòm tôi xuống đâu đâu. Tôi thấy có làn gió thổi mát sợi tóc, những làn gió làm ngả rạp bãi ngô lao xao. Dưới ánh sáng nhập nhoàng bó nhang toả khói, mẹ chồng tôi lê bước chậm chạp về buồng. Và Thụ khịt khịt mũi đạp chân vào đùi trần của vợ. “Sao nửa đêm ai lại thắp nhang thế này?” Lưng Thụ thẳng đứng như bị điện giật khi anh mở mắt. “Em.. em.. em cởi truồng?” Đập mạnh cánh tay xuống phản trong nỗi cứu sinh, tôi choàng tỉnh, biết mình vẫn nguyên vẹn hình hài. Kéo quần lên, tôi quay lưng lại Thụ không giải thích một lời. Giấc ngủ đến ngon tuyệt diệu trong đời. Tôi không biết mắt Thụ hằn lên những tia đỏ dại cuồng.
Tôi thức sớm không phải bởi tiếng gà gáy, không bởi ánh nắng chói loá xuyên tấm liếp cứa da cứa thịt. Tôi thức dậy bởi giọng nói mỉa mai kéo dài đu đượi chua đôi môi hóng hớt của Thắm xỉa xuống tấm phản, đầy tiêu ớt cay xé đã làm tôi choàng tỉnh. “Làm dâu thời buổi này kể ra cũng sướng thật.” Lảng ánh mắt của Thắm, tôi thấy mẹ chồng đang ngồi ngoài hè, trông bà nhỏ thó như một đứa trẻ. Bà ngó lơ vườn tược cây cối trong im lặng lâng láo của loài rắn. Im lặng u ám như đêm qua mẹ chồng tôi không thấy con dâu cởi truồng tênh hênh trên mặt phản, đã không phẩy lia lịa bó nhang trước bàn thờ. Dưới bếp Thụ quần đùi bên rổ khoai lang tím. Anh ngừng nhai nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc nào. Đôi mắt Thụ vô hồn, tròng mắt anh quạnh quẽ rờn rợn.
“Đêm qua anh ngủ có ngon không?”
Tôi hỏi gắng gượng. Dường như tôi không hỏi Thụ, nhưng tự vấn chính mình. Tôi không biết chồng mình có nhìn thấy những gì đêm qua trên tấm phản, có nghe tiếng hét mà tôi đã thét lên? Thụ vẫn nhai, khoai lang thì đâu cần nhai nhiều thế, hở Thụ? Miệng anh nhều nhào chất bột chẳng đẹp chút nào.
“Em dậy muộn quá đấy.”
Thụ không trả lời tôi. Câu nói của anh tôi biết hiểu thế nào. Tôi phải tự trả lời cho nghi hoặc của mình, phải tự mình chèo chống qua vùng lũ xoáy. Nhưng tôi biết hỏi ai, tìm ai bây giờ? Bàn tay thon ơi, bàn tay diệu kỳ ơi, bàn tay có biết không, trả lời tôi đi. Tôi thay áo quần, bỏ ra bộ đồ ẩm rít mồ hôi nhàu nhĩ, quần lót đặc quánh thứ chất nhầy ngà tôi chẳng biết gọi tên.
Khi trở lên nhà, mẹ chồng tôi không còn ngồi trước hiên. Cả Thụ và cô Thắm cũng lảng lờ nơi nào. Tôi bỗng thấy mình như được cởi dây trói vô hình. Bàn tay ngón dài sáng nay càng thanh tao lạ lùng. Không xui khiến, nó kéo roạc tấm màn đỏ trước bàn thờ, tựa muốn cho tôi thấy điều gì. Quả thực chưa bao giờ tôi nhìn kỹ bàn thờ tổ tiên nhà Thụ. Bây giờ đập ngay vào mắt tôi là hai huân chương liệt sĩ, một Điện Biên, một đường 9 Nam Lào. Hai tấm ảnh truyền thần dương cặp mắt dài dại song vẫn là tia nhìn lạnh lẽo đầy hãnh tiến. Thụ chưa kể tôi nghe về những tấm huân chương này bao giờ. Sống lưng tôi lại ởn sốt. Những đôi mắt đang chằm chằm hắt tia nhìn sắc lạnh lên thân thể. Đôi mắt liếc xéo của những người đàn ông dòng dõi đế vương chết rồi vẫn đội lên đầu xứ sở Trung Hoa. Tôi quay lưng trước đôi mắt đêm qua đã vờn rượt lên tấm thân nóng ẩm kích động đàn bà của mình. Tôi chạy ra sân, chạy xuyên cánh đồng ngô đã vàng trĩu, bóng nhẫy những quả bắp căng rửng hạt tròn. Gió đượm mùi đất ẩm, mùi khô quánh trộn với nước sông tù hãm miết hơi dần dật vừa vuốt ve vừa sờ soạn chiếc áo cánh thêu cành hoa đỏ đậm vắt ngang hai bầu ngực tôi đang thở gấp. Bên trong chúng chẳng có gì mà vẫn bị kềm hãm. Tôi muốn thân thể tôi được giải phóng, tôi muốn bầu ngực mình núng nẩy tự nhiên reo hát. Chúng đang kêu lớn lên rằng đêm qua trí óc tôi không mơ, chúng đã bị vầy vò, bị liếm láp, bị nát nghiền. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô của những tấm hình trên mộ bia thản nhiên, tráo trơ hãnh tiến một cách bình lặng. Bình thường như tôi đã bị cưỡng hiếp. Nhưng sao tôi không chống cự? Phải chăng tôi đồng loã, phải chăng tôi đã ưỡn người lên chờ đón? Phải chăng vòng quay đã được sắp đặt từ buổi trưa ngốt ngát bất thường tuổi thơ đến buổi chiều Bảo tàng Dân Tộc Thụ đổ bóng xuống đời tôi? Nhưng suốt những năm thiếu nữ tôi đã mong chờ, tôi đã khát cháy, giờ đây nó hiện hình sao tôi hoang mang? Vòng quay số phận cuộc đời tôi không phải vòng quay yêu thương. Tôi là ai, từ đâu đến? Tổ tiên đế vương Trung Hoa tay dài chạm gối nhà Thụ muốn gì?
Bãi tha ma thênh thang trước mặt. Gió sớm từ sông rì rào đổ thốc qua quần bò áo cánh đen. Thân xác tôi buôn buốt, nhưng nhức từng cơn, nhưng là sự nhưng nhức kích động, hỏi đòi và đau đớn. Tôi sợ chính mình. Cành hoa thẫm đỏ vắt ngang hai bầu ngực vẫn chỉ chực vểnh lên đĩ thoả. Nó đang mơn trớn, dỗ dành hoang đàng. Thung lũng mồ mả mười một ngôi mộ đẫm rượt sương đêm. Những cọng cỏ chà cứa vào chân tôi hay chân tôi lướt lên chúng mời mọc? Mười một ngôi mộ yên bình, sự yên bình thái quá một u mê. Tôi muốn những ngôi mộ nứt đất chui ra từng bóng ma, từng oan hồn liệt sĩ xéo sắc, tay dài chạm gối. Tôi nghĩ mình sẽ không sợ hãi. Tôi muốn họ trả lời tôi họ muốn gì ở đứa con gái nhiều xúc cảm này và có gan hãy hãm hiếp tôi giữa ban ngày ban mặt. Vẫn chỉ là im lặng. Má tôi nóng hực, miệng tôi lại khát cháy. Giật tung hàng khuy áo, cành hoa đỏ thẫm đứt đôi, tôi xoay vòng quanh mười một ngôi mộ. Vú tôi rứng tràn không khí. Vú tôi là đời sống, là hơi thở, là khí quyển. Mồ mả là quá khứ, là huân chương, là tổ quốc. Tôi chạy giữa bãi tha ma thênh thang hoang dại. Tôi múa điệu múa da thịt tươi tốt, thách thức thần linh, thách thức âm hồn dòng dõi Trung Hoa nhà Thụ. Tôi tung tăng thể xác, đôi bầu vú tự do khiêu khích cho đến lúc bàn tay xa lạ có năm ngón thuôn mềm đưa lên cài lại hàng khuy áo ngay ngắn. Tôi đứng nhìn bàn tay của chính mình như nhìn bàn tay của một kẻ chất phác quả quyết giắt tay tôi lầm lũi trở về. Có phải bàn tay của kẻ nào đó còn dính vào cườm tay tôi đã hiểu không thể nào chống cự nổi chiếc bàn thờ to dài quá cỡ với tấm màn đỏ nhức nhối chất chứa cả một quá khứ phi phàm?
*
Thụ mang ánh nhìn lạnh lẽo trên suốt chuyến tàu xuôi về thành phố. Tôi có cảm giác anh giống một pho tượng ai đặt cạnh mình. Anh náu lặng, làn da chỗ đỏ ửng chỗ nhợt nhạt. Những cánh đồng trơ hoác gốc rạ chạy tăm tắp trong nhập nhoạng hoàng hôn. Tôi không dám nhìn thẳng mặt chồng, chỉ len lén chăm chú lên đôi tay Thụ dường như dài hơn, bất động hơn, khoanh vòng nhiều hơn trước vùng ngực phẳng. Tôi muốn tự mình mân mê bầu vú, để tìm lại cử chỉ âu yếm của chồng. Nhưng tàu cứ tiếp tục rì rì, nhởn nhơ trên con đường dài trơ trẽn. Tôi muốn Thụ hét lên, chửi rủa thành lời những gì đang khoét rỗng đầu anh. Không còn nghi ngờ gì, Thụ đã nhìn thấy cảnh đêm qua, Thụ biết tất cả. Nhưng sao anh không cứu tôi, anh không thiêu cháy bóng đen man rợ bảo vệ vợ mình. Hay Thụ đồng loã, bán tôi cho những bài vị liệt sĩ khát đói? Tôi đâm hận anh vô cùng. Hận lây sang những ngày sau đó khi đã yên ấm nơi thị thành náo nhiệt, khi chiếc bàn thờ bỏ mặc bụi phủ nhà quê. Mà không là giận nữa, một nỗi hoài nghi thường trực ngày đêm.
Cuộc sống vợ chồng dần dà ngường ngượng. Thụ vẫn chăm chút tôi nhưng sự chăm chút đượm mùi sầu thảm. Chẳng còn lửa cháy, chẳng còn nồng nàn. Tôi thôi không hực lên hổ cái mỗi đêm trên người Thụ. Tôi không vồ nuốt lấy anh, hối hả rúc mặt vào trong nách anh tìm hương vách nhà rông của buổi trưa nào ở Bảo tàng Dân Tộc. Thụ cũng chẳng mấy mặn mà chuyện ái ân. Bàn tay anh thôi vuốt ve bóp nắn. Tôi cũng thôi cắn đầu lưỡi Thụ có mùi cỏ đắng. Mỗi sáng sớm thức giấc, tôi không còn cảm giác tội nghiệp nào cho Thụ. Và anh cũng không còn véo mũi tôi cảnh cáo đêm qua. Chúng tôi lặng im, không la hét, không dọ hỏi để tìm nguyên nhân, không một giải thích nào. Ngầm hiểu với nhau. Như đã cài trong đầu tôi và Thụ chuyện phải xảy ra để mà chấp nhận. Đời sống bình lặng, trong bình lặng giấu giếm giằng xé với những mẩu đối thoại đều đều như kinh nhật tụng.
“Hôm nay anh đi làm mệt lắm không?”

“Em trông mắt anh trũng sâu, đừng gắng sức nữa.”

Nhưng thân thể tôi thì không im lặng. Đêm khuya, khi đèn đường nguội lạnh, cạnh mình Thụ xoay lưng thin thít thì làn da tôi lại hực hội khát thèm. Tôi thấy vú tôi nở ra trong đêm tối, nở lớn như một đoá vạn thọ bất chợt bung cánh, to bằng một cái bát. Thân thể tôi giống một quả mít tố nữ ngậy thơm đợi bổ đôi. Lẫn trong thao thức, tôi nhớ tấm huân chương liệt sĩ Điện Biên lấp lánh, huân chương Đường 9 Nam Lào sáng choang động đậy. Đùi tôi thèm được rát rẫy mồ hôi, bụng thèm cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào. Tôi biết như thế là tội lỗi, nhưng rồi lại tự nhủ đó là một thứ tội tổ tông mà chẳng ai có quyền chê trách.
Tôi biết phải chấp nhận để tồn tại. Tôi yêu Thụ và anh cũng yêu tôi thực lòng. Sống trên đời ai chẳng có nỗi khổ, đâu riêng gì vợ chồng tôi. Nhưng rồi giỗ tổ lại đến và tôi không thể giấu diếm khoác lên mình bộ mặt bình lặng được nữa. Thụ cũng vậy, sau sự việc, đôi má anh hóp sâu chẳng còn phúng phính. Ngày oi nồng khi hai vợ chồng nhìn tờ lịch, thu xếp cặm cụi về quê. Nếu là những lần trước, tôi sẽ liến thoắng hỏi Thụ giỗ ai mà về. Giờ đây như một lẽ thường tình, tôi chẳng cần phải hỏi. Một năm mười sáu đám giỗ, cứ thế mà ngược tàu. Tôi lại mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ, phập phồng theo tiếng nghiến đường ray với bãi tha ma chập chùng. Mọi chuyện vẫn diễn ra như bất kỳ đám giỗ nào nhà Thụ với nhang khói, với âm thanh khấn vái xin xít, ập è nơi đầu lưỡi Thụ. Chỉ khác một điều, lần cúng giỗ này vào buổi trưa. Mẹ chồng tôi bảo các cụ báo mộng cho bà làm như thế. Tất nhiên các cụ đã nói thì phải nghe. Ai nào dám cãi nửa lời. Còn nhớ ngày cưới, mẹ Thụ gọi tôi ra góc riêng, giọng bà nhỏ quá mức mà làm tôi run rẩy. “Chị về làm dâu trưởng nhà này trách nhiệm nặng nề. Lấy chồng theo thói nhà chồng, mọi thứ đều có lễ nghi, trên dưới, cứ thế mà làm. Chị làm khác sẽ rước hoạ vào thân, tôi nói trước.” Hân hoan hạnh phúc tôi quên mất giọng nói sắc ngọt của mẹ chồng hôm ấy. Trưa nay nó vọng rõ mồn một, thấu tim óc đứa con gái đang nuôi những vực thẳm khổng lồ trong mình chẳng khác nền trời không xanh lồng lộng cũng đang nuôi những tảng mây tối sáng lừ đừ. Thụ đi nhanh qua khoảng sân rát nắng, phịch lưng xuống phản nặng nề.
