GIỚI THIỆU SÁCH “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” -Tô Hải

Tác Giả NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC
________________________________________

DCVOnline: (*) Nhạc sĩ Tô Hải, tên thật là Tô Đình Hải (1927), tác giả ca khúc Nụ cười sơn cước, Giải thưởng Nhà nước đợt 1 (năm 2001), Theo Nhịp cầu âm nhạc còn là tác giả của hơn 500 bài báo và hơn chục đầu sách dịch, trong đó có tác phẩm của những nhà văn lớn: Victor Hugo, John Ernst Steinbeck III, Peter Adam.
Trả lời Hà Đình Nguyên của Việt Báo.vn, Tô hải nói: “Thời tiểu học, tôi học hát và tham gia ban đồng ca Saint Joseph, từng đoạt giải thưởng âm nhạc Chim Sơn Ca của Hướng đạo sinh toàn Đông Dương. Đang học dở tú tài 2 thì tôi nhập ngũ ngày 19/08/1945. Tôi viết ca khúc đầu tay Trở về đô thành (1946) rồi Nụ cười sơn cước (1947) đều do bản năng và mê nhạc mà thành. Tôi luôn tự cho mình là một người lính làm nhạc cho mình, cho đồng đội mình hát.”

Trả lời một câu hỏi khác Tô Hải nói, “Kim Bôi là một dãy núi thuộc tỉnh Hòa Bình. Dạo đó đơn vị tôi ở nhờ một làng dân tộc Mường. Tôi được ở trong một gia đình có cô con gái rất đẹp, nàng tên là Phẩm. Cũng chỉ là “để ý” thầm vậy thôi! Khi đơn vị tôi chuyển quân, với tình cảm lưu luyến hết sức chân thành tôi đã: “hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh!” và chuyển những tình cảm này thành ca khúc, ca ngợi chung những bông hoa rừng mà tôi đã từng gặp… Cô Phẩm ngày xưa giờ đã là một thiếu phụ luống tuổi, ăn mặc theo kiểu người Kinh và… chẳng biết tôi là ai cả! Nhắc lại chỉ thêm buồn… Biết vậy, cứ hãy sống với kỷ niệm xưa.”

Người hướng Tô Hải vào nghiệp âm nhạc là nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương.

HỒI KÝ của một Thằng Hèn
Nguồn: Tiếng Quê Hương

LỜI MỞ
Vì sao tôi viết hồi ký?

“Khi bắt tay vào viết hồi ký, ấy là lúc
mọi khát vọng sáng tạo đã cạn, mọi
ham mê, hoài bão đã tắt, và thần
chết đã cầm lưỡi hái hiện trước cửa sổ… ”

_______________________________________
Câu mở đầu đó, nếu tôi không nhầm, là của George Sand (1) mà tôi đã đọc, đã thương cảm và đã tự nhủ rằng rồi đây chính mình cũng sẽ phải để lại cho đời ít dòng nói thật khi bước vào tuổi 70, nếu như cái chết lãng nhách không đến bất chợt!

Biết đâu đấy, rồi đây lịch sử sẽ có thêm được một số chi tiết trong “tội ác diệt văn hóa” của nhà cầm quyền Việt Nam trong một thời gian dài trên nửa thế kỷ nhờ những chứng liệu được ghi trong hồi ký của một kẻ từng làm thứ văn nghệ gọi là “vì Đảng vì dân” trong suốt đời mình.

Hãy nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật ở miền Bắc Việt Nam mà xem.

Một lỗ hổng lớn!

Đúng vậy! Hậu thế sẽ thắc mắc: làm sao mà từ năm 1945 đến đầu thế kỷ 21, nhân tài đất Việt ở miền Bắc Việt Nam ‒ một thứ Đàng Ngoài của lịch sử lặp lại ‒ ít ỏi đến thế?

Tác phẩm của họ đâu rồi, ngoài lèo tèo mấy bài thơ của Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán…và chẳng có một tiểu thuyết, một đoạn văn nào đáng được trích giảng trong các trường từ tiểu, trung đến đại học? Vậy mà suốt thời kỳ đất nước nằm dưới “sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt” và “duy nhất đúng đắn” của những tên “xuất thân thành phần cơ bản”, trình độ học thức ở mức “đánh vần được chữ quốc ngữ”, các văn nghệ sĩ công chức ở nơi này vẫn được nhà cầm quyền trao tặng “Giải thưởng Nhà Nước”, “Giải thưởng Hồ Chí Minh” và đủ thứ bằng khen giấy khen, được trang trọng lồng kính treo kín những bức tường phòng khách!

Thử hỏi những tác phẩm được khen nức khen nở ấy giờ ra sao?

Té ra tất cả đã bị lịch sử xếp xó.

Hơn thế nữa, những tác giả được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa khen hàng loạt nọ, trong thực tế, còn là những kẻ bán rẻ lương tâm đã lợi dụng các loại hình văn nghệ để ca ngợi những điều bất nhân, bất nghĩa bị cả nhân loại phỉ nhổ: khuyến khích con đấu cha, vợ tố chồng; hô hào kích động người cùng một nước chém giết lẫn nhau; ra sức ngợi ca những tên sát nhân khét tiếng như Stalin, Mao Trạch Đông… thậm chí, còn quỳ gối khấu đầu tạ ơn những tên đao phủ và cái tổ chức tội ác là “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, dạy những đứa trẻ bập bẹ biết nói: “tiếng đầu lòng con gọi Stalin!” Nhục nhã thay cho những kẻ cam tâm bợ đít, luồn trôn kẻ giết cha mình! Cho tới cuối thế kỷ 20 vẫn còn những kẻ u mê cứ tưởng các “tác phẩm” tuyên truyền cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cho hận thù dân tộc, cho đấu tranh giai cấp của chúng là giá trị lắm! Cứ xem chúng tâng bốc nhau, nịnh bợ nhau, bôi xấu nhau, kiện cáo nhau, để được nhận cái… vết nhơ một thời làm lính văn nghệ của Đảng thì thấy.

Không thể nín nhịn mãi, nhân dịp người ta tổ chức mừng sinh nhật 70 tuổi của tôi để ghi công những năm làm nô bộc của tôi, tôi đã công khai phủ nhận tuốt tuột những gì tôi gọi là “tranh cổ động bằng âm thanh” trên Tivi Sài Gòn. Tôi kiên quyết không cho phát lại những gì tôi được nhà cầm quyền ngợi khen suốt quá trình sáng tác. Để nhắc đến những tác phẩm của tôi, tôi chỉ đồng ý lên một chương trình do chính tôi soạn thảo và đặt tên. Nó gồm những tiếng nói của trái tim bị cấm đoán, bị lên án, thậm chí bị trù dập suốt nửa thế kỷ.

Sau hết, dựa vào thời cơ “Đổi Mới”, nhờ những bạn bè đồng tình với tôi và còn giữ được một số quyền hành cuối cùng trước khi về hưu, chương trình Nửa Trái Tim Tôi của Tô Hải đã ra mắt trọn một tiếng đồng hồ với toàn những “tác phẩm bỏ tủ lạnh”, với những lời tuyên bố gây “sốc” mạnh trong giới làm nhạc ăn lương.

Những đồng nghiệp thực sự có tài và có tâm sự giống tôi thì hài lòng. Số này, khi trả lời phỏng vấn, cũng chỉ dám nhận một cách khiêm tốn con số ít ỏi những gì mình làm ra xứng đáng được gọi là tác phẩm.

Còn số khác, những “nhạc sĩ” bám chặt thành tích 500, 1000 bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác, động viên con em ra chiến trường hiện còn tiếp tục lải nhải kể công với Đảng để xin “tí tiền còm” nhân danh giải này giải nọ thì tự ái, nổi khùng, gọi tôi là “tên phản động”.

Trả lời những câu hỏi của báo chí hoặc truyền thanh truyền hình, tôi luôn nhắc lại nguyên lý bất diệt của nghệ thuật: “Chỉ những gì từ trái tim mới đến được trái tim”! Nhưng trái tim của tôi, hỡi ôi, gần một thế kỷ qua lại không đập vì…tôi! Nó bị trói buộc, bị cưỡng bức phải đập vì những cái xa lạ với tôi: vì Đảng, vì hai cuộc chiến, vì những tín điều nhập khẩu từ các nước cộng sản Nga, Tầu.

May thay, thời thế rồi cũng đổi thay.

Liên Xô, “quê hương của cách mạng vô sản toàn thế giới”, “ngọn đuốc soi đường cho nhân loại” sụp đổ cái rụp. Thần tượng Marx, Lenin, Stalin gần 70 năm được tôn thờ hơn cả Chúa Trời bị đập tan!

Đọc hồi ký, di bút của các văn nghệ sĩ vĩ đại của mọi thời đại như Beethoven, Modigliani, Rubinstein, Stravinsky, Litz, … hay của các nhà chính trị như de Gaulle, Khrutchev, Nixon, … càng thấy cái cao thượng của họ bao nhiêu càng thấy cái bẩn thỉu, thấp hèn của các nhà “chính chọe” (politicaillerie) bấy nhiêu.

Biết bao tên tuổi lớn đã chịu sự hắt hủi, lên án, thậm chí săn đuổi, cách ly của một thể chế, của tập đoàn nắm quyền lực, kể cả bị lên án là “phản bội” đã để lại cho chúng ta các tác phẩm ghi lại những gì họ suy ngẫm qua những trải nghiệm trong cuộc đời, những buồn đau, khổ cực, những chịu đựng ghê gớm cả về vật chất lẫn tinh thần để tồn tại, để tìm tòi và sáng tạo.

Trong khi đó, hồi ký của các “lãnh tụ cách mạng” chỉ là những cuốn sách viết ra cốt tự đề cao mình một lần cuối, để giải thích (chống chế thì đúng hơn) cho những hành động sai lầm, đổ tội cho người khác về những thất bại mang tính lịch sử mà kẻ viết hồi ký chính là tội phạm. Vậy thì, tôi, Tô Hải, một cái tên được nhiều người biết ở cái thời “âm nhạc phục vụ công nông binh”, ở cái thời mà âm nhạc, nếu không làm đúng yêu cầu của Đảng sẽ lập tức bị bọn “quan văn nghệ” lên án là “mất lập trường”, là “cá nhân tiểu tư sản”, thậm chí là “âm nhạc phản động”, có gì để mà hồi với ký?

Bánh xe lịch sử quay với tốc độ kinh hoàng đã cuốn phăng những “tác phẩm”, và cả những tác giả của chúng từng đoạt giải thưởng này huân chương nọ lại than ôi, có cả tôi trong đó!