“Sáng nay dậy sớm đi tàu mệt quá, nghỉ trưa cho lại sức. Em thần người ra đấy làm gì, nghỉ đi.”
Thụ nói với tôi bực bõ. Làm như tôi cản trở gia tộc anh chuyện gì đó, làm như tôi chưa phục tòng khuôn phép gia đình anh đúng mức hay tôi phá đám giỗ nhà này. Tôi băn khoăn thắc mắc vì sao Thụ phải đổi giọng mỗi khi có sự hiện diện của chiếc bàn thờ? Thụ nói với tôi hay xin phép mẹ? Anh không nhìn tôi mà cũng chẳng nhìn mẹ đang ngấp nghé cửa buồng. Anh nhìn tấm màn đỏ bất động đang rang lửa. Bao nhiêu nhang thắp lúc nãy cháy cằn, tàn tro giữ nguyên dựng đứng như hình chĩa ngọn chông, trơ khấc tàn bạo. Thốt nhiên tôi muốn sập màn che giấu. Nhang cháy không cuộn thành vòng, không có điều tốt. Tia liếc xéo từ căn buồng mẹ chồng tôi bùng rát khuôn mặt, tôi ngoái đầu, chỉ là hai cánh cửa khép im lìm. Dạo này mẹ Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi nữa. Những cái liếc xéo lởm chởm nguyền rủa của bà hơn một hôn mê, một thôi miên hoà lẫn tiếng xoong chảo cô út vùng vằng ném đập ngoài giếng dìm xuống nước chìm ỉm trong nhiệt độ tăng cao và chiếc quạt tai voi xoay lấc láo. Tôi ỉm mình trong bỏng rát chật chội, hãm bức mê man. Tôi nói thầm nhà quê là thế ấy, lập đi lập lại cho đến khi giấc ngủ đến, rồi vô cớ thức giấc. Lại khát. Thụ dang rộng tay, một chân gác lên đùi tôi như kềm giữ. Ngạc nhiên chưa! Thụ không có thói quen này. Vừa lúc tôi gượng mình vươn vai thì lặng phắc đất trời. Trong tư thế ưỡn ngửa, tôi trơ cứng bất động. Đám mây nằng nặng trôi qua khoảnh sân làm tối sầm gian nhà, tối sầm bức màn đỏ tôi đã kéo che những nén nhang cháy quằn quại. Sau bức màn đỏ, bóng đen thản nhiên bước ra. Lần này hiện rõ hình hài con người. Tôi không còn sợ hãi mà nghênh mặt ngắm nhìn. Nó mang trong mình dáng hình của một lão già Trung Quốc nào đó đầy quyền uy chập chờn trên cái nền lát gạch tàu. Lão Tàu xa xăm, bí ẩn, vừa đen tối vừa có sức hút lạ kỳ, quyến rũ khác thường, vừa giông giống bố chồng tôi. Tôi chăm chăm theo dõi mà vẫn phân định bên ngoài mây xám đã quệt qua khoảng sân, hắt thứ ánh sáng âm âm xuống lũ cây cối, và chỉ cách vài thước, mặt trời đang hực nắng nhựa đường. Cơn khát gắt gỏng nhức nhối trong cuống họng làm mặt mũi tay chân tôi chìm sâu trong nỗi hoảng loạn của thể xác dù phần trí não vẫn tỉnh táo. Khát mỗi sợi tóc. Khát từng nếp gấp làn da. Khát mỗi đốt xương. Khát từ hàng mày. Khát xuống viền môi. Khát trên đồi cao vươn ưỡn. Khát xuống thảo nguyên dang rộng. Khát như chờ đợi bóng đen nhịch nhịch, đến gần tưới nước. Mồ hôi tướp xót mi mắt. Mồ hôi rịn rạn da thịt đùi non. Nhỏ giọt giọt xuống mặt phản đen bóng. Phản này Thụ nói có từ lâu lắm, dễ đã bảy tám đời ngủ nghê, ăn uống, sinh con đẻ cái và khâm liệm. Tấm phản mang quá khứ của gia đình Thụ, xa xôi, chất chồng. Còn tôi, hiện tại, một đứa con dâu đĩ thoả đang ưỡn ngửa căng rát đón chờ. Bóng đen đã đứng ở khoảng giữa hai chân tôi tách rộng. Từng đường nét trên gương mặt lạnh lùng không hề xa lạ hiện rõ. Sao mà giống Thụ đến thế. Rõ ràng là Thụ. Chân Thụ đã rơi khỏi đùi tôi tự lúc nào giống thả cho tôi tự do đối mặt bóng đè. Anh vẫn nằm nghiêng, quay hai con mắt nửa nhắm nửa mở, như muốn chứng kiến. Lúc đôi tay quờ xuống rà rẫm, tôi biết trước chiếc bóng muốn gì, thứ mà mọi đàn bà trên thế gian khi nằm ngửa đều biết. Tôi dang rộng chân lúc nghe tiếng ho buồng trong dội lại. Tiếng ho càng lớn tôi càng dang rộng chân như muốn thách thức. Chính tôi cũng không hiểu vì sao mình có thể dang chân trong lúc tứ chi bất động, muốn vùng dậy mà không được. Cơ thể tôi không vâng phục trí não nhưng vâng phục thèm khát của cái bàn thờ. Những tiếng ho đứt rời, cằn cộc, tiếp tục cay thét, làm như mẹ chồng tôi muốn biểu lộ ganh ghét với chỗ tôi đang nằm. Hai bàn tay thả xuống mạnh bạo, riết róng, hơi thở dập dồn. Nó luồn sâu bóp từng mạch máu chảy sôi huyết quản con gái đôi mươi. Gương mặt sà sát vùng cổ như muốn hút sức sống tôi căng rứng. Rồi lồng ngực bỏng rát, tôi vỡ vụn. Nó đang banh trái tim tôi ra. Tôi hét, tôi vùng vẫy, tôi van xin, hổn hển, oằn oại rên rỉ. Ông muốn gì ở tôi. Tôi biết phận dâu con, tôi sẽ làm tròn bổn phận. Mỗi năm tôi sẽ làm cơm cúng mười sáu đám giỗ. Tôi sẽ dọn sạch thung lũng mồ mả, sẽ lau bóng nhoáng bàn thờ. Sẽ sinh mười một đứa cháu trai cho ông. Bóng đen tảng lờ. Hai bàn tay bạo lực hung hãn khoét sâu, ngoáy vòng. Tôi điên đảo, đau đớn, nộ cuồng rồi tôi cười gằn thỏa mãn với ý nghĩ mẹ chồng tôi cũng đã nằm trên tấm phản này cũng đã dang chân cho nó ngoáy vòng. Sáng tối lẫn lộn. Tôi nhắm mắt cho trăm đời dòng dõi đế vương quần thảo, cho đến lúc đỉnh đầu nhức buốt, tôi bật nức nở man dại. Tiếng ho buồng trong lúc ấy hộc từng cơn xé phổi. Gần như Thụ bị bắn tung vào góc nhà, tôi có cảm giác thế, đôi mắt anh trừng trừng căm hận. Tiếng càu nhàu của Thụ cắt đứt giấc ngủ tôi mề mệt.
“Em thấy tháng sao không mang băng vệ sinh? Con gái mà đoảng quá. Mau dậy thay áo quần, lau chùi tấm phản đi.”
Vẫn bàn tay mảnh dẻ đập xuống phản giúp tôi dậy. Tôi nhìn Thụ rười rượi uất ức. Anh mở mắt, anh chứng kiến, anh vờ như không có chuyện gì. Anh cũng không còn để ý chu kỳ của vợ. Tôi chỉ vừa sạch vài ngày làm sao thấy tháng? Vả lại thứ máu loang áo Thụ, thứ máu đen đặc mặt phản, thứ máu quện bệt đùi tôi không phải máu đàn bà mỗi tháng. Mà là máu tươi chảy róc từ vết thương rách toác bị đâm sâu hung bạo. Mọi người bảo tôi bị bóng đè, nhưng bóng đè chỉ là giấc mơ khi đang ngủ, còn tôi rã rời, hai đùi nhớp nháp máu trộn nước con gái.
“Em còn ngồi ỳ ra đấy, làm nhanh lên, mẹ dậy bây giờ?”
Thụ chưa hết câu thì cửa buồng kẹt mở. Khuôn mặt mẹ chồng tôi đỏ gắt, tay lóc xóc quạt nan. Dừng cái nhìn nơi mảng áo đỏ con trai, nơi mặt phản ướt đen, bà ngẩng đầu bước thẳng đến bàn thờ kéo roạc tấm màn đỏ sang bên, châm lửa đốt nhang. Trưa chuyển về chiều, không ngọn gió nào chạy loạn. Tôi ngồi chết lặng. Vợ anh bị hiếp nhưng Thụ chỉ sợ mẹ dậy. Thụ tốc áo qua đầu ra giếng dội ào ào như muốn dội chất hờn căm trên mình anh hay muốn rửa ráy những dơ bẩn thay cho vợ. Tắm xong, anh trở thành một người khác.
Chúng tôi không đủ sức lực, can đảm mang trên mình bộ mặt bình thản thường nhật cố dối lừa bản thân được nữa. Thụ ít nói hẳn đi, gần như là im lặng. Hiếm hoi mới thấy nụ cười của anh, có chăng là trong một vài lần xã giao bắt buộc. Đôi má anh hóp, ngày một sâu hơn. Tôi thường lén nhìn chồng, nhưng Thụ đã vĩnh viễn không còn sờ nắn bàn tay tôi mà khen ốm mập, ngắn dài. Ngôi nhà của chúng tôi ở thành phố giống một am thờ. Đôi khi tôi hận anh. Vì lấy anh tôi mới về căn nhà xưa cũ đó, mới nằm trên tấm phản ấy, mới ra nỗi đoạ đầy bây giờ. Nhưng Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi. Hình như anh không muốn nhìn bất cứ cái gì, không muốn nghe bất cứ điều gì. Có bận, tôi bắt gặp anh ngồi câm điếc trong buồng tắm cả buổi chiều, ánh mắt vô hồn. Tôi thương chồng và thương chính mình. Thụ đau đớn một tôi đau đớn mười. Tôi là đứa hư hỏng. Tôi biết mình bị hãm hiếp trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, trước mặt chồng, nhưng tôi lại bồn chồn, mong nhớ, thậm chí khát thèm cảm giác ấy. Tôi đạp quẫy, nội chiến, tâm linh héo rũ. Tôi thay rèm cửa màu đỏ, khăn trải giường màu đỏ, bao gối màu đỏ, cố trang trí căn nhà hao hao giống một trang thờ với nhiều tấm màn đỏ. Thụ không phản ứng gì.
Đêm này qua đêm khác, khi tấm rèm cửa trong ngôi nhà thành phố bắt đầu phai màu nhức nhối, tôi và Thụ lại ngược tàu về ngôi nhà mang nhiều oan khuất. Trước hôm đi tôi bị lên một chiếc nhọt ở chỗ thật tai hại. Nó nằm gần cái đàn bà ê ẩm, đỏ tấy. Thụ thấy tôi nhăn nhó tỏ vẻ thông cảm, anh bảo tôi nếu đau quá không về cũng được, anh sẽ thưa lại với mẹ. Nhưng tôi đời nào bằng lòng, đời nào để chiếc phản trống trơn mình Thụ đêm dài. Chỗ của tôi là ở đấy. Không hiểu sao tôi thấy mình khoẻ mạnh, háo hức lạ thường. Tôi ngượng ngùng tự thừa nhận với mình nghiện mười sáu đám giỗ, mười một ngôi mộ, tấm phản đen bóng, cả tiếng ho cục thét buồng trong. Tôi phê cảm giác khát cháy, nhào nhoẽ mồ hôi. Chiếc bóng đen đúa làm tôi mê hoặc, xô đẩy tôi trong gầm thét cuộn trào. Thụ đau đáu trước thái độ phấn khích của tôi, dường như anh biết từ trước tôi sẽ phản ứng ra sao. Nhìn mặt anh lạnh lẽo, tôi hiểu. Cẩn thận, Thụ bắt tôi trần truồng dạng chân, chống tay trong phòng tắm, ghé sát cặp kính cận xem xét. Tôi sướng run lên vì cử chỉ thân mật này của chồng. Từ ngày ở quê lên, chưa khi nào anh ân cần đến thế. Tôi thầm cảm ơn chiếc nhọt, biết đâu nhờ nó, tất cả sẽ thay đổi. Ngón tay anh ve vuốt dịu dàng, người tôi mềm nhũn. Nhưng anh dịu dàng lâu quá, dịu dàng tôi không chịu nổi. Tôi muốn anh bóp nát, bục vỡ, tan oà chiếc nhọt. Một lần chồng vợ đã đời để quên hết. Ngón cái của Thụ cứ chờm hỡm trước cánh cửa dang rộng ẩm sâu. Tự nhiên tôi muốn buông một câu chửi thề, chửi thề một lần trong đời. Cánh cửa tự động cài khoá. Sao Thụ không cứ thế mà làm? Cứ thế cắm phập xuống. Cứ thế khoan sâu. Sao cứ chờm hỡm đấy mà dịu với chả dàng? Tôi bật khóc, nghĩ rằng nỗ lực cứu sông, cứu thuyền thế là hết.
Nhưng khi đêm xuống trên tấm phản, tôi nằm sấp, cánh cửa lại mở tanh bành. Sông ngập nước. Tỳ ép mắt mũi xuống mặt phản, tôi không ngờ bóng đen nhanh đến vậy. Không rà rẫm xoa xuê, không hít hà rờ ngửi. Vừa kịp hiện ra sau tấm màn đỏ đã thẳng thừng cắm trên cắm dưới vào lòng sông. Lần đầu tiên tôi không khát nước. Gẫy gập, cắt khúc tôi trong cơn xoáy liệt. Bốc cao, phịch hạ, chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man. Thân thể tôi ngầy ngậy, nước tràn miệng. Lần đầu tiên tôi hưởng thú đau đớn mà thoả mãn. Tiếng ho ngừng lặng sau cao trào. Thụ ấm ớ giữa cơn mê lãng nhoẹt nào, trừng trừng mở mắt, bọt mép nhoè môi. Lúc cử động được chân tay tôi thấy mình hẫng nhẹ. Có gì khang khác. Sực nhớ tới mụn nhọt tôi đưa tay xuống dưới. Trời ơi. Xẹp nhép. Khô cong. Không còn mủ vàng, không còn đau tấy. Lao mình ra sân, dưới ánh trăng già tôi gào thét điên dại với hai hàm răng nghiến chặt. Trăng lạnh tanh, vàng võ. Tôi quỵ gục hoàn toàn. Tôi thương tôi và tôi ghét tôi. Tôi đã đồng loã, đã kiễng chân lên rên rỉ rồi sau đấy lại nghĩ mình bị hãm hiếp, lại căm oán bóng đen tổ tiên nhà Thụ. Rồi lại mong chờ, lại hứng háo thèm thuồng. Bóng đen ấy hiểu tôi thích gì, nó tràn lấp dục vọng trong tôi và đẩy Thụ xa cách. Hai bàn tay tôi dưới trăng xanh trắng, bấu chặt, xiết nhau. Tôi hiểu những ám dấu của cơ thể, hiểu mười ngón tay kỳ diệu đang mưu tính điều gì.
Bàn tay da mỏng tanh của tôi bắt đầu động đậy. Bàn tay diệu kỳ không trọng lượng và cũng không chấp nhận, không đồng loã, không thoả hiệp mọi chuyện. Nó muốn tôi thoát khỏi mê man. Những ngón dài trắng xanh đầy kiên quyết tỳ ép ngòi bút trên tờ giấy. Nó thúc bách tôi phải ly hôn với Thụ. Bàn tay ký lên trang giấy, nhưng thân thể tôi ù lỳ không nhúc nhích, không muốn cử động mà ngồi yên vít chắc vào mặt phản, nhất quyết không đi đâu. Thân thể tôi đã u mê trong nhang khói bấy lâu, cưỡng lại bàn tay với tất cả sức lực của nhung nhớ những phập mạnh, đâm sâu. Bàn tay mảnh dẻ cầm bút, bất lực với tự do đã nắm được ở đầu ngón tay nhưng bị trọng lượng thân thể buộc trói.
Rồi máu không còn nhỏ xuống chân tôi nữa. Cơ thể thoả mãn trong im lặng. Cái thai trong bụng tôi, không phải của Thụ, không của bất kỳ người đàn ông nào cứ lớn dần. Thụ thay đổi, xoay sang vỗ về, chăm sóc vợ từng ly từng tý. Anh thường xoa xoa bụng vợ, thường xuyên nhìn lên vách như anh muốn báo cáo với những chiếc bóng đang canh chừng cẩn mật, tiến trình tăng trưởng của đứa bé. Con tôi sẽ tiếp nối truyền thống Trung Quốc, sẽ tiếp tục thờ cúng bóng tối, sẽ tiếp tục banh dạng trên phản cho các liệt sĩ thoả mãn. Nếu là bé trai, con trai tôi sẽ bảo vệ cái bàn thờ, nếu là bé gái, con gái tôi sẽ tiếp tục hiến dâng cho những tấm huân chương. Tôi đã khinh ghét cái thai, đã tính đến chuyện giết nó đi nhưng ý nghĩ chỉ thoáng qua nhanh như một cơn gió độc làm nổi gai khắp cùng châu thân. Tôi thương giọt máu của mình.Tôi thương đứa bé vô tội cũng bất lực như tôi đã bất lực, đã khép mình làm bổn phận sinh nở, di truyền một quyền lực. Mỗi ngày tôi ra ngồi trước sân, đưa bàn tay nhẹ hẫng ra trước mắt, ngắm xem làn da mỏng tanh đang óng ánh dưới nắng, rồi lấy bàn tay ấy vuốt ve đứa trẻ đang quẫy nhè nhẹ, thấy yêu thương vô hạn hòn máu tôi đang mang trong mình, yêu thương tràn lấp tâm hồn đến chẳng nói thành lời. Không biết có người mẹ nào yêu thương bào thai của cha chồng cấy vào bụng như tôi? Không biết có người mẹ nào yêu thương di sản của tăm tối như tôi? Thi thoảng tôi cũng nhìn lên vách, đoán tìm những chiếc bóng mà tôi biết đang rình rập sau bức tường, đã lao xuống mình tôi cướp mất phần trinh trắng tuổi thơ một buổi trưa hè nào và sẽ còn lao xuống cướp nốt thai nhi tôi đang mang. Thi thoảng tôi nói với những oan hồn chuyên hành nghề bòng đè, tôi đã sẵn sàng và con tôi cũng sẵn sàng, chúng tôi sẵn sàng như những người nghèo sẵn sàng bán máu. Chúng tôi không biết chọn lựa vì cơ thể chúng tôi đòi hỏi những nhục cảm mà bóng tối ban phát. Chúng tôi bất lực, chỉ còn những ước mơ mà không chiếc bóng nào có thể tước đoạt. Tôi đưa tay mình ra sáng. Nắng lung linh trên năm ngón dài ngắn thanh tao lạ thường. Chiến tranh, giông gió, bão lũ, hán hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tôi đinh ninh điều ấy. Con tôi sẽ có bàn tay của mẹ. Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da mỏng tanh nhưng biết níu giữ tự do cho dù bị thân thể buộc trói. Nắng tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh diệu kỳ.

ĐỖ HOÀNG DIỆU
Hà-nội, 6-2004

VU QUY -Truyện Ngắn- Đỗ Hoàng Diệu

VU QUY
Truyện Ngắn
ĐỖ HOÀNG DIỆU

Mẹ vào phòng, hôn nhẹ lên trán tôi, tắt tất cả những bóng đèn tôi đã cố tình bật lên vài phút trước. Ngủ đi con, ngày mai còn có sức. Lời Mẹ dịu dàng, nhưng tôi nghe váng vất nỗi xót xa. Xót xa sẽ gả đi, cho đi đứa đứa con gái yêu quý được nặn ra từ bể sâu đau đớn và quặn thắt thương yêu vào tay một người xa lạ không chung máu mủ ruột rà. Ngày mai tôi lấy chồng. Đây là đêm cuối cùng tôi ngủ trên chiếc giường con gái. Tôi muốn nhìn lần cuối căn phòng đã che giấu cho tôi suốt quãng đời thiếu nữ, che dấu những nẩy nở thân xác và che dấu cả những giọt nước mắt hạnh phúc con người. Nhưng Me không muốn tôi thức, Mẹ tắt đèn, Mẹ cũng không ngủ cạnh tôi đêm nay dù cho tôi nài nỉ. Mẹ biết con là một cô gái mạnh mẽ, con nên ngủ một mình. Hình như sau lần áo màu tím của Mẹ, không kịp che dấu trong xương tủy, vài giọt nước mắt rơi chảy. Mẹ đã mong chờ ngày này bao nhiêu lâu, thế mà Mẹ lại khóc.
Ngoài phòng khách, đồng hồ treo tường điểm 12 giờ khuya. Một ngày mới. Đêm tối giăng dài bên ngoài. Sau bóng tối khởi đầu cho ngày mới kia, ngày mai, sau ngày mai, cuộc sống tôi sẽ hồng tươi hay xám lãnh? Tôi không biết, Mẹ không biết, chỉ có bóng đêm lờ mờ nhận ra hư ảo. Và bóng đêm đang thở êm như làn lụa mỏng. Hàng mi dài từ từ đan với nhau. Hình như tôi ngủ. Mà hình như tôi còn thức.
Người đàn ông đứng tuổi, làn da sạm nắng, miệng ngậm tẩu nhìn như nuốt chiếc váy màu trắng đang tỏa nắng chiều trên người tôi. Ông dừng lại trên chiếc nón rộng vành bị tuột dây trễ nãi lơi lả xuống bầu ngực ngọ ngoạy sau lần vải mỏng. Nụ cười văng ra khỏi khoé mắt chân chim.
– Cô gái, cô có biết mình đáng yêu không?
– Ông là ai? Tôi chưa nhìn thấy ông đến làng bao giờ.
Người đàn ông đưa tay mơn nhẹ bông hoa trắng tôi cài trên tóc. Nụ cười tỏa ra từ cả khuôn mặt.
– Cô gái, cô lại còn thông minh nữa. Thế cô là ai?
– Tôi là thiên thần!
Đôi chân trần của tôi bay lên theo ánh mắt và khoé môi hờn dỗi. Làn da người đàn ông đỏ rực trong những tia nắng cuối cùng dâng trên cát, lộ vẻ ngạc nhiên.
– Còn tôi là nhà văn. Nhà văn sẽ biến thiên thần thành người đàn bà trần tục.
Ông làm điều ông nói bằng cách tôi chưa biết bao giờ. Ông đào xới vực thẳm vô hình thân xác và tâm hồn cô bé 16 tuổi trong tôi, mỗi hoàng hôn, trước biển, trên tảng đá tôi vẫn thường ngồi suy tư như một người đàn bà. Căn phòng khách sạn ông ở trông ra cồn cát, mỗi buổi trưa mồ hôi ông quện ướt má môi tôi tựa mật ngọt. Bồng bềnh mê man tròng trành giữa cõi nồng nàn thân xác cùng ông, chiếc nón trắng rộng vành treo hờ bậu cửa đung đưa cầu vồng. Chỉ khi phịch xuống cõi trần tục, tôi mới biết đấy chỉ là dải lụa đã ngã màu vì hơi mặn của biển cả bao buổi chiều lang thang của tôi, cô gái làng chài ưa khám phá. Sóng bạc đầu xuất hiện ngày ông ra đi. Chồm lên liếm gót chân trần hồng líu ríu khóc thầm của tôi. Giữa triền cát sáng mai ẩm ướt, ông quỳ xuống mang vào chân tôi đôi săng đan trắng. Đuôi mắt ông hình như hằn thêm nhiều nếp.
– Anh sẽ không còn quay lại?
– Mỗi người đàn ông là một nhà văn. Anh ta sẽ đến, và sẽ khám phá ra em như anh từng khám phá.
Giọng nói của ông như vọng ra từ triệu ngọn sóng. Dáng ông khuất dần trong ánh nắng đầu tiên một ngày mới. Tôi chạy, tôi bay trên cát ẩm dịu dàng bằng đôi săng đan ông tặng. Chạy mãi, bay mãi theo những ngọn sóng bạc đầu đón bắt bình minh. Chân trời mải miết bơi trước tôi, chìm trong biển lớn. Giã từ người đàn ông biến tôi thành trần tục, tôi dang tay đón chào cuộc sống. Mặt biển bừng lên. Chuông đồng hồ kéo tôi khỏi bao la, dạt về phía triền cát. Ba tiếng chuông ngân. Làng chài, người đàn ông đứng tuổi, cô gái ngây thơ đội chiếc nón rộng vành bay mất. Chân rơi khỏi người tự lúc nào, thân thể tôi lạnh. Giấc mơ êm ái kỳ lạ. Nó muốn nói điều gì với tôi, về tôi? Mà tôi đang ở đâu, tôi đã trở về nhà hay còn trên biển cát? Tôi gượng mình ngồi dậy. Trong hư ảo ánh trăng mùa đông muộn màng, màu hồng của chiếc thiệp cưới vương cuối giường tựa chiếc quần lót mà người đàn ông đã dùng miệng cởi khỏi người tôi trong giấc mơ ban nãy. Tôi cúi xuống kiếm tìm, đôi săng đan màu trắng sáng lên dưới chân giường. Ngày mai tôi sẽ mang đôi săng đan ấy dưới chiếc váy cưới về nhà chồng. Không phải ngày mai, chính là ngày hôm nay. Đã ba giờ sáng. Tôi còn bao nhiêu giờ cuộc đời con gái? Mà cuộc đời con gái của tôi bắt đầu từ bao giờ? Phải chăng từ gương mặt buồn nhưng sáng bừng lên nỗi đam mê trong đôi mắt ấy. Đôi mắt ăn cắp 15 năm tuổi thơ tôi và dâng hiến đến tôi nhiều cuộc đời khác?