Lẽ công bằng chậm chạp cho đến nay đã phục hồi một cách rụt rè (không cần một quyết định hành chính nào hết) những tác phẩm và những tác giả một thời bị đoạ đầy, bị cấm đoán. Cuộc Đổi Mới ‒ thực tế là trở lại như cũ ‒ với các quan niệm về cái đẹp đã cho những “tên tuổi lớn” một thời trong mọi lãnh vực quân sự, chính trị, văn học, nghệ thuật những cái tát tỉnh người!

Trong “cơn đau cuối đời”, một số cựu uỷ viên trung ương đảng không còn chỗ ngồi ghé trong các ban chấp hành mới, mấy ông tướng bị cho ra rìa, ngồi chơi xơi nước hoặc bị khai trừ khỏi đảng vì bất tuân thượng lệnh, đã tỉnh ngộ. Kinh nghiệm một đời theo Đảng đã cho họ cái để viết nên những trang “sám hối” có phần nào giá trị. Họ phải trả giá cho sự dám nhìn lại cuộc đời bằng con mắt khách quan và tỉnh táo bằng sự trừng trị tương đối nhẹ nhàng so với người đối kháng khác: bị giam lỏng tại nhà, bị cắt điện thoại, tịch thu computer…

Trong khi đó ‒ tôi xin nhắc lại ‒ mấy anh văn nghệ sĩ mơ ngủ vẫn xúm đen xúm đỏ chen lấn nhau để giành bằng được mấy cái giải thưởng cho những tác phẩm mà con cháu ngày nay chẳng còn coi là cái giống gì. Ấy là chưa kể những kẻ chẳng bao giờ góp mặt trong nền văn nghệ, kể cả văn nghệ “phục vụ cách mạng”, nhân dịp này dịp khác cũng được nhà nước vô sản hào phóng ban thưởng về “sáng tác”!

Một bức tranh cười ra nước mắt.

Riêng tôi, khi chẳng còn lao động nghệ thuật được nữa (đúng hơn là không còn muốn lao động nghệ thuật nữa) bỗng dưng lại được cái Nhà Nước công nông binh tặng cho cái “Huân Chương Lao Động Hạng Nhất”.

Và khi không còn sáng tác nữa (đúng ra là không muốn sáng tác nữa) lại được người ta treo lên cổ cái mề-đay “Giải thưởng Nhà Nước”! Sướng chưa?

(với Trần Hoàn)

Tội nghiệp cho mấy anh Văn Chung, Nguyễn Đình Phúc, Lê Yên, Vũ Trọng Hối, Trần Ngọc Xương, … chẳng còn sống ở trên đời để mà hưởng cái “Giải thưởng Nhà Nước” nọ. Nói thêm chút cho vui: Cái giải thưởng này quy ra tiền cũng được gần bằng một phần mười giải thưởng tặng cho hoa hậu đấy. Mà để làm hoa hậu thì cần quái gì phải có học.
Bi kịch hay hài kịch đây?

Dù sao cái giải thưởng đáng giá hai năm lương hưu của tôi cũng là món tiền thêm vào cho hai năm tôi ngồi viết những trang tiếc nuối cuộc đời mà các bạn đang cầm trong tay. Không có nó tôi đành ôm cả núi ân hận mà về với đất. Vì không có nó thì lấy gì ăn để mà viết? Cho nên tôi cũng thấy cần ghi lại ở đây “lời tri ân” đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi viết nên những dòng hồi ký này.

Thế là, với sức tàn còn lại, tôi bắt đầu…

________________________________________
Những hình ảnh đầu tiên đến với tôi rõ nét nhất chính là những thời gian, không gian, sự kiện và những con người đã mang lại cho tôi những cảm xúc, những niềm vui và nỗi buồn.

Trong đầu tôi tràn ngập hồi ức đòi được thoát ra.

Vì thế trong khi viết, tôi luôn phải cố gắng sao cho khỏi lạc “chủ đề tư tưởng” (cách nói méo mó trong ngôn từ văn nghệ cộng sản). Và trước hết, tôi phải đè bẹp được sự “hèn nhát” trong tôi là cái đã bén rễ sâu chặt do thời gian quá dài sống trong lồng kín, cách ly bầu trời tự do.

Tôi sẽ viết để bạn bè, con cháu hiểu và thông cảm nỗi đau của những người cả cuộc đời phải sống và làm việc với cái đầu và trái tim của tên nô lệ.

Tôi tình nguyện làm một trong những người vạch trần những bộ mặt chính trị dỏm, văn nghệ dỏm, những tên cơ hội, đã cản trở, giết chết tác phẩm, đẩy những tài năng vào hố sâu quên lãng.

Đáng buồn là những chuyện được giấu kín đó, tôi đều được biết, thậm chí còn được tham dự các kế hoạch hại người (được gọi là kiểm điểm, học tập, thu hoạch… ) ngay từ khi chúng mới được phác hoạ, trong suốt quá trình tôi ở cương vị cấp uỷ, lãnh đạo chỉ đạo nghệ thuật.

Để bảo vệ chỗ đứng của mình, tôi đã không dám cãi lại những lời chửi rủa bố tôi là đồ “phản động”, mẹ tôi là “Việt gian”, họ hàng nhà tôi là “tay sai đế quốc”!

Vậy thì làm sao tôi dám bảo vệ cho một Đoàn Phú Tứ là không phản bội, một Phạm Duy là không phải “dinh tê” chỉ vì không chịu được gian khổ”?

Tôi đã chọn con đường cúi đầu nín lặng mặc dù tôi biết rõ nguyên nhân vì sao ông cậu Đoàn Phú Tứ của tôi phải về Thành, biết rõ không ai không sợ chết mà lại dám một mình vác đàn, nhịn đói vượt U Bò, Ba Rền vào chiến trường Bình Trị Thiên ác liệt nhất để viết nên Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung như Phạm Duy. Tôi đã là thế đấy. Những âm mưu hạ tiện đó, tôi không phải không biết. Trái lại, tôi hiểu ra ngay từ lúc chúng mới được bàn bạc trong “nội bộ”. Lòng tôi chống lại thủ đoạn hại người, nhưng miệng tôi lại không dám nói ra.

Nỗi bất bình bị dồn nén ám ảnh tôi suốt mấy chục năm trời. Dần dà, nó biến tôi thành một núi mâu thuẫn. Mặc dầu tôi tự nguyện dồn nén, miệng núi lửa kia thỉnh thoảng lại bục ra. Những phản ứng không kìm được xảy ra ngày một nhiều và được các công bộc mẫn cán của Đảng ghi lại bằng giấy trắng mực đen trong lý lịch đảng viên của tôi, kèm theo nhận xét “không có ý thức bảo vệ Đảng”, “hay phát ngôn vô trách nhiệm”. Tôi mang tội “không có ý thức bảo vệ Đảng” chẳng qua vì tôi không chịu bảo vệ Đảng và những đảng viên có chức có quyền làm những điều sai trái.

Ngay cả với trưởng ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ quyền sinh quyền sát là thế mà tôi cũng có lần nói thẳng mặt: “Tại sao khi những người nhân danh Đảng làm bậy, chúng tôi phê phán họ thì lại bị ghép vào tội chống Đảng, chống chủ nghĩa cộng sản? Tại sao lẽ phải bao giờ cũng thuộc về họ, mặc dầu họ không có một xu kiến thức để đối thoại với chúng tôi?”

Đó là một trong những “cú liều” đem lại cho tôi nhiều thiệt thòi, cay đắng. Với những “cú liều” này, bạn bè bảo: “Tô Hải là thằng ‘có bản lãnh’”. Những người cùng nghĩ như tôi nhưng biết giữ mồm giữ miệng thì khoái lắm, vì đã có Tô Hải nói thay! Số còn chức còn quyền nhưng không đến nỗi tồi tệ quá thì cố tìm cách “hãm phanh” tôi lại để các “anh trên” đỡ vì đau đầu mà phạng lung tung. Còn tôi, ở cái tuổi ngoài 70, chẳng còn gì để mất, lại được sự cổ vũ của số lớn bạn bè, tôi cứ “nổ” khi có điều kiện.

Cũng có người cho rằng tôi “dại” có cỡ, có kẻ nhắc là “cẩn thận kẻo vào tù!” Nhưng tôi đã quyết: 55 năm miệng bị lắp khoá kéo, nay đã già, đã về hưu, có chia xẻ với bạn đọc những hồi ức của đời mình thì cũng chẳng còn phải e ngại các lời ong tiếng ve rằng mình vì tư lợi, muốn kiếm chác cái gì.

Còn về Đảng ư? Tôi đã cóc cần nó từ khuya rồi và hết sức vinh dự được trở lại hàng ngũ nhân dân đang bị một nhóm người bắt sống cuộc sống trại lính, ăn gì, mặc gì, xem gì, đọc gì, thậm chí chết kiểu gì cũng đều do họ quy định và cho phép!

Tôi đã nói và sẽ nói, nói tất, nói với bạn bè, với người thân, với con cháu, chắt, chút, chít những gì mà bộ não ông già 70 còn ghi nhớ được về cái thời tưởng mình là một cánh đại bàng bay bổng giữa trời.

Nhưng, than ôi! Gần hết cuộc đời, tôi vẫn chỉ là “con đại bàng… cánh cụt”, chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông.

Hi vọng rằng sau khi đọc hồi ký này người đọc sẽ thương cảm cho tôi, cho các bạn tôi, những người ngây thơ, tội nghiệp, cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức.

Biết đâu chẳng có ngày đất nước này hoàn toàn “đổi mới” thật sự, hồi ký này sẽ được in ra để làm tài liệu lưu trữ về một thời cay đắng và tủi nhục nhất trong lịch sử Việt Nam. Và, may ra, lạy trời, những “đại bàng cánh cụt” chúng tôi sẽ được nhắc tới, như những chứng nhân lịch sử.

Nhưng, “vừa là tội đồ vừa là tòng phạm” làm sao những con đại bàng cánh cụt kia có thể bay cao, bay xa? Thôi thì xin làm con sói của Alfred de Vigny, con bói cá của Musset tru lên tiếng rú cuối cùng, phanh ngực, xé lòng, hiến cho lịch sử một mẩu trái tim, một mẩu trí óc, một chút hơi tàn của thân xác.

Với niềm tin vô bờ bến rằng ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã đến rất gần, dù có chậm hơn ở các nước bậc cha ông, anh cả, anh hai đến vài ba thập kỷ, niềm tin ấy vẫn cháy bỏng trong tôi thúc giục tôi vứt bỏ mọi sợ hãi, mọi hèn kém để ngồi vào computer.