Tôi gọi anh là anh. Tên anh lặn sâu vào mạch huyết không cần nói thành lời. Ngôi nhà lặng lẽ khuất sau vườn cây như òa vỡ, nức những tiếng cười và âm thanh hạnh phúc mỗi ngày chủ nhật. Lần đầu tiên, khi anh gượng nhẹ, rón rén dắt tay tôi bước vào ngôi nhà, tim tôi tắt từng mạch máu. Tôi nhìn thấy thiên đường và thấy cả địa ngục trong ngôi nhà vắng lặng. Cách bài trí ngôi nhà theo lối cổ xưa với những bức tranh Đông Hồ bằng giấy dó làm không gian ù mề, lười biếng như ánh mắt của anh khi tôi nói về tương lai và những mơ ước của mình. Bàn ghế lẳng lặng, đến cả con chó có bộ lông mượt như lụa cũng lẳng lặng. Anh nói từ ngày ly hôn, anh chưa đưa người phụ nữ nào về nhà. Có lẽ vì thế , con chó của anh ta không còn biết hơi người .Hình như nó nghĩ tôi là một loài động vật.Sau này , nhiều chủ nhật trôi qua giữa ngôi nhà đã trở thành thiên đường , tôi cảm thấy con chó màu xám mượt mà bộ lông vẫn không xem tôi là một người bạn. Đôi mắt rười rượi luôn mở lớn của nó mang ngàn lời trách cứ lẫn thương hại.Nhất là buổi chiều ấy, buổi chiều tôi cắt đứt tuổi thơ vội vàng bằng anh.Cắt đứt bằng lưỡi, bằng môi , bằng mắt, bằng tất cả sức mạnh và nhịp đập rối loạn say mê. Căn phòng ngủ ngăn nắp của anh lộn tung những mê cuồng. Mê cuồng chứng giám nổi mất mát và bắt đầu sự hồi sinh. Hồi sinh một người đàn bà thực thụ. Người đàn bà 16 tuổi. 16 năm tuổi thơ, anh cắt trọn trong một cú thọc sâu. Và kết thúc bằng vũng máu đỏ dấy lên như báo hiệu một cuộc đời giông bão. Sau đấy là im lặng hoàn toàn . Chỉ khi chú chó lông xám của anh nhảy phắt lên giường hít ngửi vết máu loang rộng trên nền ra trắng và hú lên một tiếng khó hiểu, tôi hồi tỉnh và lơ mơ biết mình đang ở đâu. Tôi ngửi thấy da thịt anh, da thịt người đàn ông đượm rát mùi phù sa sông Hồng. Thứ mùi mà mỗi lần nước rút, cùng lũ bạn chạy xuyên qua bãi ngô đồng, tôi vẫn thấy nó dậy nực cánh mũi. Cánh tay anh choàng qua tôi nặng trịch , lười biếng.
– Em khát nước.
Giọng tôi căng tràn, khô, bỏng. Tôi những tưởng anh sẽ chạy đi mang ngay nước đến cho tôi. Nhưng không.
-Em vào trong tủ lạnh lấy luôn nước cho anh đi.
Tự nhiên nước mắt chảy ướt đẫm môi má tôi. Tôi nghĩ mình ảo tưởng bởi những cuốn tiểu thuyết .Thực tế đàn ông không ai hầu hạ đàn bà, chỉ có đàn bà phải chiều chuộng đàn ông .Tôi vừa mới trở thành đàn bà, tôi phải xứng đáng với điều đó,với người đàn ông đã xoáy mình vào trong tôi cắt đứt tuổi thơ ảo ảnh. Vài giọt nước mắt vụng về rơi trên tay anh , anh tưởng tôi tiếc.
– Em không nuối tiếc chứ?
Giọng anh ấm yêu thương .
– Không ,em hạnh phúc.
Tôi nghe trọng giọng nói của mình nhanh những đam mê dồn dập.Báo hiệu nhiều cơn lốc xoáy nay mai.Sau này, hình ảnh con chó xám và tiếng hú của nó ngày tôi thành đàn bà luôn đến sau những cuộc ân ái. Dù không còn là với anh, mà những người đàn ông khác.
Lúc mẹ dắt tay tôi len lén từng bước ngắn vào Bệnh viện Phụ sản một ngày không có gió, hình ảnh chú chó có bộ lông xám mượt chỉ đường cho tôi đi vào chỗ làm tôi trở lại trong sạch trước mắt mọi người lại vừa u uất nhìn tôi như van xin đừng bỏ đi mầm phôi của anh , mầm phôi chúng tôi đã tạo ra sau 3 tháng yêu thương. Nó không nghe cuộc đối thoại đã diễn ra trước đó, trước bàn thờ uy nghiêm khói lượn vòng, bố tôi vừa thắp nhang lên , ngày không có gió.
– Bố mẹ tha thức cho con tất cả những lầm lỡ con đã dại dột mắc phải. Nhưng con phải phá bỏ cái thai trong bụng vào ngày hôm nay.
– Con không lẫm lỡ. Con yêu anh ấy thực lòng , con phải giữ đứa con của mình .
Khuôn mặt bố chuyển sang xanh xám, mắt mẹ bắt đầu nặng trĩu mây mù.
– Điều này quyết định cả tương lai của con. Nếu con giữ cái thai này lại, xem như cuộc đời con đã chấm dứt, con không biết ư?
– Cái bào thai này mới chính là cuộc đời con. Vì con yêu anh ấy.
Mây mù dầy đặc đôi mắt to của mẹ, không còn chút ánh sáng nào.
– Nếu con không nghe lời , mẹ sẽ tự vẫn.
Mây mù chuyển thành nhiều giọt mưa rớt trên khuôn mặt đau đớn của mẹ, rớt dài theo tiếng thở của bố và cuối cùng rớt tan trong nỗi tuyệt vọng đường cùng của tôi. Chú chó lông xám mượt không tưởng tượng được chuyện của con người.Vẫn không có một chút gió nào khi người ta cời mầm phôi của anh khỏi bụng tôi. Này đây là môi bỏng, này đây là lưỡi nóng, này đây là đùi thon, này đây là bộ lông xám mượt chạy lăng xăng quanh giường rên những điều vô nghĩa lúc anh rót mình hòa vào tôi .Tất cả, tất cả từ từ ra đi theo bàn tay bà bác sĩ có bộ mặt dài quá cỡ. Tôi đâu ngờ vào đúng giây phút tôi đang hoảng dại vì mất mát ấy, anh đã kịp cài mầm phôi mới vào một người con gái khác. Sau này anh thanh minh rằng anh biết gia đình tôi không đồng ý cho tôi lấy anh, một người đàn ông đã ly hôn, anh chán, anh buông thả. Tất cả những người đàn ông trên thế gian này khi chán đều buông thả, đều cài mầm phôi vào bụng một người đàn bà vô tội vạ thế ư? Tôi hỏi sao anh không làm mọi cách để dành lấy tôi ,giữ lấy đứa con nếu thực lòng yêu tôi thay vì lột váy một cô gái khác để khỏa lấp? Anh cúi mặt, tôi nhìn thấy chiếc cằm trễ nải của anh rung nhẹ. Mùi phù sa sông Hồng trên cơ thể anh trở nên nồng quá mức, sắp sửa trương thối. Sau này, mỗi lần nghĩ về anh , tôi lại ngửi được mùi phù sa châu thổ sông Hồng. Và tự nhủ, nếu tôi sinh con rồi kết hôn với anh ngày ấy, sống trong ngôi nhà trang trí tranh Đông Hồ đầy bụi bám, ngửi hít mùi phù sa sông Hồng ngày này qua ngày khác ,không hiểu cuộc đời tôi sẽ ra sao.Sẽ bình lặng như bãi phù sa ven sông ,mặc cho nước dâng nổi làm mất đi hay bồi thêm, âm thầm chịu đựng trong khi rất có thể chồng mình lại đi gieo mầm trên một mảnh đất khác? Đàn ông như anh, như phần đàn ông Việt Nam không biết đánh vần từ Chung Thủy trôi chảy. Đôi mắt trách cứ của chú chó bộ lông xám mượt lơ lửng trên cao. Hình như nó nhắn nhủ với tôi rằng bào thai người ta vừa gắp ra sẽ đầu thai vào nó. Có lẽ vì thế, suốt đời tôi chẳng còn bao giờ được gặp nó, như một sự trừng phạt. Và anh, mỗi tình đầu vĩnh viễn ra khỏi tôi vào một ngày không gió. Hình như là vĩnh viễ , dù sau này, có trở lại nhưng là chứng nhân của tội ác. Chỉ có mây mù trên mắt mẹ , mùa đông trên khuôn mặt cha, nỗi trách cứ của tia nhìn chú chó , và sự hoán đổi u sầu lấy hồn nhiên trong tôi. Tôi là ai thế nhỉ? Không tiếng trả lời .Giọng tôi vọng ra từ tôi và vọng vào chính tôi .Tiếng bính boong 5 lần của chiếc đồng hồ ngoài phòng khách len qua lớp kính dấy và khuôn mặt không còn mây mù của mẹ tôi hiện ra cùng nụ cười.Giống như nụ cười.
-Con ngủ ngon không,con gái?
Mẹ đã tự mình trả lời trong âm điệu run rẩy của câu hỏi và khóe miệng mêu mếu.Mẹ nghĩ tôi không ngủ.Tôi chẳng biết tôi đã ngủ hay chưa.Hình như là ngày có gió. Gió tràn qua khung cửa sổ dịu dàng, mơn trớn .Gió của ngày tôi sẽ là người đàn bà trưởng thành .
-Đến giờ rồi con yêu , con phải dậy sọan sửa.
Tôi co hai chân lên ngang ngực , che giấu đôi mắt hoe đỏ.
-Đang sớm mà mẹ,mới 5 giờ .Cho con ngủ thêm chút nữa đi .Sau này mẹ có muốn , con cũng không ngủ trên chiếc giường này nữa đâu.
-Lấy chồng rồi không được dậy muộn như ở nhà mình đâu con .Phải tập dậy sớm con à.Nhà người ta là nhà gia giáo , nền nếp.
Tôi kéo chăn che ,kín mặt , tôi không muốn nghe mẹ nhắc đến gia đình chồng vào lúc này, những giờ phút cuối cùng còn có thể tận hưởng tự do.Mà tại sao mẹ lại sợ sệt nhà người ta như vậy?Tôi đâu phải là cô gái kém cỏi gì,tôi là niềm mơ ước của vô khối đàn ông trên thế gian này .
-Vẫn chỉ là đứa bé gái nhõng nhẽo,hay khóc nhè và ngang bướng.
Tiếng mẹ nhỏ dần trong bước chân lo lắng .Bước chân mẹ lúc này như thanh âm khó nhọc mẹ rặn sinh con năm xưa. Mẹ nói tôi hay khóc nhè?Không, không còn là khóc nhè nữa. Tôi đã khóc giọt nước mắt của nỗi bất hạnh đầu đời trong vòng tay mẹ ở bệnh viện phụ sản, nơi người ta gắp đi sự sống của anh , máu huyết của tôi .Sau này , tôi còn khóc không biết bao nhiêu lần .Âm thầm cả những ngày gió và những ngày không gió, với những nỗi buồn triền miên.Nỗi buồn đàn bà. Khóc không cho mẹ biết , một mình trong bóng đêm, sau từng người đàn ông bội bạc hay bị tôi bội bạc.Không ai nghĩ một cô gái ủy mị như tôi có đủ can đảm bội bạc đàn ông .Nhưng tôi đã từng làm điều ấy. Nếu mẹ biết , chắc hẳn mẹ không còn xem tôi là con nít.Ngày ấy , ai cũng nghĩ tôi bị ông đuổi khỏi ngôi biệt thự bên bờ biển. Mẹ mở rộng cửa đón tôi và chiếc vali lầm lạc sau 4 tháng trời.Nước mắt tôi ướt đầm bậc cửa , nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời .Tôi là đứa trẻ háu sống.Tôi đã được sinh ra ngay trên bậc thềm một ngày tháng hai giá lạnh. Để rồi , sau này , tôi làm mẹ đau đớn trong tim với nhiều cơn choáng ngất. Như buổi trưa ấy , mẹ đã ôm choàng lấy tôi và nức nở .
-Nó đuổi con ra khỏi nhà ư ? Con gái , đừng khóc , đừng khóc nữa. Mẹ đây , con trở về nhà là mẹ mừng rồi.
Cuống quýt như con gái mẹ không hề lầm lạc.Cuống quýt như con gái mẹ đi xa trở về. Mẹ không biết tôi tự rời bỏ ông ,người mà có lúc tôi xem còn quý giá hơn cả gia đình ,hơn cả bậc thềm nơi tôi sinh ra. Nếu mẹ biết tôi đã xếp vali và ra khỏi biệt thự của ông nhanh đến mức nào, chắc mẹ sẽ không gọi tôi là cô bé yếu đuối . Trước khi rời cửa , tôi còn kịp đổ hất hộp mầu đen lên tấm ra giường , thứ mầu ông không ưa, như một lời từ biệt. Bước chân tôi là bước chân của buổi trưa hè nắng lửa. Để rồi một thời gian sau , bằng bước chân của một ngày chớm đông rụt rè, hối lỗi ,tôi đã trở lại ngôi biệt thự ấy và được ông đón tiếp ân cần nhưng lịch sự với những điều kiện như một vụ buôn nha phiến. Ông là người Tàu ,ông có dáng dấp và đôi mắt , ánh nhìn của một người đàn ông Tàu ở bất cứ nơi đâu trên thế giới . Bí ẩn , khôn ngoan và đầy ma lực với các cô gái . Ơng lại là thương nhân giàu có . Cốt cách của ông toả ra quyền uy làm người khác phải phục tùng .Một thiếu nữ lãng mạn , ưa khám phá, phiêu lưu như tôi dễ dàng bị ông đánh gục . Tôi ngã ngựa trong chính tâm hồn mình trước ánh mắt , nư cười của ông . Tôi đầu hàng thể xác mình sau mỗi cuộc ân ái cùng ông.
-Em thích cách tôi vừa yêu em chứ ? Tôi thấy em co giật từng cơn và xiết tôi mạnh.