Tôi bắt đầu…

Đôi điều phi lộ viết … sau cùng

Tập Hồi Ký này tôi viết xong từ năm 2000, nhưng do… hèn, tôi đã không dám cho nó ra mắt bạn đọc. Vâng, do… hèn, chứ chẳng phải do cái gì khác, tôi đã giấu nó đi, lại còn cẩn thận ghi thêm một dòng ở ngoài bìa “Để xuất bản vào năm 2010”.

Như một lời di chúc dặn vợ con, khi tôi đã… chết!

Tới năm 2003, mang bản thảo ra đọc lại, thấy ngòi bút của mình sao vẫn rụt rè, vẫn lấp lửng mới biết mình vẫn chưa hết sợ sức mạnh tàn bạo của nền “chuyên chính vô sản” mà mình từng nếm trải. Nhất là sợ rồi đây vợ con mình phải chịu đựng những đòn thù bẩn thỉu của bầy dã thú đội lốt người, nếu chẳng may những gì mình viết ra rơi vào tay chúng.

Tôi thấy cần phải sửa lại cuốn sách ‒ từ cách viết, từ cái nhìn chưa đủ tinh tường về những sự kiện lịch sử ‒ và viết thêm về những con người cần được nhắc tới, mỗi người là một mảnh gương nhỏ, nhưng gộp lại người đọc có thể thấy hình ảnh một thời đại.

Và tôi viết thêm chương Tôi đã hết hèn!

Nhưng đã đến chưa, cái thời cơ có thể đưa cuốn sách mà tôi ấp ủ bấy lâu ra trình diện người đọc? Vẫn chưa phải lúc chăng? Ngẫm ra, tuy viết là “Tôi đã hết hèn”, nhưng trong thực tế cái hèn vẫn còn đó, nó vẫn bám chằng chằng, như một bộ phận của cơ thể, cái sự mình khẳng định với mình rằng đã hết hèn mới chỉ là sự mạnh dạn với bản thân khi cầm bút mà thôi! Còn đấu tranh trực diện với cái sức mạnh tăm tối đang cai trị đất nước, kìm hãm sự phát triển của cả một dân tộc là chuyện khác, không phải là điều ai cũng dám làm!

Đặc biệt, ba bốn năm gần đây tôi may mắn có điều kiện làm quen với Internet, nhờ đó được tiếp cận với rất nhiều người mà tôi vô cùng cảm phục. Dù đang sống ở trong nước, họ không hề sợ hãi trước đàn áp, ngục tù. Đó là những Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu. Bùi Minh Quốc. Đó là những Hoàng Tiến, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Thanh Giang, Vũ Cao Quận… Đó là những nhà sư, những linh mục thà chết không chịu đứng chung hàng với lũ tu sĩ “quốc doanh”, và nhiều, rất nhiều người khác nữa!

Cũng không thể không nói đến ảnh hưởng của hàng chục website cổ võ dân chủ trên khắp thế giới, cũng như những gì bạn bè tôi, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên phải bỏ nước, bỏ cả vợ con ra đi để được viết lên Sự Thật, mở mắt cho bao người còn đang sống hèn như tôi.

Không có những cái đó thì nhân dân còn tiếp tục bị lừa dối bởi lũ bồi bút cho đến nay vẫn ra rả ca tụng một chủ nghĩa phi nhân đã lỗi thời với cả nhân loại.

Tôi cũng mong sao mỗi người trong số các văn nghệ sĩ sắp giã từ cõi đời nhầy nhụa này hãy để lại một “bản di chúc” nói lên Sự Thật, dù chỉ là 1/1000 Sự Thật, để tạ tội với đồng bào, về những gì mình đã vì miếng cơm manh áo, vì yếu hèn mà phải cúi đầu làm thân trâu ngựa. Được như Ba Người Khác của Tô Hoài cũng đã là tốt, làm được thế thì người viết cũng có thể được nhân dân “xá tội” cho phần nào.

Người đọc đang chờ xem “di cảo” của một Chế Lan Viên, một Nguyễn Đình Thi ‒ hai nhân vật đứng đầu bầy nô lệ cầm bút. Đáng ngạc nhiên là theo Nguyễn Đình Chính (con trai Nguyễn Đình Thi) thì cuốn hồi ký của Nguyễn Đình Thi sẽ chỉ được phép công bố vào năm… 2014?!

Sao lại lâu đến thế? Nguyễn Đình Chính vẫn còn sợ, còn tính toán thiệt hơn, còn bắt linh hồn người cha ở thế giới bên kia tiếp tục đóng kịch mãi sao? Hay chính tác giả cuốn hồi ký doạ sẽ in năm 2014 vẫn còn chưa tin là chủ nghĩa cộng sản đã đến ngày tuyệt diệt?

Tôi sẽ phải đưa vào chương sẽ viết những nhận thức mới, tình cảm mới, những sự kiện bổ sung dưới ánh sáng mới, một chương gần như tóm tắt tất cả những gì tôi đã viết vào lúc chưa có được sự tiếp xúc và tiếp sức của phong trào đòi tự do, dân chủ, đòi quyền con người đang ào ào dâng lên mỗi giờ, mỗi ngày trong cái xã hội độc tài đảng trị đáng nguyền rủa này.

Viết xong chương bổ sung cần thiết, tôi sẽ công bố cuốn hồi ký của đời mình trên mạng Internet toàn cầu để mọi người nếu đã biết rồi sẽ biết thêm về mặt trái với những góc khuất của một xã hội tồi tệ được sơn son thếp vàng bởi một lũ bồi bút hèn hạ, trong đó, than ôi, có cả bàn tay của kẻ viết những dòng này.

Tại sao lại phải công bố trên Internet?

Bởi vì không thể trông chờ sự xuất hiện của một nhà xuất bản tư nhân nhờ “ơn trên” nào đó sẽ ra đời trong một cuộc đổi mới giả hiệu, và tập hồi ký này sẽ được in. Trong cái quái thai “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn độc tài với tự do tư tưởng, với nhân quyền tối thiểu, chuyện đó quyết không thể xảy ra.

Thật tình, tôi những ước mong lời nhắn gửi của tôi sẽ đến tay đồng bào, bè bạn, đồng đội, “đồng chí” cũ của tôi, những thế hệ sau tôi, kể cả “kẻ thù” của tôi nữa, trong dạng một cuốn sách bằng giấy trắng mực đen hơn là một cuốn sách trên màn hình máy tính. Mạng thông tin toàn cầu cho tới nay vẫn còn là một cái gì xa lạ với tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam, kể cả nhiều người gọi là có học nhưng đã về già, không còn sức để đọc mấy trăm trang trên computer!

Cuối cùng, xin người đọc, nhất là các bậc thức giả, hãy lượng thứ cho những thiếu sót, những nhầm lẫn ở chỗ này chỗ khác về tên tuổi, địa danh, ngày, tháng… mà một cây bút “trẻ” ở tuổi 80, tài vốn hèn, sức đã kiệt, có thể mắc phải.

Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 2007

Nguồn : Đàn Chim Việt

DCVOnline: Để không phải đợi xem cuốn “Hồi ký của một thằng hèn” trên mạng internet, ban đọc có thể liên lạc mua sách (bằng giấy trắng mực đen) tại :

Tủ sách Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653
Falls Church – VA 22044 ‒ E-mail: uyenthao1@juno.com

—————————————————————————————————–

Lời Tựa “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”
Lê Phú Khải (*)
________________________________________
Đọc Hồi Ký Của Một Thằng Hèn của nhạc sĩ Tô Hải, tôi bất giác nhớ đến bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Ông là một trí thức Việt kiều, rất hăng hái hoạt động trong phong trào mác-xít, đảng viên Đảng cộng sản Pháp, đã tình nguyện về nước để tham gia kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hăng hái là thế, mà ở tuổi ngoài tám mươi, khi làm bản tổng kết đời mình, ông đã phải thốt lên: “Đời tôi là đời một thằng ngây thơ”. Trong hai chữ “thơ” và chữ “ngây”, tôi xin giữ lại cho mình chữ “thơ” vì đã đi theo kháng chiến, còn cái chữ “ngây” để chỉ cái sự đi theo chủ nghĩa xã hội thì xin… vứt nó đi!”

Nguyễn Khắc Viện tự đánh giá như thế là khách quan, là công bằng. Cần phải tách bạch hai chuyện ‒cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cái gọi là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một đàng là hành động theo lương tâm, một đàng là hành động theo lý thuyết được người khác khuyến dụ, và cả ép buộc nữa.

Tô Hải và Nguyễn Khắc Viện ‒ hai con người, hai số phận, cả hai đều được Nhà Nước Cộng Sản tặng nhiều huân chương “cao quý”, nhưng cái tương đồng giữa hai người là ở chỗ họ đều thiết tha yêu nước, nhưng không thể yêu xã hội chủ nghĩa.

Cậu học trò Tô Hải gia nhập Vệ Quốc Đoàn ngay từ những ngày đầu cách mạng. Là người yêu nhạc bẩm sinh, Tô Hải khởi đầu cuộc đời nghệ thuật của mình bằng các ca khúc vui nhộn theo các điệu swing, rumba ‒ thứ nhạc bị coi là phi vô sản ‒ để giúp đồng đội quên đi những thiếu thốn, gian khổ trong cuộc chiến đấu không cân sức với quân xâm lược. Lúc ấy người ta rộng lượng tha cho Tô Hải cái tội làm nhạc theo cách của bọn đế quốc, tội ấy để đấy cái đã, tính sau. Cuộc đời binh nghiệp của Tô Hải có đủ niềm vui và nỗi buồn, vinh quang và tủi nhục, được ông trung thực ghi lại trong cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay. Nó là cuốn sách cần cho những ai muốn biết về chủ nghĩa cộng sản trong hiện thực. Nó cần cho những ai chưa tỉnh giấc nồng của những mộng mị được sơn phết vàng son.

Tôi có cái duyên được làm bạn với tác giả cuốn sách. Là người hâm mộ nhạc sĩ Tô Hải, lại là học trò của ông (ông là thầy dạy tôi tiếng Pháp), nên mỗi lần có hội hè, tết nhất, bạn bè, đồng ngũ, đồng khóa Lục Quân Trần Quốc Tuấn tụ tập ở nhà ông, tôi thường được hân hạnh cùng dự. Những cuộc gặp mặt như thế thật cảm động. Những người lính của một thời kháng chiến đã trôi xa vui mừng gặp lại nhau, cùng nhau ôn lại các kỷ niệm chung. Tô Hải và các bạn ông đã là những ông lão, nhưng nhìn họ ngồi bên nhau, say sưa hát vang những bài ca chiến đấu cũ, những bản tình ca không thể nào quên của Tô Hải, tôi vẫn thấy trong họ bóng dáng của những chàng trai một thuở “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”.