Khuôn miệng ông cười, đuôi mắt ông cười nhưng tròng mắt không cười . Tròng mắt ẩn sâu một mí nhìn sâu vào tôi dò xét mỗi phản ứng . Tôi yêu ông , tôi đam mê ông nhưng tôi sợ ông. Nỗi sợ càng kích thích tôi khi ông bao trùm tôi từ bên trên như một lãnh chúa . Thân hình ông rắn chắc tựa một của sâm . Gần ông , da dẻ tôi trở nên hây đỏ , láng mát . Tựa như tôi được uống nước sâm chắt lọc từ da thịt ông . Thân thể ấy toát ra mùi thơm hắc , mùi đền đài , lăng tẩm , uy quyền . Tôi cố ngước lên cao , cao mãi để hít ngửi mùi đế vương ấy . Nhưng càng rướn , ông càng vươn lên . Vì thế , mọi cuộc làm tình của tôi và ông là những cuộc rượt đuổi không bao giờ chán . Ông không bao giờ cho tôi ngồi trên mặc cho tôi van nài điều ấy . Tôi cho em sung sướng , tôi cho em tất cả , tôi là Hoàng thượng của em, em hãy tận hưởng đi .Giọng nói của ông đúng là giọng của một vị Hoàng đế . Tôi đê mê tận hưởng những khoái cảm ông mang lại , để rồi lần sau lại van xin được yêu ông từ bên trên .Và bao giờ cũng là cái lắc đầu . Nhưng tôi thỏa mãn , tôi phục tùng mọi điều ông muốn . Hình như người ông được năn từ thép , ông không biết mệt bao giờ . Nắng chiều miền biển soi qua cửa sổ mở toang lặn hơi nóng vào da thịt cũng không làm ông ngưng nghỉ yêu đương . Ông chỉ cười , chỉ ra lệnh và nhồi vào , thúc sâu , bền bỉ , mạnh mẽ đến khi tôi hét lên cùng sóng biển hoàng hôn , ông mới tạm ngừng .
– Ông thích em ở điểm gì ? Sao ông lại chọn em để yêu giữa bao nhiêu cô gái đẹp ?
Câu hỏi của tôi thường được trả lời bằng hàng giờ ông hít ngửi , sờ nắn da thịt tôi như thể định giá một chiếc bình cổ thời Minh . Mỗi bận ánh mắt ông soi vao vùng kín , da thịt tôi lại hồng tía lên như chiếc mào gà, để rồi bị ông dìm chết, bở ra như một củ khoai lang. có một lần duy nhất ông trả lời câu hỏi của tôi .
Vì em thông minh nhưng cả tin. Vì em yếu đuối nhưng cố tỏ ra mạnh mẽ . Nếu rời xa tôi em sẽ chết. Em đang mắc căn bệnh trầm kha, chỉ có tôi mới giúp em hối sinh được. Em sinh ra để dựa dẩm vào tôi.
Đuôi mắt một mí của ông cười ma quái . Nắng biển Đông chết ngoài khơi xa trước ánh mắt ông . Tấm thân tôi cong lên hình chữ S , một hình chữ S cố phản kháng :
– Nhưng em không phải nô lệ của ông .
– Trong tâm tưởng , em luôn nghĩ em là nô lệ . Em nghĩ thế từ khi em chữa sinh ra , từ cả ngàn năm nay . Em không có tự tin .
Người tôi oằn xuống thẳng đơ, phục tùng giọng nói , phục tùng ý nghĩ của ông . Không còn chữ S nữa mà là chữ I , hai đầu xẹp nhép . Tôi yên lặng để ông giam lỏng trong ngôi biệt thự . Tôi chỉ được phép ra ngoài khi có ông cùng đi . Đêm trước hôm tôi xếp va li và trốn khỏi ngôi biệt thự , ông làm tình với tôi ngoài biển đêm , khi dưới chân thủy triều đang rút , trơ lại những doi cát ẩm vàng tựa chiếu chỉ vua ban trải dài từ kinh đô tới tận cùng đất nước . Run rẩy giữa mênh mông gió và mênh mang cô đơn trời nước , ông để tôi ngảnh mặt ra đại dương và nhập vào tôi từ phía sau chiếm hữu . Tôi thỏa mãn , tôi lạ lùng , tôi mê man , và tôi mang cảm giác nhục nhã . Cảm giác ấy đã giúp tôi sáng hôm sau đi khỏi ngôi nhà .Nhưng rồi chính nó cũng chết trong cơn khát nước sâm của tôi những ngày sau và đẩy bước chân tôi quy trở lại biển .
-Em đã phản bội tôi trong khi tôi giúp em hôì sinh . Em chạy theo những ảo ảnh bên kia đường chân trời . Tôi không đuổi em về với ảo tưởng của em , nhưng tôi cũng không thể cho em tất cả những gì em muốn như trước đây được nữa . Tôi chỉ cho em ăn khi nào tôi thích .Và em phải quỳ gối khi tôi đút cho em ăn . Tôi không cấm được suy nghĩ của em chạy rông về bên kia đường chân trời . Ngày chân trời của em vụn vỡ , tôi cũng vẫn bắt em quỳ gối .
Ông xoa xoa lòng bàn tay tôi và day mạnh huyệt đạo trên mu bàn tay khi buôgn những lời ráo hoảnh ngày tôi trở lại . Những ngày mong chờ mòn mỏi trong ngôi biệt thự không có ông dường như câm nín , phế hoang .Ông nói ông đi Mông Cổi ,ông đi Nhật Bản lo việc kinh doanh . Đúng khi tôi thoi thóp còn lại một chút hơi tàn trong cơn khát , ông mới từ tốn trở về và dìu tôi ra biển . Dưới chân thủy triều đang rút , ông cho tôi ăn . Tự nguyện , tôi quỳ xuống trong tư thế của một nô lệ . Có bận , trong đầu tôi thoáng hiện ra tương lai . Tôi làm vợ ông ? Tôi no ấm , đủ đầy , con đàn cháu đống ? Tất nhiên . Và suốt đời quỳ gối , trang sử riêng tư cuộc đời tôi sẽ ghi danh hai tiếng nô lệ ? Đương nhiên . Thân hình tôi quẫy như một con cá kình rồi náu lặng như con rùa lật ngược. Dù đau đớn , tôi cũng cố tìm cách trở mình .
Tôi trở mình thật . Nhưng nhẹ nhàng trong cơn ngái ngủ . Tiếng chuông điện thoại đổ dồn cộng lẫn tiếng bính boong đồng hồ treo tường len qua lớp kính dầy vào phòng , kéo giật tôi về phía tương lai . Lao xao tiếng nói bên ngoài . Rồi tiếng guốc của mẹ vội vàng như hành khúc .
– Chồng con mới gọi điện thoại hỏi con đã dậy để sửa soạn điểm trang chưa.Nó nhắn con rằng : Ngày đã điểm , thời cơ đã đến .
Tôi chẳng buồn cười lời mẹ vừa nói . Người đàn ông còn mấy tiếng nữa là chồng tôi hay nói những điều kì lạ .Tôi nghĩ đến lời của người tình Tàu dạo nọ : “Em ảo tưởng về bên kia đường chân trời” . Chồng tôi có phải là đường chân trời? Tiếng guốc đi lại sột soạt và bà chị tôi ào vào như một cơn gió sớm hanh khô làm tôi không còn thời gian miên man dòng suy tưởng . Mới sáng sớm ,chị tôi đã lộng lẫy như bà hoàng . Chiếc áo choàng lông thú chị mặc ,lần đầu tiên tôi thấy .
– Chị tốt phước có cô em gái xinh đẹp , thông minh nên được nhờ . Chồng em tặng chị cái áo hàng hiệu này đấy .Chứ lương giáo viên tháng chưa đủ mua một chiếc giầy như chị làm sao dám mơ .
Tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên cũng chẳng lấy làm vui mừng .Chồng tôi có vốn tư bản và biết cách chiều gia đình vợ . Có thế , hôm nay mới là ngày đại hỷ .
Màu son môi của chị tôi sáng nay đỏ quá . Có cần phải vui mừng đến thế không ? Tôi uể oải xếp dọn chăn gối. Sương mù , sáng nay dăng đầy sương mù . Báo hiệu một ngày nắng giá và không gió .Làn gió hồi đêm có lẽ vừa lặn theo bóng tối . Hôm nay tôi nên mặc áo dài tím vẽ long phượng hay áo dài màu nâu hả chị Ngọc ? Tiếng mẹ lăn nhỏ qua tai tôi . Đám cưới con gái sao cô lại mặc màu nâu ? Cô thật chẳng khéo chút nào .Giọng bác tôi dằn dỗi .Mẹ lệt sệt đôi guốc vào buồng . Mùi nhang thơm tràn ngôi nhà . Chắc bố tôi thắp lên từ sáng sớm .Khói nhang hoà cùng sương mù ngoài song cửa , tôi thấy thế giới sáng nay như lò tôi vôi . Cháy xèo tất tật .
Khi tôi loay hoay trong phòng tắm với bộn bề trống rỗng, chị tôi bắt đầu giúp tôi xếp đồ vào mấy chiếc va li mở sẵn .Những chiếc va li đủ mầu , mẹ nói chồng tôi mua tận bên Âu Châu mang về. Chúng đắt . Tất nhiên . Chúng đẹp . Có thể . Chúng sẽ đựng vẻ bề ngoài của tôi mang về nhà chồng . Còn bên trong , tâm hồn tôi , va li nào , túi nào sẽ đựng được để nó đừng rơi vỡ? Trái tim ư ? Hình như đã không còn nguyên vẹn để chứa được một tâm hồn đầy giông bão ứ tràn . Việt từng nói tôi là bể sâu nhất , dòng xoáy nhất trong đại dương . Và chàng trôi nổi bềnh bồng trên hiểm nguy từng giờ , ngày còn bên tôi . Bây giờ , khi người thợ trang điểm bắt đầu thoa lớp kem lót làm mềm da lên khuôn mặt có đôi mắt u uẩn của tôi mà chàng đã từng thương nhất, không biết chàng có còn nhớ hàng lông mi ngun ngút ưu tư khi từ ly ? Chàng là người đàn ông lãng mạn nhất của tôi , ngu ngơ nhất của tôi và cũng thành thật nhất của tôi . Người chàng lúc nào cũng thơm như một quả táo tây .Da chàng trơn mịn ,láng mượt . Nhiều khi lấy tay sờ lên má chàng , tôi sợ sữa sẽ tuôn dầm . Chàng bảo tôi cường điệu , hoang tưởng . Má người thì làm sao chảy sữa như vú người đàn bà đang làm mẹ ? Bên chỗ chàng , da ai cũng trắng và thơm như thế cả . Tôi vặc lại chàng :
– Có người làm mẹ nhưng không có sữa .
– Có thể người ta bị bệnh .
– Không bệnh tật gì cả , mà là không có cái ăn .
– Thế kỷ 21 , chẳng ai lại không có cái ăn . Hoạ chăng chỉ có ở Phi Châu .
– Đúng là ngu ngơ như gà con lạc mẹ. Xứ này còn nghèo hơn cả Châu Phi .
Đôi môi tôi cong lên nguýt vòng theo đuôi mắt.Chàng mân mê cườm tay tôi
– Thì anh đúng là con gà lạc mẹ mà .Không chỉ lạc , mất rôì.
Cườm tay tôi rã xuống trước đôi mắt ngấn lệ của chàng . Tôi thương chàng nhất trong những người đàn ông tôi đã từng yêu thương . Tôi hiểu chàng không còn bị lạc nữa mà mất , không thể còn tìm thấy .Làm sao tìm được xác ba và chị đã rơi giữa biển khơi làm mồi cho cá ? Làm sao tìm được dáng mẹ còng lưng ngồi đợi con bên khung cửa với đôi mắt mờ vì nước mắt chia li và chờ đợi ? Biển Thái Bình Dương trong xanh , diễm lệ nhưng cũng đầy gian ác . Ngày ra đi , chàng chìm nổi lênh đênh trên những con sóng với triền miên nôn mửa và sợ hãi .Ngày trở về , chàng bay qua mênh mang nước và trùng điệp núi .Nhưng quê hương của chàng chỉ còn lại một nắm đất ở nghĩa trang Gò Dầu , nắm xương mẹ cong hình chờ đợi . Tôi làm sao lại không thương yêu chàng cho được . Chàng thường rúc vào bầu ngực tôi ngủ ngon như trẻ thơ . Giữa hai bầu vú căng hồng của người đàn bà chàng yêu , không còn mất mát , không còn đau khổ . Chàng mang dáng hình chữ S cuộn khoanh trong lòng tôi . Nhưng lắm khi , chàng khiến tôi bực mình .Chàng đã mất tất cả, mất luôn cả gốc . Tôi phải cầm tay dẫn chàng khi sang đường , tôi phải giải thích cho chàng bao nhiêu là từ chàng không hiểu . Chàng không lấy làm xấu hổ về chuyện ấy .
– Anh đi xa bao nhiêu năm nay rồi , làm sao anh biết được .
Chàng luôn chống chế vụng về .
-Xa bao nhiêu năm cũng không thể quên nếu người ta luôn tâm niệm phải nhớ . Đã quên hết rồi , anh còn trở lại đây làm gì để thấy mình lạc lõng ?
Hai bầu má phính sữa của chàng dường như xanh tái . Chàng cười , điệu cười chắt ra từ 25 năm làm người nơi xứ lạ .
-Về để tìm lại tuổi thơ , để làm lại những cái đã mất . Anh tin anh làm được vì xứ này vẫn còn nhiều người như em .