Không khí trầm hẳn xuống khi những chiến sĩ năm xưa đụng đến thời cuộc hôm nay. Đâu rồi, cái thời những con người hết lòng xả thân vì nghĩa lớn? Đâu rồi tình đồng chí, đồng đội tử sinh không rời? Tất cả những cái đó đã có, nhưng tưởng chừng không có. Như thể một giấc mơ.

Cái “chủ nghĩa xã hội đáng phải vứt đi” như Nguyễn Khắc Viện nói, đã dần dần, từng chút một để không ai nhận thấy, được bàn tay phù thuỷ dựng lên thành bức bình phong che giấu những gì bẩn thỉu nhất mà lịch sử từng biết, trong sự tước đoạt tất cả thành quả máu xương của bao chiến sĩ, đồng bào đã đổ ra. Những người ngồi đây, trước mắt tôi, là chứng nhân cuối cùng còn sống. Một trong những chứng nhân ấy là Nguyễn Khải, đại tá nhà văn, giải thưởng Hồ Chí Minh. Trước khi chết ông đã gửi lại lời trối của kẻ lạc đường trong mấy câu: “Quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!”

Có thể nói không ngoa rằng Hồi Ký Của Một Thằng Hèn là cuốn biên niên sử ghi lại quá trình từng bước, từng bước, nhân dân Việt Nam, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ bị tước đoạt đi cái quý giá nhất đối với con người là Tự Do. Là chứng nhân của lịch sử, Tô Hải ghi lại trung thực, sống động cả một quá trình nhào nặn, đấu tố, cưỡng bức tư tưởng để biến văn học nghệ thuật thành “vũ khí đấu tranh” của Đảng, cho Đảng, vì Đảng. Hồi Ký Của Một Thằng Hèn là những trang viết bằng máu và nước mắt ghi lại tỉ mỉ tấn bi kịch của chính tác giả và bạn bè ông, nay kẻ còn, người mất, để mọi người được biết họ đã phải sống như thế nào, phải… “hèn nhát” ra sao chỉ cốt để tồn tại.

Trong hồi ký của ông có biết bao gương mặt tiêu biểu cho một nền văn nghệ cổ vũ cho bạo lực, cho chém giết. Ông đau lòng kêu lên: “Biến cả dân tộc vốn hiền hòa thành một sa mạc vô cảm. Một đất nước mà tất cả đàn ông trai tráng đều đi làm nghĩa vụ quân sự không những trong nước mà còn ở…cả quốc tế vì…“lịch sử đã chọn ta làm điểm tựa”! (Tố Hữu ‒ [sic!]) Ở hậu phương chỉ còn những em bé mà mới lên năm đã bình thản…cắt tiết gà, và phụ nữ “ba đảm đang” phải sắn quần lợp mái nhà, chọc tiết lợn…

Ông không ngu để không nhận thấy ông và những người như ông, nói rộng ra là tất cả văn nghệ sĩ thuộc mọi ngành, muốn tồn tại đều bắt buộc phải làm nô bộc cho đảng cầm quyền. Là người được kết nạp vào đảng cộng sản rất sớm (1949), ông đã nhận ra rằng “Chưa bao giờ ở nước này có chủ nghĩa cộng sản cả!”, kể cả chủ nghĩa cộng sản trong lý thuyết kinh điển. Tất cả đều chỉ là sự lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để củng cố địa vị ăn trên ngồi trốc cho một nhóm người thậm chí chẳng đọc nổi và cũng chẳng hiểu nổi những lý luận xét cho cùng là rất tào lao của mấy ông Tây cuối thế kỷ thứ 19. Và, trải qua những đại bi kịch được đảng cộng sản luôn say máu đấu tranh tạo ra như Cải Cách Ruộng Đất, Chỉnh Đảng Chỉnh Quân, Nhân Văn Giai Phẩm, Xét Lại Chống Đảng, Cải Tạo Tư Sản, Cải Tạo Công Thương Nghiệp… Tô Hải đã thấy đàng sau nó thực sự là cái gì. Nó chẳng phải cái gì khác ngoài mưu đồ của một lũ cơ hội chuyên nghề lừa bịp, trấn áp nhằm chiếm bằng được quyền cai trị đất nước. Tất cả những thủ đoạn đó được lôi ra ánh sáng bằng ngòi bút trung thực. Ông không che giấu những việc đáng xấu hổ khi tả lại cảnh phải đóng vai “đại hèn” để vợ con có miếng ăn, không bị cắt sổ gạo, bị đuổi khỏi biên chế hay tệ hại hơn nữa, bị đi cải tạo, vào tù. Ông thẳng thắn chỉ ra những bộ mặt cơ hội trong giới văn nghệ sĩ đã nhẫn tâm bước qua xác đồng nghiệp để kiếm chút đỉnh chung.

Ông không ngần ngại nói về những công việc được gọi là “văn nghệ phục vụ giai cấp vô sản”, trong đó có ông tham gia, cho thấy những tác phẩm được tạo ra trong một nền văn nghệ như thế chỉ là “một mớ táp nham không có một chút giá trị nghệ thuật”.

Nhìn thấu tâm can của những tên cơ hội cách mạng, và cả tính phi nhân của chính cuộc cách mạng gọi là xã hội chủ nghĩa nữa, Tô Hải quyết tìm cách thoát khỏi mọi ràng buộc với cái Đảng quyền lực vô song, quyết không chịu ép mình “sáng tác theo yêu cầu của Đảng” thêm nữa.

Giữa lúc những “cán bộ cách mạng” lăn xả vào cuộc đại kiếm chác sau ngày đất nước thống nhất, ông bỏ về hưu non, sống cuộc sống nghèo nàn, thiếu thốn, nhưng giữ lương tâm trong sạch.

Vì hai tiếng TỰ DO, tác giả Nụ Cười Sơn Cước, giao hưởng hợp xướng Tiếng Hát Biên Thùy sẵn sàng đánh đổi tất cả. Thế hệ sinh viên Hà Nội chúng tôi vào thập niên 1960, những Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu), Bùi Minh Quốc, Trần Mạnh Hảo, Lê Phú Khải… đều biết Tô Hải. Chúng tôi từng đứng trong các dàn hợp xướng sinh viên, cất cao lời ca gìn giữ biên cương của tổ quốc với niềm vui và niềm phấn khởi vô bờ. Tiếng Hát Biên Thuỳ và Trở Lại Đô Thành (từng bị cấm) và nhiều tác phẩm khác của Tô Hải ngày nay ít người biết đến, chúng chỉ còn lại như những kỷ niệm nằm chung với rất nhiều tác phẩm sáng tác sau này của Tô Hải, mà ông cay đắng gọi chúng là những sáng tác “bỏ tủ lạnh”. Mà đâu phải chỉ có mình Tô Hải. Còn biết bao nhiêu nhân tài của đất nước cũng đã bị vùi dập như thế?

Khi gặp ông ở một xóm nhỏ Nha Trang, tôi mới biết ông đang làm gì. Thì ra ông dành toàn bộ thời gian cho cuốn hồi ký mà ông ấp ủ nhiều năm. Ông viết trong tình trạng sức khoẻ tồi tệ, phải chống nạng đi trong nhà, cuộc sống của cả gia đình trông vào chiếc xe bánh mì ở đầu đường của người vợ rất mực thương yêu chồng, chia sẻ hoài bão của chồng… Ông kì cạch viết mỗi ngày một vài trang, viết rồi xóa, xóa rồi lại viết vì… như ông thú nhận: cái nỗi Hèn vẫn cứ ám ảnh ông không thôi! Là người cũng sống nhiều năm trong xã hội chuyên chế, tôi hiểu: vượt qua nỗi Hèn chẳng hề là chuyện dễ.
Đại hợp xướng Tiếng hát biên thuỳ của Tô Hải. Đây là bản hợp xướng bị “bỏ tủ lạnh” cả nửa thế kỷ, khi mà biên cương giữa hai nước Việt Nam-Trung Hoa đang được người ta ca ngợi là… “núi liền núi sông liền sông ..chung một biển Đông. Mối tình hữu nghị sáng như rạng đông…” hoặc “Bác Mao nào ở đâu xa/Bác Hồ ta đó chính là…Bác Mao”
Nguồn: luyenkim.net
________________________________________
Mười năm ròng, mỗi ngày một ít, vừa viết vừa phải đấu tranh kịch liệt cái Sợ, cái Hèn để có thể viết đúng, viết thực, không nhân nhượng với cái gì, kể cả bản thân, cuối cùng ông đã hoàn thành cuốn hồi ký chỉ với mục đích “để lại cho con cháu và đời sau biết về nhiều sự thật bị giấu kín, mà điều cay đắng nhất là để mọi người hiểu được Vì Đâu? Vì Ai? Vì Cái Gì?”

Tô Hải không đặt cho mình mục đích lên án cái chủ nghĩa Mác-Lê đã bị lịch sử chôn vùi, đã bị toàn thế giới lên án, và cái đảng đã đưa đất nước tới tình trạng hôm nay ‒ một nước chậm tiến, nghèo khổ, lạc hậu hơn các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Ông viết ra những suy ngẫm của mình, kêu gọi mọi người cùng suy ngẫm với ông, về hiện tình đất nước, về một nền văn nghệ không còn bản sắc, đến nỗi một nửa thế kỷ qua chẳng có một tác phẩm xứng đáng được xếp vào di sản văn hoá dân tộc, xứng đáng để đời sau con cháu tự hào. Ông không chối bỏ tư cách “vừa là nạn nhân, vừa là tội đồ”, ông nhận ông là kẻ có tội vì chính ông cũng đã tham gia vào cuộc lừa bịp vĩ đại. Qua hồi ký của ông, ta thấy quả thật, đời ông quá nhiều cay đắng. Nhưng, cũng với cuốn hồi ký này ông sẽ được đền bù ‒ những người đọc ông sẽ hiểu ông và yêu mến ông. Mà có hạnh phúc nào lớn hơn thế đối với một con người đau khổ.

Ông là trí thức đúng nghĩa vì đã vượt qua chính mình, cái mình bị nhào nặn bởi bàn tay kẻ khác, để công bố tất cả, không phải chỉ những gì là Tội Ác của kẻ khác mà cả cái Hèn của chính mình. Việc làm đó, ngay khi ông còn sống trong lòng chế độ chuyên chế, là việc làm dũng cảm, nếu không muốn gọi là anh hùng. Bằng việc làm này, ông đã vượt xa những kẻ cũng mang danh trí thức, cũng gọi là nhà văn, nhưng suốt đời chẳng dám viết một cái gì theo tiếng gọi của trái tim mình. Gần đây, tôi lại càng ngạc nhiên khi biết Tô Hải trở thành blogger ở tuổi 80 với những bài viết được lớp trẻ đón nhận chưa từng thấy (200.000 người đọc trong vòng 18 tháng). Tôi càng khâm phục khi ở tuổi 81, ông đã cùng sinh viên, thanh niên xuống đường đi biểu tình phản đối bọn xâm lược Trung Quốc, khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ quốc Việt Nam. Đi biểu tình về đến nhà, ông ngồi xuống viết ngay một entry “Tớ đi tụ tập đông người không có phép” được hơn 20 báo điện tử và đài phát thanh nước ngoài phát lại.

* * *

Tập hồi ký này không phải chỉ để cho các thế hệ sau này, mà cho cả chúng ta nữa, hiểu rõ thêm những trang lịch sử đau buồn đã nhiều năm bị che giấu. Hi vọng trong một tương lai gần, nền văn nghệ Việt Nam sẽ vứt bỏ được cái quá khứ đáng nguyền rủa ở thế kỷ trước để bước vào con đường sáng sủa, con đường của Chân, Thiện, Mỹ, con đường của Tự Do, như Tô Hải hằng mơ ước.

________________________________________
DCVOnline: Bạn đọc có thể liên lạc mua sách tại
Tủ sách Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653
Falls Church – VA 22044 ‒ E-mail: uyenthao1@juno.com
———————————————————————————–

Lê Phú Khải (phải) và Võ Tòng Xuân
nguồn ảnh

(*) Lê Phú Khải sinh năm 1942 tại Hà Nội, Ông được độc giả trong nước biết đến qua những trang viết về đồng bằng sông Cửu Long.

Tác phẩm chính: Đồng Tháp Mười hôm nay, Viết từ đồng bằng Sông Cửu Long, Rắn độc trong tay người, Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long.

Ngày 18/3/2009 Lê Phú Khải viết :
Thư ngỏ của một công dân ngoài Đảng (tại BBC)

hoặc tại Báo Tổ Quốc
***

—————————————————————————————————————

NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC VÀ TÂM SỰ CỦA NHẠC SĨ TÔ HẢI
Phan Anh Dũng

(Nguồn)

Cách đây 2 tuần, Nhà Văn, Nhà Báo Uyên Thao, người chủ trương Tủ Sách Tiếng Quê Hương ở Virginia cho tôi biết quyển hồi ký của Nhạc Sĩ Tô Hải sẽ được phát hành vào khoảng tháng 5  năm nay. Anh có gởi 3 bài viết với lời bạt về quyển hồi ký của NS Tô Hải, lời giới thiệu của Nhà Báo Lê Phú Khải và của chính anh. Đề tựa “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” đem đến cho tôi một sự chú ý đặc biệt!

Nhắc đến Nhạc Sĩ Tô Hải, tôi không khỏi không nhớ đến bản nhạc “Nụ Cười Sơn Cước”, được nhiều ca sĩ trình bày và thính giả yêu thích. Trong một thời gian ngắn, tôi đã tìm thấy nhiều tài liệu về Ông trên internet: Ông là một trong những thanh niên với bầu nhiệt huyết hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp, ở lại miền Bắc sau hiệp định Genève, gia nhập đảng và được nhiều tưởng thưởng từ chế độ Cộng Sản. Sau 1975, Ông đã nhận thấy sự thật não nề khi vào Sài Gòn (Ông gọi là “Đi Thực Tế Miền Nam sau Gỉải Phóng”). Sau thời kỳ “Đổi Mới”, Ông đã không ngại lên tiếng cho biết đã “phí nửa con tim” để viết hàng trăm bản nhạc tuyên truyền phục vụ đảng trong thời chiến tranh. Tiếc thay, các bản nhạc ấy chỉ nhất thời, không thể tồn tại với thời gian!
Thích thú nhất là được biết tuy nay trên 80 tuổi nhưng Ông rất cấp tiến, sử dụng máy tính “laptop” mỗi ngày (hình ở dưới) và có trang blog bắt đầu từ năm 2007 trên yahoo để đăng các bài viết rất nóng bỏng và chân thật từ Sài Gòn. Ông cũng dùng phương tiện này để viết thư qua lại với nhiều người – Ông kêu họ là “Bạn, (friend)” và Ông xưng là “Tớ”! Ông có lối viết giản dị, tếu, tự diễu mình và rất thật tình nên được nhiều bạn trẻ, đáng tuổi con cháu yêu mến. Sau 1975, Ông bắt đầu công việc dịch thuật vì thông thạo nhiều ngoại ngữ. Khi tôi khởi sự viết trang này thì mới đây Ông vẫn tiếp tục “dấn thân” chẳng hạn như xuống đường biểu tình phản đối Trung Cộng về Hoàng Sa và Trường Sa. Ông cũng vừa gởi một bài viết cho Đài BBC Luân Đôn trong đó nhắc lại một bản giao hưởng hợp xướng mà Ông bỏ nhiều tâm huyết viết thời còn trẻ nhưng sau đó vì lý do chính trị không được phổ biến. Các bản nhạc tình cảm mà Ông cho là từ “nửa trái tim còn lại” cũng cùng chung số phận: bị dìm và “bỏ tủ lạnh”!
Nhạc Sĩ Tô Hải viết: “Nhà văn quân đội – Đại Tá Nguyễn Khải, trước khi qua đời đã tuyên bố: ”Miền Bắc đã cho tôi Độc Lập, miền Nam đã cho tôi Tự do…” Còn tớ, vẫn còn sống nhăn răng đây, tuyên bố: ”Miền Nam đã cho tớ cả Độc Lập, cả Tự Do và cả Hạnh phúc nữa”. Độc lập về tư duy, Tự do về viết lách và… không viết lách. Còn Hạnh Phúc thì … ”độc lập và tự do tìm kiếm hạnh phúc cho mình”… Tuy nhiên để có được ba điều thiêng liêng đó, tớ đã phải vứt bỏ biết bao điều mà trước kia, có cho… kẹo cũng chẳng dám nghĩ, dám làm …”

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA – 15 tháng 4, 2009)

NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC
Tô Hải

Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi,
mây mờ buông xuống núi đồi
và trong lòng mưa hơn cả ngoài trời.
Cỏ cây hoa lá, thương nhớ mãi người đi
và dâng sầu lên mi mắt người về.
Thơ thẩn đàn chim ngừng tiếng hót,
mưa Xuân đang tưới luống u sầu,
buồn cho dòng nước mờ xóa bóng chim uyên
và gió chiều còn khóc thương mãi
mối tình còn vấn vương.
Ai về sau dãy núi Kim Bôi,
nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ,
hình dung một chiếc thắt lưng xanh,
một chiếc khăn màu trắng trăng,
một chiếc vòng sáng lóng lánh,
với nụ cười nàng quá xinh.
Nàng ơi, tôi đã rút tơ lòng,
dệt mấy cung yêu thương
gởi lòng trong trắng,
của mấy bông hoa rừng
đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi

đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi

Ghi chú: lời trong bản nhạc không đúng hoàn toàn với bản nguyên thủy

*********************************************

50 năm cùng “Tiếng hát biên thùy”

” Năm nay 83 tuổi, nhạc sĩ Tô Hải được coi là blogger thuộc nhóm cao tuổi nhất ở Việt Nam, và ông cũng là tác giả của một bản hợp xướng giao hưởng đã song hành suốt 50 năm cùng lịch sử ngành biên phòng, cũng có thể coi là bản giao hưởng thuộc hàng đầu tiên của Việt Nam, một kỷ niệm mà ông muốn chia sẻ riêng với độc giả BBC tiếng Việt
Đó là những năm 1957-1958:
- Khi Miền bắc Việt Nam vừa ra khỏi một cuộc chiến trường kỳ chín năm gian khổ,
- Khi mà nông thôn đã bị đảo lộn bởi cuộc “cách mạng long trời lở đất” là “cải cách ruộng đất + chấn chỉnh tổ chức” gây nên sự xào xáo, đảo lộn, đấu tố đến phá hoại mọi công bằng, đạo lý của toàn thể cơ cấu xã hội, gia đình… ở nông thôn,
- Khi mà người dân vừa mới cắm thẻ nhận ruộng lại bị bắt buộc nộp từ con trâu, cái cày đến miếng ruộng vừa được chia cho “tập thể” để hàng ngày nghe kẻng đi làm ăn công, chấm điểm,
- Khi mà ở các thành phố, mọi hoạt động kinh doanh buôn bán đều bị cải tạo, tất cả chỉ còn là “quốc doanh”. Từ cái tã cho trẻ sơ sinh đến cái tiểu sành khi cải táng, tất cả đều có tiêu chuẩn nhà nước quy định, có tem, có phiếu,
- Khi mọi sự cố gắng để giành lấy một chút tự do trong sáng tác mà điển hình là nhóm “nhân văn giai phẩm” bị lên án và đàn áp, cho đi cải tạo, đuổi ra khỏi biên chế, cấm sáng tác…
- Khi mà hầu hết các nhạc sỹ kháng chiến trở về thành phố với hành trang chẳng có gì ngoài mấy bài hát tuyên truyền động viên toàn dân kháng chiến, chưa một ai được học qua một trường lớp chính quy nào, chưa hề biết, chưa hề nghe một tác phẩm âm nhạc thuần túy nào, chưa biết dàn nhạc giao hưởng gồm có những nhạc cụ gì. Thậm chí có người chưa thể ghi chuẩn xác chính sáng tác của mình lên giấy.