Tôi thở dài nhìn chàng . Chàng quả thật ngây thơ . Chẳng thể nào chàng tìm lại được những thứ đã mất bằng sự cả tin và ngây thơ như vậy . Bao nhiêu cạm bẫy ,bao nhiêu chông mìn , bao nhiêu kẽm gai dựng nên những thù hằn ngăn cách còn nằm sâu , nắm giữ mãnh đất mẹ của chàng .Có cực nhọc làm ra bao nhiêu tiền để mang về , bức tường đó vẫn không phá bỏ được , lòng lại dầy thêm thương tích .Tôi không muốn chàng mất mát thêm , không muốn chàng đau khổ thêm nhưng rồi cuối cùng vẫn làm chàng thất vọng ra đi . Ra đi và thề không bao giờ quay trở lại . Xem như quê hương đã vĩnh viễn tuột mấ t.Tôi không thể bỏ tất cả để theo chàng . Gia đình , bạn bè , những hàng cây khẳng khiu chờ mùa về thay lá . Bố tôi gầm lên:
– Quân bán nước . Tao còn sống thì mày đừng hòng .
Tôi hiểu . Tôi phải ở lại để làm mùa xuân . Dù cho lâu lắm mùa xuân mới về trên mảnh đất này . Lâu lắm hoa đào lại mới nở . Em trai tôi buồn phiền.
-Chị đi rồi sau này mang em đi luôn có phải hay không . Đất này báu bở gì mà phải nuối tiếc .
Tôi đứt ruột ngày chàng ra đi . Khi chia tay mối tình đầu trong bệnh viện phụ sản , tôi đau dao cắt , kéo đâm nhưng vết thương mau lành . Lúc quyết định không quỳ gối để người đàn ông Tàu cho uống nước sâm nữa ,tôi khát cháy da thịt rồi cố lết đi tìm vũng nước . Ngày chia tay chàng ,tôi bị chặt một phần thân thể .Đau thốn từng mạch máu . Đôi mắt tôi xám như màu núi buổi chiều tà không dám ngước nhìn làn da chàng nhợt tái . Chàng muốn lần cuối cùng được ôm tôi trong vòng tay trên cao , có núi , có rừng , không phải là biển , nơi ngày xưa chàng chia tay số mệnh và mất mát cả một quê hương .
– Mẹ Âu Cơ chia tay với Lạc Long Quân cũng là trên rừng phải không em ? Chúng mình giống họ, nhưng chẳng có một trăm đứa con .
Tôi chết lặng trong căn nhà sàn . Tôi đu lên chàng . Tôi muốn nói tôi sẵn sàng sinh cho chàng một vạn đứa con , nặn lại cho chàng quê hương , chuộc lại cho chàng tuổi thơ sung sướng nếu tôi là Thượng đế , nếu có Thượng đế . Chàng yêu tôi dịu dàng và vô cùng xúc động . Hai bầu ngực tôi nở ra như muốn ôm trọn khuôn mặt thơ ngây của chàng hòng che chở . Gió hoàng hôn xuyên qua cánh rừng cằn khô u u tắc nghẹn trên mõm núi cũng không run rẩy bằng tiếng thở của chàng . Và lúc chàng rút khỏi mình tôi , cơn gió bỗng chợt tràn qua mỏm múi hất tấp căn nhà sàn , cứa rời thân thể tôi . Tôi biết đã vĩnh viễn mất đi một phần thân thể .
– Sau này em sẽ lấy ai ?
Gió vẫn không ngừng quay lộn . Như bộ óc tôi vật vã . Như trái tim tôi ứ huyết .
– Lấy anh .Chim phải bay về rừng , cá phải bơi về biển .
Tiếng tôi nói hay tiếng của ước mong ? Chàng ,xoay tôi lại , bắt tôi nhìn thẳng vào đôi mắt chàng đang nhoè nước .
– Em biến hoá như ảo thuật . Soi mình trong gương em sẽ không thấy được mình . Nhưng soi trong mắt anh em sẽ gặp chính em .
– Anh bảo em là ma cà rồng ?
– Ma cà rồng hút máu kẻ dại khờ vì yêu như anh .
Mãi mãi , chàng trôi trên con sóng bạc đầu mất hút bên kia Thái Bình Dương . Chàng mang luôn một phần thân thể tôi trong hành trang và đánh rơi vạ vật đâu đó trên xa lộ mỗi ngày chàng đến sở . Nếu lấy chàng ngày ấy , tôi sẽ ra sao bấy giờ ? Bươn bả , vật lộn kiếm từgn đồng tiền và đêm đêm ngồi nhìn qua biển nhớ về những gốc sấu già , mong chờ mùa xuân ? Biết đâu như thế mùa xuân lại đến nhanh hơn ,thân thể tôi nối liền được phần rời đứt ? Hơn là ân hận , nuối tiếc , ám ảnh triền miên mà mùa xuân vẫn đâu đâu . Mà chỉ còn mấy bữa nữa là lập xuân , hoa đào đã nở hồng trên Nhật Tân , sao tôi cứ mong chờ một mùa xuân hão huyền nào đó trong tâm trí . Hôm ngay cũng là mùa xuân , người ta nói ngày vui nhất của một đời người , sao tôi cứ ngồi suy nghĩ miên man về những mối tình đã chết , không bao giờ còn có thể quay lại ? Chiếc đồng hồ lại bính boong làm công việc đếm thời gian . Thời gian có đồng hồ đo được nhưng nổi buồn vui , hạnh phúc con người lấy gì để đo ? Chị tôi lộng lẫy áo choàng lông thú mua bằng vốn tư bản của chồng tôi , mẹ tôi trầm lặng trong bộ áo dài , bác tôi nhai trầu đỏ tươi đôi môi , em tôi lắc lư theo điệu nhạc bằng lòng vì cuối cùng chị nó cũng kết hôn với một ngoại kiều . Ai đo nổi sự giằng xé nát tan trái tim tôi ? Bố tôi đã thắp nến lên bàn thờ .Ông bà nội trên tấm hình nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc . Bố mẹ muốn tôi lấy người đàn ông có vốn tư bản để đảm bảo cuộc sống , nếu ông bà còn sống chắc sẽ muốn tôi lấy quan tuần phủ hay chánh tổng , lý trưởng để vuốt ve quyền lực ? Người ta bắt đầu choàng chiếc váy cưới lên người tôi . Màu trắng tinh giả dối . Tôi muốn chiếc áo màu ngà nhưng chồng tôi và gia đình không ưng thuận . Nếu vì màu sắc mà làm cho cuộc hôn nhân hạnh phúc chứ không phải tình yêu , thế giới này làm gì còn đau khổ .
Khi người ta bắt đầu vấn tóc cho tôi , tiếng cười nói đã râm ran khắp trong nhà ngoài sân . Chữ Hỷ ai cắt mà đẹp thế ? Cưới hôm nay lại vừa đẹp trời lại vừa đẹp ngày , ông bà thật tốt phước! Nhà trai sắp đến rồi , chuẩn bị nước đi là vừa . Mấy đứa đã chuẩn bị áo dài đồng màu để nhận sính lễ chưa ? Tôi lẫn lộn giọng người này với ngưòi kia . Qua khung cửa , sương mù dần tan hết , chỉ còn lại vài gợn loay hoay trong vườn . Nắng đông lên sớm hơn thường . Mẹ đi vào lẩm nhẩm ngắm nhìn tôi . Tôi trông mẹ không vui . Có phải vì mẹ sắp mất con gái ? Nhưng tôi đâu có rời xa mảnh đất này dù lấy ngoại kiều . Chồng tôi đã hứa sẽ định cư ở đây vĩnh viễn . Cớ gì mẹ phải buồn .
– Cô dâu xong chưa ? Nhà trai vừa gọi điện thoại , đã khởi hành rồi đấy . Họ nhắn cô dâu : Cửa sắp mở ,hãy xông vào giành chiến thắng .
Suýt nữa thì người làm tóc xiên chiếc trâm cài phải tay tôi . Chồng tôi , anh ấy lại vừa nhắn lời khó hiểu . Quen rồi nên cũng chẳng cần bận tâm . Bác tôi xuýt xoa :
-Cháu vấn kiểu đầu này hợp lắm , đã xinh rôì lại càng xinh hơn .
-Em cháu đẹp chứ không xinh.
Chị tôi đính chính . Tôi mở mắt liếc vào gương . Trời ơi , ngươì ta làm gì mái đầu tôi thế ? Như vậy là hợp ư ? Gương mặt nhiều góc cạnh của tôi không thể đẹp nếu vấn tóc kiểu cổ điển . Phải làm những lọn sóng xoăn xõa dài tự nhiên và kết hoa vàng thành vòng như một chiếc vương miện .Chàng cũng từng nói thế ngày chưa rời xa mang đi một phần thân thể tôi , ngày còn ao ước đám cưới và đàn con . “Em không giống phụ nữ Việt Nam truyền thống , em mang nhiều nét đẹp cởi mở , phóng khoáng . Sau này , khi đám cưới , anh sẽ tự tay kết cho em một vòng hoa màu vàng để đội lên mái tóc bồng bềnh của em , em sẽ giống một bà hoàng “. Bây giờ , người ta vấn ngược những làn tóc tôi lên , gương mặt chàng yêu thích chìm tôí trong vẻ cổ điển .Có phải bao giờ dáng vẻ cổ điển cũng là truyền thống , cũng là dân tộ c ? Mà không được kết hôn với người tôi yêu ,cổ điển hay hiện đại , vấn tóc hay thả buông cũng vậy mà thôi . Tôi nhắm mắt . Người ta xỏ giầy vào chân tôi . Tôi bật dậy . Vấn tóc cổ điển, váy cưới màu trắng tinh , người chồng ngoại kiều có vốn , nhưng còn đôi chân , hãy cho tôi được xỏ trong thứ mà tôi mong muốn . Đôi săng đan màu trắng vẫn lung linh nhìn tôi cười dưới chân giường . Giấc mơ của tôi , hy vọng cứu rỗi . Tôi ôm đôi săng đan vào lòng như một vật báu và từ từ dịu dàng xỏ từng ngón hồng . Vừa vặn , mềm mại , xinh xắn . Tôi còn có giấc mơ , có hy vọng vào hạnh phúc .
– Nhà trai đến đầu ngõ rồi. Cô dâu không được ra khỏi buồng . Người nhận sính lễ đâu ?
Tai tôi ù . Mắt tôi hoa . Chân tôi khuỵu . Cuối cùng đã đến giờ phút trọng đại nhất của một đời người . Đã từng tự nhủ không lấy được người mình yêu , đám cưới chỉ là một nghĩ a vụ , nhưng sao bây giờ tôi cũng run rẩy, ngượng ngùng như bất kì một cô dâu nào trên đời . Tôi ngóng qua khe cửa tìm gió , tôi mong ngày có gió . Sương mù đã bay hết , nắng đã nhen , sao gió không về ? Đôi săng đan trắng chật hơn dưới chân tôi tụ máu .Tựa như nó không mang nổi bao nhiêu xúc cảm , bao nhiêu hoang mang , bao nhiêu hồi tưởng trong tôi . Ngày tôi tham dự phiên toà xét xử anh , tôi cũng không hoang mang như giờ phút này . Trớ trêu , mười năm sau tôi lại gặp anh , người đàn ông đầu đời , người đàn ông có chú chó xám , người đàn ông bỏ tôi nhoài nhã với kẹp panh cùng bác sĩ đang gắp đi đứa con đầu tiên để ngồi thưỏng trà với cô gái khác . Anh mập, dáng vẻ thành đạt hơn . Cố ý , anh cho tôi thấy anh chạy chiếc Camry đời mơí bóng nhẫy .
– Em hay nói anh lười biếng. Lười biếng làm sao có xe mà đi ?
– Xã hội này chuyện gì cũng có thể xảy ra . Chức cao quyền trọng vẫn là kẻ cướp , lười biếng vẫn nhiều tiền , có gì lạ .
Miệng gân lên , trong lòng tôi vẫn thấy anh hấp dẫn như chục năm trước .Tôi nhớ chú chó màu xám và ngôi nhà ấm áp .
– Gặp lại em là niềm vui lớn nhất cua anh .
Anh không biết rằng chỉ vài chục phút sau câu nói ấy , tai họa đã ập xuống .Lần tái ngộ với người xưa đã trở thành nguyên nhân đưa anh vào chốn tội tù . Mải nhìn tôi , anh đã gây tai nạn chết người khi chúng tôi từ chỗ ăn tôí trở về . Không thể nào chối bỏ , tôi trở thành ngươì làm chứng trước toà .Hoang mang , dằn xé , suy sụp . Anh quỳ mọp sau chấn song :
– Em hãy khai man đi , để cứu anh ra , anh chỉ muốn ra khỏi đây .
– Hèn !
– Trước toà , tôi mang khuôn mặt lạnh giá nhưng trong lòng vụn vỡ . Người đàn ông mê tranh Đông Hồ , người đàn ông mang hương vị phù sa sông Hồng , người đàn ông thưởng trà mỗi sáng đã chết . Thực sự chết . Tôi tự hỏi nếu khi ấy đã là vợ anh , tôi có bao che cho anh không ? Tôi không trả lờiđuợc . Trái tim cứng lưỡi trong hỗn mang thất vọng .Một làn gió bỗng thốc qua khung cửa mang theo hơi lạnh . Tôi rùng mình . Đồng hồ điểm mười một tiếng gọn lảnh . Giờ đã điểm . Giờ của tôi đã điểm thực sự . Ôm ngực , tôi trong không gian vần vũ trong vô thức . Rồi ai đó quàng qua cánh tay tôi , ai đó kéo tôi đi . Mùi hương , tiếng cười nói lào xào . Ai đó bảo tôi quỳ lạy . Màu đỏ tràn ngập . Những mâm sính lễ , chiếc áo gì tôi , màu son chị tôi quay cuồng .Ai đó cho tôi uống nước . Ai đó nhắc tôi cười tươi để chụp hình . Cười , phải cười , phải vui , phải hạnh phúc . Một cuộc sống mới . Sẽ có tất cả . Chồng tôi có vốn tư bản . Chồng tôi là người nước ngoài cấp tiến , có nhiều thế lực . Tôi không còn sợ người đời ăn hiếp . Xứ này nhiều tiền và thế lực , muốn thứ gì chẳng được . Tình cảm ư ? Cũng như nén nhang đang ngút khói trên bàn thờ kia , sẽ tàn trong canh giờ và thổi bụi vào không gian . Tôi đã yêu anh , đã yêu ông , đã yêu chàng ,đã yêu Tim nhiều như vậy , lần nào cũng như chết trên đoạn đường đến hạnh phúc , chết trong nỗi khao khát và nhung nhớ . Nhưng còn lại gì cho tôi ? Hay chỉ là kí ức ngày không có gió vơí giọt máu của chính mình lìa khỏi da thịt , là ngày gió độc trên cánh rừng hoàng hôn và một phần thân thể đứt lìa mãi mãi , là cảm giác thoả mãn rồi nhục nhã lúc quỳ xuống biển đêm ? Vị phù sa sông Hồng , nước sâm quý , mùi sữa tươi còn vương ký ức không mang hình hài , không thể chụp bắt . Tình yêu , tình yêu là ảo ảnh ,là điều không thực . Đêm đêm ,tôi thường giật mình tỉnh giấc , hất tung chăn khỏi ngưòi , hai tay ôm đầu ,cuộn khoanh như một hài nhi trong bụng mẹ rồi lại xoay mình cố dỗ im giấc ngủ . Khi ấy , tình yêu không hiện diện , hay chính vì hệ lụy của tình yêu mà tôi hoá thành hư ảo , hoá thành chiêm bao của chính mình . Ngươì nào đó ấn vào tay tôi ly nước .
– Cô dâu uống hết ly nước sẽ thấy khá hơn . Từ trước đến nay , chưa thấy cô dâu nào xúc động đến thế này .
Xúc động . Vui nên xúc động . Yêu nên xúc động . Phải thôi , vì chồng tôi là niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái xứ này . Cái xứ con gái nhà quê thì thi đua lấy chồng Đài Loan , Hàn Quốc , con gái thị thành xênh xang sánh đôi với Việt kiều , ngoại kiều . Lấy được chồng như tôi làm sao không khỏi xúc động tột cùng . Tôi loạng choạng giữa đám đông . Không còn ngôi nhà , vỉa hè tôi cất tiếng khóc chào đời . Thức ăn , bàn ghế , rượu , nhạc, váy , tóc , màu sắc thi nhau lướt bừa vào đôi mắt viễn thị đột xuất của tôi . Không phải Hilton , nơi tôi muốn diễn ra lễ cưới . Chính tôi cũng chẳng hiểu tại sao mình lại thích Hilton . Có thể tôi muốn bạn bè biết tôi kết hôn với người Châu Au .Có thể vì tôi nhớ Tim . Tôi gặp Tim lần đầu tại Hilton. Bất ngờ . Tim hấp dẫn tôi từ cái nhìn thứ nhất . Tôi bỏ định kiến đàn ông Mỹ không có chiều sâu .Đôi mắt buồn nao lòng của Tim chứa đầy đam mê . Sau này , Tim nói cũng bị tôi đốn ngã ngay khi chạm mắt . Suốt thời gian ở bên nhau , tôi nghe Tim nói hai câu bằng Tiếng Việt “Mắt em bổ cau” . “Đôi chân em dài thẳng như đôi cau đang thì ra trái”. Tôi trợn tròn mắt .Bị tôi tra tấn một hồi , Tim chịu khai xuất xứ của hai câu nói hay không kém gì thơ Hồ Xuân Hương . Tim mất 20 đô la cho một ông đồ già ngồi vẽ tranh trên phố để ông viết ra giấy và dạy cách phát âm . Và mất hai ngày đọc thuộc . “Ông già Việt Nam ngồi vẽ chữ chắc là sẽ dạy cho điều tốt”. Tim cười ngô nghê . Lấy 20 đô la chỉ để dạy cho một người nước ngoài hai câu nói nhại thơ người khác . Ông già Việt Nam thời mở cửa ! Tôi chạnh lòng xấu hổ .
-Thế cây cau là cây gì?
Tôi hỏi xóc .Tim vụng về ôm tôi hôn .
-Tim đừng nên nói với em những điều mà Tim không hiểu .
Môi tôi xót dưới làn môi Tim . Sau này , Tim đưa tôi lên chùa Trấn Quốc và tự hào chỉ cho tôi cây cau .Tôi cười khen Tim .
– Thế trái cau để làm gì ?
Lần này thì Tim dỗi .
– Làm sao anh hiểu rõ truyền thống của người Việt Nam , cũng như em không thể hiểu hết văn hoáMỹ đã nuôi anh trưởng thành.
Ngực tôi như bị một con kiến châm nọc . Nhức tỉ tê và ngứa lan dần . Tim nói đúng . Cả hai nền văn hoá cách biệt . Tim không hiểu quả cau dùng để làm gì , và còn trăm thứ Tim không hiểu . Nhưng tôi trọng Tim bởi lòng thật thà . Anh , người tình đầu tiên , người mang hương vị phù sa sông Hồng có thể thao thao với tôi về trầu cau , song tôi biết không có dáng thẳng đứng của cây cau trong suy nghĩ khi miệng anh nói . Trơn trợt , rồi lời nói của anh cũng theo gió ra đi vào ngày có gió, và chết ngạt trong ngày không có gió . Với Tim , khi nói , Tim nhìn cặp chân tôi và cố hình dung về cây cau . Tôi trọng Tim còn bởi tôi được Tim trọng .Bất cứ điề gì Tim hứa Tim đều làm .Ngay cả chuyện ân ái .Có bận , tôi thấy bờ bến ở đâu Tim đã bị sóng đẩy lật thuyền. Ân hận, vỗ về ,xin lỗi ,Tim làm như tội tày trời . Tim không biết , tôi bị bỏ bơ vơ giữa biển là chuyện thường tình . Mà đàn bà xứ này đều thế , riêng gì tôi .Những ngày ở bên Tim , tôi trở thành hoàng hậu .Tôi khám phá bản năng vẫn còn ở tận sâu đáy thẳm thân xác . Tim đưa tôi đến tận cùng hang sâu , chỉ cho tôi nền văn minh hồng hoang mà bấy lâu tự tôi che giấu , mà những người đàn ông kia đã không dẫn tôi tới .Họ không đủ sức , không tìm thấy đường hay vì họ nghĩ bởi tôi là đàn bà ? Đàn bà phải là kẻ nằm dưới , phảilà đất gieo mạ . Rồi mạ non thành lúa , thành thóc , họ đốt nương tàn rẫy, đến mảnh đất khác khai hoang . Tôi nghe người ta gọi đấy là truyền thống , là văn hoá phương Đông . Và tôi là người Việt Nam , người phương Đông . Đôi khi tôi tự tra vấn mình : phải chăng đàn bà da vàng , tóc đen không biết đam mê ? Rồi Tim trả lời cho tôi bằng hơi thở kích động và ánh mắt thỏa mãn , biết ơn .
– Em tuyệt vời quá . Anh chưa từng biết người đàn bà nào nồng nàn như em . Sự nồng nàn nhạy cảm , không chỉ hoàn toàn là dục vọng xác thịt . Em sẽ là vợ anh nhé , cô gái bé nhỏ ?
Bên Tim , tôi thấy mình là hoàng hậu , cớ gì tôi không nhận lời cầu hôn . Khác biệt văn hoá , hố thẳm rất lớn . Nhưng tôi tin bằng tình yêu thương , hố thẳm sẽ được lấp đầy . Tôi không nghĩ đến gia đình , lễ giáo khi xúc động nhận lời cầu hôn của một người Mỹ da trắng . Để rồi mấy ngày sau , bẽ bàng nhận ra rốt cuộc mình chỉ là người đàn bà phương Đông từ trong máu huyết .
-Không bao giờ được lấy một thằng Mỹ . Tôi không chấp nhận thứ văn hoá B-52.
-Nhưng anh ấy sẽ ở lại đây sống cùng chúng ta , sẽ uống nứoc rau má và ăn bánh chưng bố ạ .
Mắt bố như mắt của một quân nhân trên vĩ tuyến 17 .
– Để sinh cho tôi những đứa cháu tóc vàng , để gia đình này trở thành một thứ lai căng hổ lốn hả ?
Tôi quá nhỏ nhoi và yếu đuối .Dù yêu Tim rất nhiều , dù thích uống Coca Cola hơn nước rau má , tôi cũng đành rời xa Tim . Nhưng trong những giấc mơ , hình ảnh một đứa bé tóc vàng mượt có đôi mắt đen tròn vẫn ám ảnh tôi . Tôi không thấy lai căng hổ lốn như bố nói , tôi thấy nó là đứa bé đẹp nhất trên đời . Rồi vài tháng sau , bố tác thành cho tôi với một ngoại kiều phương Tây phương .Cũng mắt xanh , mũi lõ.Tôi không thể nào lý giải .Tôi chỉ còn là một người tàn phế .Mỗi người đàn ông tôi yêu , lìa xa tôi , đã mang đi một phần thân thể của tôi. Gặp Tim lần cuối, soi mình lần cuối vào đôi mắt xanh đang lặng xám vì đau đớn của người đàn ông da trắng, tôi thấy vực thẳm đang tụt dưới chân mình. Vực thẳm đào xới tận cùng hun hút một thân xác mỏi mệt. Tim có thể lấp đầy nhưng Tim không có tóc đen, da vàng rải lên che giấu.Tôi để gió và cát ngày ngày rắc bột ớt lên hố thẳm của mình mà không biết rằng gió cát rồi cũng có ngày cạn kịêt .
Không còn thấy gió. Không có một chút gió nào. Dường như lạnh , dường như nóng. Ngày hay đêm, thiên đường hay địa ngục ? Tôi mở choàng đôi mắt. Thứ ánh sáng nhờ nhợ tôi thường trông thấy hắt ra từ những bóng đèn trong công viên mỗi hoàng hôn. Không tài nào phân định nổi thời gian. Thời gian, có phải hạn định ngày tôi thoi thóp trên chiếc bàn sắt lạnh để người ta gắp đi một mạng sống. Có phải buổi chiều giông gió trong căn nhà sàn, người yêu da vàng nhưng khác quốc tịch đã mang đi của tôi phần thân thể nhạy cảm nhất. Thời gian, buổi chiều, buổi sáng, hay buổi khuya đêm, là khi nào cũng không cứu được những mất mát của tôi. Bao nhiêu kĩ niệm như một cuốn phim bị nhão, lê thê đứt quãng trong đầu, tôi miên man trôi nổi trong thứ ánh sáng trắng đục. Từng người tình ướm vàng nổi hoài niệm. Nhón một ngón tay lên ngang ngực, tôi chợt nhận biết có vật lạ. Nó phát tia sáng gọn, sắc ,lạnh, xiên chéo không gian nhờ nhợ. Tôi đưa bàn tay dí sát đôi mắt. Kim cương, ánh sáng của kim cương. Chiếc nhẫn lặng thinh ôm ngón tay áp út. Ngón tay đeo nhẫn. Cuộn phim bất ngờ liền mạch, quay nhanh. Tôi nhìn xuống thân mình. Chiếc váy cưới rũ dài niềm hốt hoảng . Tiếng chuông chùa đâu đó điểm giờ. Tiếng chuông vọng hiu hắt vào trí não tôi ngơ ngác, rã rượi, hoang mang. Chuông nửa đêm, như trí não tôi nửa đêm. Váy cưới, nhẫn kim cương, xe hoa, da tiệc, nước mắt của mẹ, chiếc áo lông thú của chị xô tôi đến nơi này. Nhưng nơi này là đâu? Chú rể, người đàn ông Âu châu, ngoại kiều da trắng mà bố luôn khen đứng đắn, cấp tiến và uyên bác, sao chàng không ở cạnh bên tôi? Bố nói đồng ý gã tôi cho ngoại kiều này vì chàng đầu tư rất nhiều chất xám vào Việt Nam và sẽ định cư vĩnh viễn trên mảnh đất hình chữ S. Tôi manh nha ý nghĩ biết đâu ở đất nước xinh đẹp Âu châu quê hương, chàng phạm trọng tội nên phải trốn đến Việt Nam. Định nói ý nghĩ đó cho bố. Nhưng nhìn ánh mắt tin tưởng vào tương lai của bố, tôi cúi cụp vâng lời. Vả lại, tôi không còn sức, không còn đủ bộ phận của một cơ thể để chống cự. Mỗi người tình ra đi, một phần cơ thể tôi đã lìa đứt. Tôi như một kẻ tàn phế. Mắt đã không còn, nhìn ai cũng giống nhau, bố gả tôi cho ngoại kiều hay Việt kiều hay Hàn kiều cũng vậy mà thôi. Tai đã không còn thính, chồng tôi nói tiếng Anh hay tiếng Việt Mường, tôi chẳng bận lòng. Ngôn ngữ duy nhất còn lại trong tôi là âm thanh những sợi tóc líu ríu nhau trong màn đêm. Chúng thì thầm với nhau không biết ngày mai gió sẽ chuyển chiều nào, hòng xoay theo. Ngược hướng gió, sẽ gãy tan tành. Rồi mái đầu lại trơ trơ, trậc khấc. Chẳng hề gì. Không còn những người đàn ông tôi yêu, tôi chẳng cần tóc tơ, môi thắm. Chẳng để cho ai .