Khủng hoảng lý luận

Mỗi ngày phải học 16h mới đủ cho từ hòa thanh, phức điệu đến phối khí, piano
Và quan trọng hơn hết là cách mạng Việt Nam sẽ đi theo hướng nào đây: “theo Tây hay theo Tàu”?
Đặc biệt sau hội nghị các đảng cộng sản Bucarest (1956) ở Rumani thì chủ nghĩa cộng sản đã bị chia rẽ sâu sắc đến nỗi khẩu hiệu “Vô sản thế giới liên hiệp lại” đã được thay thế bằng ” Vô sản thế giới giải tán đi” (prolétaires de tous les pays, dispersez vous!) thì tại những cơ quan lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, “tiến nhanh, tiến vững chắc LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” là thế nào đây???
Rõ ràng là… tùy nghi ứng xử. Nói trắng ra rằng, một cuộc khủng hoảng về lí luận chưa từng có đã làm chia rẽ ngay các vị lãnh đạo cao nhất, từ trong nhận thức đến hành động.
Do đó, ai nắm quyền ở lãnh vực nào thì cứ vận dụng lí luận theo kiểu mình hiểu.
Phải mãi đến khi người ta ra mặt chống chủ nghĩa xét lại và đi theo con đường của… Mao chủ tịch thì trắng đen mới thật rõ ràng.
Chính trong thời kỳ “nửa dơi nửa chuột” này mà giới văn nghệ mới có dịp làm quen với những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của thế giới, kể cả những tác phẩm sau này bị lên án là xét lại, thậm chí là “phản động”, qua con đường công khai nhập vào Việt Nam bởi chính những đoàn nghệ thuật, những xuất bản phẩm, báo chí, những bộ phim, những tiểu thuyết của “các nước anh em” mà muốn phê phán, cấm đoán cũng…”há miệng mắc quai”.
Lớp học kỹ thuật âm nhạc do các chuyên gia nước ngoài phụ trách để giúp những người viết ca khúc (song writer) Việt Nam trở thành “nhạc sỹ” đích thực (composer) được ra đời chính ở cái thời này chính là nhờ sự nhận thức khá đúng đắn của một số lãnh đạo cấp cao nhất như Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm…

Chuyên gia Bắc Triều Tiên

Không phải là không có nhiều ý kiến của những kẻ ngu dốt, cơ hội, cho rằng “âm nhạc Việt Nam không nên phát triển theo đường lối phương Tây. Phải dạy cho trẻ em hò, sừ, sang, cống, líu… chứ tại sao lại phải đồ, rê, mi, pha son? Sonate, giao hưởng, opera là sản phẩm văn hóa của giai cấp tư sản, việc gì ta phải bắt chước. Giai cấp vô sản không cần đến những hình thức nghệ thuật chỉ dành cho vua chúa và bọn tư bản làm gì”…

Tác phẩm huy động hơn 100 diễn viên và nhạc công từ nhiều đoàn nghệ thuật
Cứ như thế, tranh cãi, đấu đá tới mức khi thành lập hội nhạc sỹ Việt Nam (1957), âm nhạc Việt Nam hiện đại vẫn chỉ dừng ở mấy bài “lời ca hát lên hát xuống” hoặc mấy “bài hát dài” với cái tên sáng tạo rất… Việt Nam là… trường ca như “Sông Lô”, “Du kích Sông Thao”… mà chủ yếu là hát đồng ca, thỉnh thoảng có 2 bè đã là… “đỉnh cao của nghệ thuật âm nhạc” rồi.
Tóm lại, âm nhạc Việt Nam những năm cuối của thập niên 50 của thế kỷ trước vẫn chỉ là thứ âm nhạc của thế kỷ thứ XV- XVI của các nước tiên tiến, thậm chí còn đang nằm ở tình trạng “hát lên những câu ca dao”như kiểu các cụ ta thời xưa đã làm nên những bài dân ca truyền khẩu mà những gì hay nhất còn lại cho con cháu hôm nay cũng chỉ nhờ… truyền khẩu, chẳng hề có văn bản bao giờ.
Có thể nói, khi đặt vấn đề mời chuyên gia nước ngoài dạy hòa thanh, phối khí, phức điệu và các hình thức âm nhạc chính quy như rondo, sonate, symphony… trong bối cảnh lịch sử như đã trình bày ở trên là một thắng lợi của những đầu óc cấp tiến.
Tuy nhiên, cũng từ những thắng lợi bước đầu này mà nảy sinh ra những mâu thuẫn ngay trong nội bộ giữa những “nhạc sỹ có học”, “nhạc sỹ chưa được học” hoặc “nhạc sỹ… không cần học”.

Quá trình rèn luyện

Tôi thuộc lại nhạc sỹ “thèm học” nên đã đấu tranh bản thân, vượt qua mọi sự khó khăn, ép mình nuốt trôi tất cả các môn học kể trên trong 18 tháng.
Có ngày phải làm việc đến 16 tiếng mới lo trả đủ bài cho các thầy từ hòa thanh, phức điệu, phối khí, đến piano.
Mặc kệ mọi lời bàn ra tán vào, ý kiến ý cò, tôi đã chọn một hình thức âm nhạc vừa với sức mình, vừa dễ đến với công chúng để thể nghiệm tất cả các môn đã học là Cantate – vừa viết cho dàn nhạc vừa viết cho giọng người.

Để thực hiện được ý đồ “táo bạo”này, tôi đã phải dán các tờ giấy viết ca khúc lại để có được tờ tổng phổ 24 dòng, và cặm cụi suốt gần một năm trời viết cho một dàn hợp xướng bốn đến sáu bè (lúc này ở Việt Nam chưa biết dàn nhạc giao hưởng là cái gì).
Trước sự quyết tâm và say mê học tập để trở thành một “nhà soạn nhạc” đích thực, các thầy dạy tôi và một số đồng học như Nguyễn Văn Thương, Lương Ngọc Trác… và một số cán bộ lãnh đạo đã ra sức ủng hộ để tác phẩm được ra đời.
Chỉ riêng việc huy động một số lượng hơn 100 diễn viên và nhạc công ở nhiều đoàn nghệ thuật, kể cả quân nhạc, theo đúng yêu cầu của tổng phổ về tập trung tại 17 Lý Nam Đế để dàn dựng (dưới sự chỉ huy của chuyên gia CHDCND Triều Tiên) và biểu diễn báo cáo đúng ngày 22 tháng 12 năm 1959 đã là một việc làm chưa từng có trong bối cảnh xã hội và chính trị vô cùng khó khăn và phức tạp lúc bấy giờ.
Tác phẩm Tiếng hát biên thùy được ra mắt công khai và rất hoành tráng giữa nhà hát lớn thành phố Hà Nội.
Đến dự không thiếu một ai trong các vị lãnh đạo (trừ cụ Hồ), toàn bộ khán giả đứng lên vỗ tay hồi lâu.
Chuyên gia Mao Vĩnh Nhất (dạy sáng tác) và GS Triệu Đại Nguyên ̣(dàn dựng và chỉ huy dàn nhạc) cúi chào khán giả và ngẩng lên lô giành cho tác giả (như thông lệ ở các nước) thì… chẳng có ai. Vì tôi đâu có được mời.

Dư luận công chúng

Sau đó “dàn nhạc giao hưởng và hợp xướng” vay mượn tạm thời đó còn được biểu diễn mấy tối tại “Nhà hát nhân dân” để đông đảo quần chúng được lần đầu tiên thưởng thức “thử” hình thức âm nhạc mà người ta gọi là “xa lạ”, không “quảng đại quần chúng” và đầy “kỹ thuật chủ nghĩa”, thậm chí “sặc mùi tư sản phương Tây”… này.

Nào ngờ, tất cả các phương tiện truyền thông (thời đó chỉ có báo chí và đài phát thanh) đều không tiếc lời khen ngợi.
Đặc biệt, tất cả đều nhấn vào vấn đề: không phải là quần chúng không biết nghe âm nhạc nhiều bè, không biết thưởng thức ngôn ngữ của bộ gõ, bộ đồng, bộ dây, vấn đề chỉ là nghe có hay hay không, có truyền cảm hay không?
Sau khi được phát lên sóng thì chiến sỹ ở đủ các quân chủng (đặc biệt là bộ đội biên phòng) đều gửi thư về khen ngợi tới mức ông đưa thư cũng phát ngạc nhiên vì chưa thấy có cá nhân nào nhận một lúc nhiều thư đến thế.
Sau những ngày “hoàng kim” ngắn ngủi đó, các diễn viên hợp xướng, nhạc công được trả lại đơn vị cũ, Tiếng hát biên thùy chỉ tồn tại nhờ NSND Lê Đóa tại Đoàn ca múa Tổng cục chính trị.
Nhưng chỉ còn lại có hai chương 2 và 4, chẳng kể gì đến hình thức âm nhạc chính qui, chẳng cần đối tỷ đối tiếc gì hết, miễn là “không làm mềm lòng chiến sỹ” ở cái chương 3.

Ba chìm bảy nổi

Thời gian qua đi, lớp nhạc sỹ Hoàng Vân, Chu Minh, Đàm Linh… từ các nhạc viện nước ngoài sau đó lục tục về nước, và thế hệ tiếp theo thuộc lớp con em chúng tôi như Đỗ Hồng Quân, Đặng Hữu Phúc, Trọng Đài… cũng tiếp tục theo nhau trở về.
Họ đã viết được nhiều tác phẩm dài hơi, những loại hình sáng tác còn “kỹ thuật chủ nghĩa, tư sản phương Tây” hơn tôi nhiều.
Nhưng kỷ niệm về cái thời xa xưa của “Tiếng hát biên thùy”, những năm nước ta không biết gì về âm nhạc ngoài các bài hát đơn điệu hoặc đồng ca có bè (mà nhiều người cứ gọi nhầm là hợp xướng), té ra vẫn còn trong tâm trí của khá nhiều người như GS Nguyễn Lân Hùng.
Bao thế hệ chiến sỹ biên phòng ngày nay, kẻ mất người còn, liệu còn mấy ai nhớ tới “Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy” nữa.
Ngay bản thân tôi cũng chẳng còn thắc mắc băn khoăn gì, vì chẳng phải chỉ một mình tôi phải chịu “ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh” cùng tác phẩm của mình.

“Chẳng phải một mình tôi phải chịu ba chìm bảy nổi cùng các phẩm”

GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC của một tác giả, của một tác phẩm (nếu nó thật là giá trị thì) dù có ai muốn vùi dập thế nào, trước sau sẽ được lịch sử ghi nhận và phục hồi.
Gõ đến đây, tự nhiên tôi lại nhớ đến những đồng nghiệp, đồng ngũ đã một thời “phục vụ quân đội giải phóng quê hương”, nhưng vì không chịu nổi những cách phê phán ngu dốt và “lạp xường tù mù hách xì xằng” về “văn nghệ vô sản” mà đành phải gác bút, chuyển nghề, thậm chí “come back to Hànội, to Saigon”, mang cái tiếng là “phản bội”, là “không chịu đựng được gian khổ” nên… trở cờ, tôi tự thấy mình đang còn có… Chúa và nhiều người ủng hộ thật.

50 năm lịch sử biên phòng

Tôi thật sự cảm động khi kỉ niệm 20 năm, 30 năm thành lập bộ đội biên phòng đều được các “đồng chí” cũ, các lãnh đạo cũ gửi thư thăm hỏi, thậm chí đến tận nhà tặng quà, tặng tiền và cùng tôi ngồi nghe lại bản cantate viết 52 năm trước.
Câu: “Một vị tướng đã nói với tôi là khi nghe bản hợp xướng của Tô Hải nhiều anh em chúng tôi đã ứa nước mắt” (của Nguyễn Lân Hùng viết trên TTVH) chỉ là một ví dụ có thật đã diễn ra ngay ở nhà tôi.
Nhưng những giọt nước mắt đó đối với mỗi người đều có một ý nghĩa riêng.
Người thì nghĩ tới một thời oanh liệt xa xưa nay còn đâu nữa.
Người thì nghĩ tới những đồng đội đã ngã xuống vì bảo vệ từng tấc đất Tổ Quốc mà hôm nay không được ai nhắc tới, không được kỷ niệm lễ lạt gì.
Đối với tôi, khi cùng nhỏ nước mắt với họ trong những dịp này chính là những giọt nước mắt nhớ về số phận truân chuyên, lên voi xuống chó của những văn nghệ sỹ muốn làm văn nghệ đích thực nhưng đôi khi phải đánh đổi bằng cả số phận khốn khổ cay đắng của mình..
Sự đánh đổi đó là những nhận xét sau đây trong lý lịch: “luôn phản ứng có hệ thống đối với cấp ủy”, “luôn phản ứng với cấp trên”, là hai năm chịu đựng, ngậm đắng nuốt cay, bị “đày”đến một đoàn văn công vùng đầu cầu giới tuyến Nam-Bắc, không giao hưởng, không hợp xướng, không còn được viết những gì mà mình muốn viết.
Nó đưa tôi tới một quyết định liều mạng là quyết tâm rời khỏi quân ngũ và rời luôn cái danh vị “đảng viên Đảng lao động Việt Nam” bằng mọi cách có thể.
Và tôi đã tạm thời thành công trong một thời gian khá dài… (xin chờ đọc tiếp trong hồi ký tôi sắp công bố một ngày gần đây).

*************************

Đi thực tế miền Nam mới “giải phóng”
Tô Hải

Đi Thăm…Giàu Hỏi… Sướng!

Tớ lợi dụng một loạt entries sau đây để giải đáp một số câu hỏi đặt ra về những vấn đề so sánh văn nghệ giữa hai miền mà người đọc chưa rõ, về sự đánh giá chưa chính xác của tớ về sự khác biệt giữa hai miền trong lãnh vực âm nhạc, về cái “gu” thẩm mỹ “không thể thống nhất”….vv..vv.. Vì thế, nếu có dông dài…các friends chịu khó đọc nhé. Blog chứ có phải viết tiểu thuyết, hồi ký, hồi kiếc,…gì đâu!

Có một điều cơ bản nhất của chủ trương “đi thực tế sáng tác” mà các nhà lãnh đạo văn nghệ vô sản không tính đến: Đó là những phản tác dụng mà bọn tớ còn gọi là “phản ứng ngược” mà rất nhiều những Thực Tế Thật (vérité vraie) đã vả vào mặt anh em văn nghệ những cái tát tỉnh người! Đó là những thực tế không giống hoặc hoàn toàn trái ngược với thực tế mà các vị ngồi một chỗ, tưởng tượng ra qua các báo cáo.. láo!
Khỏi nói đến Cải cách ruộng đất, đi thực tế để viết được ra một sự thật nhỏ (rất nhỏ) như “Ba người khác”của Tô Hoài, hoặc như bài thơ như “Tôi? Ai?, “Bánh vẽ”, “Trừ đi” của Chế Lan Viên hoặc như “Nỗi buồn chiến tranh”, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” thì có lẽ các nhà chủ trương “xua” văn nghệ sỹ đi về với công nông sẽ… ra lệnh stop liền!

Buồn thay, chỉ vì …”sợ” (chữ của cụ Nguyễn Tuân) nên những thực tế thật đó đều phải chờ cả gần nửa thế kỷ mới được phản ảnh thật (tuy chưa đến lúc thật 100%) lên giấy trắng mực đen…

Riêng tớ thì đã có lần viết một entry khá dài “Vì sao tớ mất cái mẩu hạnh phúc cỏn con” được nhiều người comment, được nhiều blog copy, được đăng lại trên cả những website của nước ngoài và cả trên “Ngôi sao net” nữa!
Chính cái thực tế gớm ghiếc của cải cách ruộng đất và của cuộc chiến ghê rợn trên đường Trường Sơn đã làm tớ không sao tiếp tục viết láo, viết để “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” được nữa mà chỉ viết những gì rung động của trái tim mình.
Thế rồi nào các phong trào xây dựng hợp tác xã cấp cao, nào “Sóng duyên hải”, “gió đại phong”, “cờ ba nhất”, rồi “cải tạo tư sản”… Tất cả đều được động viên đi vào thực tế, nắm bắt thực tế để có những tác phẩm “xứng tầm thời đại”…
Nhưng hôm nay đây,có ai in lại “Mùa lạc” hay “Hòa Vang” của Nguyễn Khải, “Cái sân gạch” của Đào Vũ, hát lại “Miền Nam đau thương và anh dũng”, “Không cho chúng nó thoát”, “Tiến về Sài gòn”…?
Lịch sử đã chôn vùi hết những gì là văn nghệ phi nhân bản mà chính các tác giả của nó cũng phủ nhận và nhận “tội” lúc cuối đời như Chế Lan Viên, Nguyễn đình Thi và rồi đây theo tớ được biết, sẽ còn nhiều người nũa viết nhiều sự thật.
THẬT như những câu:

“Ai chịu trách nhiệm về 2.000 người đó/
Tôi! tôi người viết những câu thơ cổ võ/
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong/

….Ai chịu trách nhiệm vậy?/
Lại chính tôi/
Người lính kia cần một câu thơ giải đáp về đời/
Tôi ú ớ…
(xem toàn bài thơ trên entry nói trên)

Và tớ tin hoàn toàn vào những gì mà các bạn trẻ hôm nay và mai sau sẽ còn được đọc nhiều “những trang đời” rất thật của nhiều tác giả khác nữa sau này… trong đó có tớ!
Tóm lại là, như tớ đã viết trong một entry, văn nghệ sỹ miền Bắc chúng tớ, so với anh em ở miền Nam thì…thua đứt đi cái Tự Do Sáng Tác! Họ không phải viết theo yêu cầu của một cơ quan, đảng phái hay một tổ chức, nhà nước nào, không ăn lương của ai để làm văn nghệ! (tất nhiên không thể tránh được cũng có một số nào đó dùng văn nghệ để kiếm chác tí chính trị). Nhưng phải khảng định là họ tự do, tự do và tự do… kể cả tự do làm… hại cái chính thể mà họ đang phải sống! Có người còn mang tiếng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản!?” (Tội nghiệp Trịnh công Sơn, cho đến nay vẫn bị gán là “Đặc công Đỏ” mà chết rồi vẫn chưa được Đỏ tặng cho một danh hiệu, một giải thưởng gì so với các nghệ sỹ cải lương Phùng Há, Diệp Lang, Bạch Tuyết!)!

Cái thứ quý nhất trên đời đối với người nghệ sỹ là Tự Do, tớ sẽ kể dần dần trong những lần bọn tớ tiếp xúc với anh em”tại chỗ”!
Vì thế một loạt ẻntríes sau này có cái tên chung là “Thăm giầu hỏi…sướng”!! Và cũng chính vì những cái thực tế hiện hữu ở khắp nơi đang diễn ra trên khắp các ruộng đồng, nhà máy hiên nay ở cả hai miền đất nước mà gần đây, chẳng thấy mấy đoàn văn nghệ sỹ được tổ chức đi thực tế sáng tác như xưa nữa. Thậm chí, càng mong các nhà “kỹ sư tâm hồn” càng tránh xa thực tế càng…tốt!
Dẫn chứng gân đây nhất là nhà báo, (có thẻ đàng hoàng) Tùng Quang của báo Đại Đoàn Kết đi thực tế viết bài ở Quân 2, đã không những không được mời mọc, chiêu đãi như xưa còn bị chính quyền hạng bét nhất ở địa phương tịch thu luôn cả phương tiện hành nghề, câu lưu tại chỗ !!?!
Phải chăng thực tế THẬT đã khiến cho những người đang nhân danh cách mạng làm những điều hoàn toàn trái ngược với luật pháp, chẳng coi người cầm bút là cái…cục phân gì?
Thôi! Bỏ đi mấy cái chuyện nhức đầu thường ngày ở phường, ở quận,…trở lại với “chuyện xưa” để đọc mà …ngẫm nghĩ cái sự đời “Xưa Sai Nay Đúng, Xưa Đúng nay Sai”, nó đã “làm loạn” trong đầu biết bao người như tớ!

Thế là….sau khi dẹp tiệm “Nhà Xuất bản âm nhạc giải phóng”, tiện có Đoàn nhạc sỹ của Trung Ương do chủ tịch Nguyễn Xuân Khoát và Tổng thư ký Huy Du vào, tớ có dịp nhập bọn đi thực tế miền Nam, đi sâu vào từng gia đình, họ hàng bà con, bạn bè cũ, mới.
Tớ đi ra tận đất mũi Cà Mâu, ăn dầm nằm dề cả tháng ở đồng bằng sông Cửu Long… Và đi đâu tớ đều thấy cái THỰC TẾ RÀNH RÀNH là miền Nam sướng gấp trăm lần miền Bắc, dù tiếng súng chỉ mới im lặng sau miền Bắc có hơn 2 năm trời (chỉ tính từ khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc). Hàng hóa, thực phẩm từ nông thôn đến thành thị, đâu đâu cũng thấy thừa mứa, rẻ rề.
Trong khi ở miền Bắc, miếng đậu phụ, lạng thịt cũng phải có phiếu thì ở miền Nam, bác ngư dân, Hai Tường, ở Cà Mâu có thể ngồi tại nhà quờ tay xuống nước vớt lên cả một cần xé cá, tôm đang còn giãy đành đạch, chiêu đãi đoàn nhạc sỹ cánh tớ nhậu suốt một ngày! Buồn cười Huy Du, có tiếng là thật thà còn hỏi nhỏ bác chủ nhà: “Ba bữa nhậu ngày, một bữa cháo rắn hổ mang đêm, thế này, có làm bác tốn kém lắm không”? Bác ta cười ha hả trả lời “Tôm cá dưới sông, rắn nằm trong bụi, có mất tiền mua đâu mà tốn với kém!” Nói rồi, bác cầm bao “555″, rút một điếu, xé giấy, vứt đầu lọc, nhồi thuốc vào… nõ điếu thuốc lào, rít một hơi dài, rồi nói thêm trong khói thuốc: “các chú thế là chưa biết gì về miệt Cà Mâu này rồi! Chim trên trời, cá tôm dưới nước, thiên nhiên này nuôi sống chúng tôi bao đời nay! Chẳng lo phải thiếu miếng ăn đâu mấy chú ạ! Bây giờ hòa bình rồi, tha hồ mà đi khơi, đi lộng, chẳng lo tên bay đạn lạc ,lo tàu Hải Quân xục sạo tìm Việt Cộng, cản trở làm ăn, thế là sướng rồi! Nào! nhậu đi mấy chú! “

Thế đấy ,một người ngư dân bình thường đã “tuyên truyền”về cái sướng vật chất (và có lẽ cả tinh thần?) hơn hẳn của miền Nam bị “kìm kẹp”, cho chúng tớ quá đơn giản nhưng cực kỳ .. thuyết phục!