Dòng suy nghĩ miên man của tôi bị cắt đứt cùng lúc với sự choàng ập của bóng tối. Thứ ánh sáng mờ mờ, nhờ nhợ đèn công viên lay lắt một hồi đã lụi. Trống rỗng tựa một nhánh cây khô mùa đông, tôi mệt mỏi buông bỏ thân mình xuống nệm. Bóng tối, đám cưới, căn phòng lạ, sự vắng mặt của chú rể, đâu cần để ý. Hãy cố ru mình vào giấc yên lành, thế giới không tồn tại. Cánh tay tôi rơi dài bên tôi tựa như tiếng thở sâu từ ngàn năm trước . Tôi thở mơn man , dịu dàng trên đồi cao cùng người tình xa xứ đáng thương . Tôi thở lười biếng , hão huyền bên người đàn ông dậy nực phù sa sông Hồng .Tôi thở không thành tiếng trên triền cát vàng tựa chiếu chỉ vua ban , nghẹn ngào nuốt sâm quý hắc mùi đền đài Trung Hoa . Tôi thở dập kích động , rên hú thanh quản từng hơi trong căn phòng Tim . Nước sông Hồng mùa đông cạn ráo . Dầu cho Hồ Tây tràn nước ra đường , sương mù dăng trắng thành phố . Không khí ẩm ướt đọng thành vũng trong những ngôi nhà phố cổ . Không ai , không gì biết đến sự tồn tại của tôi . Đồng lõa cùng thân thể mát thơm , uốn dẽo và trái tim hỗn mang của tôi là mầu đêm tối .Tràn lướt trong mênh mông , tôi phiêu du thân thể , phiêu du đêm đặc , phiêu du tâm linh . Tôi thấy mình lặng lội vào rừng thẳm, nơi những cây chò cao vút phế hoan g cổ tích , nơi dây leo chằng chịt quắn đan . Tôi thấy mình bì bõm giữa đầm lầy , bùn dánh đặc quệt níu làn da hực hội cơn khát dưới bầu trời xám cứng như mầu trầm uất . Mây tích nghẹt trời mà chẳng làn gió quất ngang . Tôi cưỡi lên mây, tôi tắm trong sình lầy , tôi đu dây leo , tôi chuyền cành chò , tôi thả mình trong vô thức , tôi thả mình trong những phần đời đã mất , tôi buông mình trước phần đời đang trầy trật đêm nay . Trước biển lạnh , người tình Tàu dạo nọ chiếm hữu tôi từ phía sau khi tôi quỳ gối , chưa một lần cho tôi chủ động yêu đương . Nay tôi đã thoát khỏi kiếp nô lệ cùng ông , tôi trở thành người đàn bà trưởng thành . Chồng tôi sẽ bế tôi lên ngồi trên , để tôi mặc sức tung hoành , chà cây , đốn gốc .Không cần anh bế, tôi trườn lên như một con rắn chúa . Bản năng chiếm hữu tung trỗi cơn giông đầu hạ . Tôi không phải nô lệ , tôi là mình , bình đẳng như muôn giọt mưa phùn rơi đều đêm đông , rơi đều không gianduy nhất một mầ đen kịt . Không gian chẳng một thanh âm . Chỉ có tôi đang hào hển thở dốc . Tôi nghe trong hơi thở mình tiếng hú của chú chó có bộ lông xám trong ngôi nhà mối tình đầu năm xưa , tiếng gió tắc nghẹn đồi cao ngày Việt ái ân lần sau chót . Những mối tình , hãy u mê lần nữa trong tim tôi , giữa đêm vu quy của tôi và rời xa tôi mãi mãi . Tôi đạp ngàn lần vòng u mê , vòng nuối tiếc , để rồi đôi chân rã rời trượt dài theo tiếng hú rên. Chỉ có màn đêm mới biết tiếng hú ấy thoát ra từ cõi nào .
Lại chính tiếng rao đêm ru tôi vào cơn mộng kéo dài lê thê thức tôi khỏi mê man . Nắng đã tràn bên ngoài , xuyên qua tấm rèm màu nâu xám , chiếu xiên căn phòng sơn mầu vàng nhạt . Tôi nghĩ mình lại rơi vào một cơn mê khác , đến một xứ sở xa xôi nào đó . Không phải căn phòng con gái của tôi , không có những song cửa sổ màu xanh , tấm rèm cửa màu xanh trông ra khu vườn đầy tiếng hoan ca mỗi bình minh . Không có đồng hồ bính boong đếm giờ treo ngoài phòng khách mà bố tôi mang tận từ bên Nga về mười mấy năm trước . Căn phòng lạ , tiếng rao lạ, cả ánh nắng sáng mai cũng lạ lẫm , tôi lại mộng du nơi đâu ? Đôi chân tôi sáng nay cũng lạ lẫm dưới thân mình .Có phải đêm qua tôi đã chạy xuyên Thái Bình Dương để tìm người đàn ông xa xứ , để nở hai bầu ngực ôm trọn khuôn mặt ngây thơ lạc mẹ của chàng ? Nhấc mình khỏi tấm chăn cũng một mầu nâu xám như tấm rèm cửa , tôi ngạc nhiên vô cùng . Tôi đang mang đôi săng đan trắng mà tôi ưa thích dưới chân . Và trên sàn gạch hoa mầu nâu xám , chiếc váy trắng nằm soãi như một lời nhắc nhở. Chiếc váy cưới . Vu quy . Đêm tân hôn . Không gian tê dại , mạch máu tôi tê dại . Tôi không mộng du , tôi không ở nơichốn của câu chuyện thần tiên nào , tôi đã trải qua lễ vu quy và đêm tân hôn trong một căn phòng lạ . Tiếng thở sâu dài hàng thế kỷ chìm lặn da thịt , tôi biết chắc cuộc đời thiếu nữ của mình đã hế t. Nhưng người đàn ông chấm hết cuộc đời con gái của tôi đâu , người đàn ông bố luôn khen giỏi giang , cấp tiến và nhiều vốn tư bản sao không ở bên tôi lúc này ? Như đáp lại sự băn khoăn của tôi , những tia nắng chạy xiên khắp căn phòng , đan hình mắt cáo lên tấm chăn mầu nâu xám . Hất tung tấm chăn , tôi biết mình muốn kiếm tìm . Những tia nắng đột nhiên biến mất . Căn phòng bỗng ảm đạm .Một luồng khí phụt vào thân thể tôi , buốt xót . Trước mắt tôi , trên chiếc ra nâu xám , trong ánh sáng nhờ nhợ của một không gian xám , thân thể một người đàn ông thẳng đơ như chết rồi . Khuôn mặt Tây phương vô hồn trông đến cả vài trăm tuổi nhưng được tân trang màu mè nên từa tựa bức tượng tôi vẫn thường trông thấy mỗi khi đến cơ quan bố . Toàn bộ thân thể người đàn ông cũng xám lạnh , duy chỉ có hàm râu quai nón rậm rì loen nhoen nhiều vệt trắng . Làn da tôi trở nên xám tái như căn phòng , màu suy nghĩ , màu thân hình người đàn ông duy nhất đang hiện diện trên chiếc giường . Căn phòng u ám lạ thường. U ám như không phải là ngày đầy nắng tôi vừa nhìn thấy vài phút trước . Không còn là hoảng hốt , trái tim hoá đá . Người đàn ông hôm qua đã cưới tôi , người đàn ông luôn nhắn cho tôi những lời khó hiểu , người đàn ông đã tặng chị tôi áo choàng lông thú chẳng nhẽ lại mang thân hình lạnh giá như một xác chết thế kia? Hình như tôi đang nằm mơ , hình như có ai đó đang trêu tôi . Hoảng hốt , tôi nhìn xuống thân mình . Không một mảnh vải che thân . Tôi hoàn toàn trần truồng, trừ đôi săng đan lấp loá dưới chân , vết sáng duy nhất trên thế gian . Tôi chạy vòng trong căn phòng lạ bằng đôi săng đan , những bước chạy trệch troạc hoang mang . Tôi bẹo cấu khắp thân mình . Tôi phải thoát ra khỏi giấc mơ khủng khiếp này . Không da thịt nào cảm thấy đau .Chỉ có vùng kín ran rát và bàn tay tôi ướt mềm trong lau lách . Hai bàn tay bết dính chất ngà trắng lẫn nhiều sợi bạc mà tôi vẫn còn đủ tỉnh táo để nhận ra không phải sợi đàn bà của mình . Trời ơi , những vệt trắng trên bộ râu quai nón của người đàn ông ? Tôi chồm lên thân thể xám lạnh trên chiếc giường lạnh xám . Thân hình người đàn ông buốt giá , cứng đơ . Thân hình của một xác ướp! Tôi không biết mình đã làm sao để khoác được chiếc váy lên người, làm sao để thoát khỏi căn phòng nặng nề tử khí. Tôi bay xuống những bậc cầu thang cao quá cỡ, bay qua tấm biển đề khách sạn Eden. Thiên đường , những bậc cầu thang cao để leo lên thiên đường và chạy xuống địa ngục . Đêm qua tôi đã lên thiên đuờng cùng một xác ướp , tôi đã động phòng với một xác ướp. Dấu tích còn nguyên trên bộ râu quai nón người đàn ông và vùng lau lách mềm mại của tôi . Đêm qua tôi đã bơi trên biển cả , tôi đã lặn trong biển cả , đã phiêu du lên thiên đường. Thưa bà Karl, tối qua ông bà ngủ ngon chứ ạ? Gió tạt đi lời cậu thanh niên lễ tân ngáp ngủ. Gió tràn ngập khi tôi chạy ra khỏi cổng thiên đường . Bà Karl, chồng tôi tên là Karl. Đàn ông Tây phương , vu quy, thiên đường . Gió phả rạp những cành sấu già phơi trơ mùa đông. Gió tung chiếc váy cưới tôi mang trên mình. Không phải gió độc trên đồi cao nơi tôi đánh mất người tình xa xứ mà tôi thương nhất, không phải gió ngoài biển đêm khi tôi quỳ gối uống nước sâm người tình Tàu, không phải gió mơn nhẹ trên ban công ngôi nhà sang trọng trên đất Việt của chàng trai Mỹ trắng. Gió của ngày trống rỗng. Phố xá sáng nay vặng lắng. Bước chân tôi lẫn trong tiếng gió phỉnh gạt con đường về nhà .
Khu vườn màu xanh ngả rạp khi tôi trở về. Không có tiếng chim hót . Hoang tàn như vừa trải qua động đất. Bậc thềm nơi tôi cất tiếng khóc chào đời đón tôi im ắng. Ông bà nội trên bàn thờ thản nhiên ngó tôi bằng cặp mắt xa lạ. Tiếng bính boong đồng hồ dường như ai oán. Chẳng cần nghe tôi nói một lời, bố tôi ngoảnh mặt vào trong xua tay.
– Sao con lại chạy về đây? Con không biết cư xử cho ra người lớn được à?
– Nhưng … nhưng con không hiểu. Con không hiểu sao chồng con lại là một xác ướp. Là trò đùa của mọi người ?
Gió theo vào tận trong nhà làm run hai bàn tay tôi , run đôi chân mong manh. Bố quay mặt ra hướng gió, mắt bố là lạ. Vừa lạnh, vừa như khóc, lại vừa như cam chịu .
-Không phải trò đùa. Mà số phận con gái ạ. Cả dân tộc này đâu có đùa. Con phải quay trở lại khách sạn với chồng con. Số kiếp đã như vậy rồi, gái chính chuyên phải một chồng, biết vâng phục chồng và xã hội .
Giọng bố yếu dần , và tan trong sương sớm .
– Nhưng chúng ta có thể thay đổi được số phận mà bố .Con có thể chọn một người đàn ông khác . Hà cớ gì phải lấy một xác ướp ?
– Xác ướp ấy là người tốt nhất trong số đàn ông con đã dẫn về .
Bố bước thẳng vào phòng. Gió lặng trên bàn thờ bố vừa thắp nhang. Tôi biết tôi phải trở lại căn phòng có xác chết đang chờ đợi.Mà không phải xác ướp. Là chồng tôi ,là ông Karl, ngoại kiều Tây phương uyên bác và nhiều vốn tư bản đã định cư ở Việt Nam vĩnh viễn. Là niềm mơ ước của xã hội. Sau song cửa màu xanh căn phòng con gái, tôi thấy mẹ đang lén nhìn tôi và lau nước mắt. Tôi không dám ngoái nhìn nữa. Tôi thương mẹ và thương chính mình .
Nắng tỏa ngời mênh mang theo bước đôi săng đan trắng quay trở lại thiên đường. Nắng của trời, không phải nắng của lòng tôi. Nắng của tôi, gió của tôi đã qua đời trong những cuộc tình giờ chỉ còn là kí ức. Nhưng tôi còn chính mình. Dù cho thân thể và tình cảm đã có lúc đứt đoạn, nhưng tôi còn trái tim biết rung động. Bước lên những bậc cầu thang, tôi bỗng thấy mình lớn hơn. Thưa bà Karl, ông bà có muốn dùng bữa sáng trong phòng không ? Bà Karl, tôi đã là bà Karl. Chồng tôi cho dù chết vẫn được người đời tôn trọng. Tôi không thể ngay trong sáng nay đi khỏi thiên đường này, phơi xác ướp ra ngoài nắng kia cho tan rã. Nhưng tôi còn có trái tim. Và cả nắng sáng, gió sáng của tôi nữa, chúng sẽ trở về bên tôi, giúp tôi thoát khỏi căn phòng xám lạnh này .
. . . ?
Không nhìn Karl đang nhợt tái, tôi kéo tấm rèm mầu nâu xám, mở toang cửa sổ. Bầu trời trong xanh. Ngày đông mà nắng đẹp thế. Tôi xoay tròn đôi săng đan trắng, đi lại trong phòng, đi rảo trước chiếc giường với ý nghĩ mình sẽ trốn thoát. Tôi ngồi xuống. Tôi ngồi im giữa chiếc ghế bành. Tôi biết bố rồi cũng sẽ chết. Cuộc đời tôi rồi sẽ mọc cánh. Ngoài kia . . .
Ngoài kia nắng chiếu ngời nhân loại .

Hà Nội trước ngày vu quy 2005

—————————————————————————

NGƯỜI ĐÁNH MÁY : HOÀNG NHÃ TRÚC
Saigon, 12/12/2006