Tớ không đến nỗi bất ngờ mà phải “ngồi xuống vệ đường mà khóc vì thấy mình bị đánh lừa” như Dương Thu Hương.

Trái lại tớ lo, lo cho tương lai của bác ngư dân này khi ” bị” vào hợp tác xã, phải bán sản phẩm cho Mậu Dịch, phải cấm cả miệng mình ăn một con tôm do chính tay mình câu lên, (một trong những điều cấm của các hợp tác xã đánh bắt thủy hải sản ở Đồ Sơn,ở Cát Bà, Cát Hải mà Sở Thủy Sản Hải Phòng đã tổ chức cho một Đoàn nhạc sỹ chúng tớ đi thực tế để …trái tim thấy nhiều lần nhói lên về cái thực tế phũ phàng này!)

Trên đường về, trên xe, một trong những đề tài thường được chúng tớ tranh luận là: Miền Nam có thể nào đi theo con đường tiến lên XHCN kiểu miền Bắc không? Và gần như ai cũng nhận thức được “Cái mảnh đất giầu có trời cho”, cái con người miền Nam sống Tự do như dân vùng Cà Mâu này khó có thể chịu cái cảnh sống của ngư dân Đồ Sơn, Cát Hải được!

Trở về thành phố, lại lang thang đi khắp chợ Bến Thành, đường Lê Lợi, Lê Thánh Tôn, Huỳnh Thúc Kháng, Đồng Khởi, Nguyễn Huệ…anh nào anh nấy đều ù tai, hoa mắt về những hàng hóa, về những câu chào hỏi “1 đồng (tiền mới) một mét mua dzô!”
Còn vào đên Chợ lớn thì …cứ như …lạc sang Tầu! Đặc biệt ngon và rẻ thì có lẽ không anh nào đã được hưởng cái thú ăn cơm Tầu như ở đây! Huy Du, 5 năm học bên Tầu cũng chưa bao giờ được hưởng những món sang trọng mà lại rẻ rề đến thế! Bữa ăn có cả bào ngư, kim tiền kê mà đứng lên trả tiền, 4 vị chỉ mất có 4 đồng rưỡi!…

Một giấc mơ? một ảo giác? Không, thực sự là như vậy!

Tuy nhiên, đêm đó tài căn hộ của tớ cũng nổ ra một cuộc tranh luận về đề tài: Liệu “Ta”có cải tạo tư sản,có cầm buôn bán, liệu có đóng cửa hết mọi cửa hàng ăn, các cafeteria, các bar như Rex, Givral, Maxim’s,,, không? Chỉ riêng tớ là dám nói :”Sẽ cấm!” Còn tất cả đều ngờ vực… Vì tớ là một anh ăn nói liều mạng nhất nên tớ dám phát ngôn “vô trách nhiệm” là …Trong tay ông X,ông Z thì… mười Chợ Lớn các ông ấy cũng phá tan như không! Chủ nghĩa xã hội đâu chấp nhận cái cảnh giai cấp trung gian (tức là thương nghiệp) đâu có chấp nhận công cụ sản xuất (nhà máy) nằm trong tay bọn tư sản!

Nhân đây cũng xin kể một chuyện vui mà có thật 100%. Em ruột tớ, nhân có dịp các văn nghệ sỹ miền Bắc vào cũng có ý “khoe” tớ và đám bạn bè tớ cho mấy anh em trí thức văn nghệ sỹ miền Nam, bèn tổ chức một bữa tiệc mừng tại Biệt Thự Tĩnh Tâm của bố tớ để lại. Trong lúc Tô Hiền đang còn dài giòng giới thiệu chưa xong thì, họa sỹ Lưu Công Nhân, bạn học của Hiền thời kỳ Pháp thuộc, bỗng cầm cốc rượu Napoléon lên, đứng phắt dạy, ngắt lời: “Này thôi thôi! Mời các vị nâng cốc uống mau đi, kẻo ít nữa chẳng có.. đéo gì nữa mà tiệc với tùng đâu!!” Cử tọa lặng người vì câu nói quá “bá láp” của cái ông họa sỹ cộng sản này !

Kể ra LCN nói cũng thiếu… văn nghệ một chút nhưng những điều anh nói ra rõ ràng là sau này trở thành sự thật (!) khi nhu yếu phẩm, từng lạng thịt, thìa bột ngọt cũng phải chia về cơ quan, khối phố!

Cũng xin nói thêm sau này chính anh là người thứ hai, sau Dương Bích Liên xin ra Đảng và còn cười giỡn và nói :”Tao vào Đảng sau mà lại được ra trước, khối thằng vào trước tao mà cũng chưa được ra!” Chuyện này trong giới văn nghệ miền Bắc còn kể cho nhau nghe mãi về sau… khi anh đã không chiụ “lệnh trục xuất” về Bắc của ông Bảy Bảo Định Giang (*) mà sẵn sàng ra khỏi biên chế để được ở lại miền Nam làm một anh “họa sỹ tự do” cho đến năm 2007 thì qua đời ở Đà lạt..

Thực tế ở miền Nam nó phản tỉnh vào tâm hồn con người văn nghệ sỹ bằng nhiều cách nhưng nói chung là mọi nhân sinh quan, mọi lập trường, quan điểm nó đảo lộn tất cả trong mọi cái đầu và trái tim của những người đã từng làm văn nghệ minh họa (mà đại tá nhà văn Nguyễn Minh Châu đã viết lời ai điếu).

Dẫn chứng gần nhất là lời tuyên bố của nhà văn nổi tiếng là khôn, Nguyễn Khải, trên giường bệnh lúc sắp giã từ cuộc đời được đăng trên Tuổi Trẻ ngày 11/1/2008 là: “Miền Bắc cho tôi Độc Lập, miền Nam cho tôi Dân chủ và Tự do” ,”thì đủ biết THỰC TẾ MIÊN NAM đã giải phóng cái đầu và trái tim tụi tớ như thế nào!
Và… chẳng phải một mình giới văn nghệ, giới chính trị cũng phải nhận thức ra “Không thay đổi cách nhìn, cách lãnh đạo là…nguy to! Và… “Đổi Mới” đã ra đời…Cả hai miền đã đuợc… “cởi trói” tiến vào kinh tế thị trường nhưng….đang còn vướng cái đuôi…XHCN ????????

*Ở miền Bắc, một số văn nghệ sỹ được “giải phóng sáng tác”
100%, nghĩa là ăn lương của Hội nhưng không phải làm việc gì ngoài sáng tác.Tuy nhiên, đi đâu, làm gì, kế hoạch sáng tác, sinh hoạt Đảng vẫn phải do Đảng Đoàn quản lý. Lưu Công Nhân, Phan Huỳnh Điểu… là hai văn nghệ sỹ tuy vào miền Nam rất sớm nhưng không thuộc bất cứ Hội nào của thành phố. Riêng LCN, vì “quậy” quá mới có cái “lệnh trục xuất” của Đảng Đoàn Hội Liên Hiệp V.H.N.T thành phố vô lý này…
24 tháng 3, 2008

*****************************************************************************************************************************


Bấm vào dưới đây để xem và nghe NS Tô Hải nói chuyện với người cháu là Andrew Lam năm 2004 (Andrew Lam tên thật là Lâm Quang Dũng, con của Tướng VNCH Lâm Quang Thi, mẹ Andrew là em ruột của NS Tô Hải) :

VIDEO 1 VIDEO 2

Tớ Đi Thăm Những Người … Không Chiến Bại

Mới đầu, tớ chỉ coi những người không trực tiếp cầm súng ở miền Nam chống lại quân đội miền Bắc là những người không chiến bại…. vì theo tớ, họ có vào sân đá banh đâu mà bảo họ thua…?
Cho nên, giao tiếp với những gia đình, bạn bè không có con phải đi “học tập” nó làm tớ thoải mái hơn cả. Đỡ phải trả lời những câu hỏi mà chính các bố “tuyên bố một đằng làm một nẻo” cũng chẳng đủ sức trả lời!
Tớ thấy những phương châm dặn dò của Ban Thống Nhất khi tiếp xúc với đồng bào, nhất là văn nghệ sỹ miền Nam là luôn ở “tư thế của kẻ chiến thắng”, là “cần đoàn kết nhưng kiên quyết, cởi mở, nhưng cảnh giác” không để sa vào những cám dỗ vật chất của chủ nghĩa thực dân mới vv….vv… bằng một thái độ duy nhất: “Đến với mọi người với cả một tấm lòng trung thực nhất, không bao giờ tỏ ra một người ở phe thắng tới với phe thua”!
Tớ không thể hiểu nổi các nhà làm ra những câu như “thế ta là thế đứng trên đầu thù”, những người chủ trương vừa tiếp quản thành phố đã bắt toàn dân “treo ảnh lãnh tụ, treo cờ Tổ Quốc”, đã đêm đêm bắt các em nhỏ phải đi tập trung học “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ!” có một chút nghĩ suy gì về tình cảm con người không chứ chưa nói đến tâm lý học. Làm sao mà người ta có thể bị áp đặt phải yêu những thứ mà người ta không những không thích mà còn sợ hãi, thù oán nữa? Làm sao mấy em nhỏ có bố đi “cải tạo” chưa có ngày về lại có thể mơ thấy gì ngoài bố chúng nó chứ! Tớ phải cố quên đi những lời hợm hĩnh kiêu binh (sufisance) trên Đài, trên báo, trên những khẩu hiệu giăng đỏ đường để có đủ can đảm bước vào những gia đình mà tớ biết trước sẽ phải đối diện với trăm ngàn thắc mắc đủ loại….

Tớ không đến nỗi vào loại nói dối ngu ngốc là: “miền Bắc có cả trăm máy lạnh mắc ở công viên Lê Nin”! Tớ cũng không đủ can đảm để nói miền Bắc sống sung sướng vì …không bị “kìm kẹp” dù không có tủ lạnh, tivi, xe máy…, dù miếng ăn nào cũng phải có phiếu có tem!
Tớ muốn chửi cha cái thằng dám viết báo nói rằng “phong cách trẻ em khoanh tay, cúi đầu khi chào người lớn ở miền Nam là…rơi rớt từ chế độ phong kiến!”
Đặc biệt là đối với giới trí thức miền Nam, tớ luôn tâm niệm là: Họ có được cái đầu và trái tim phóng khoáng, tự do hơn chúng tớ nhiều. Hơn thế nữa họ có nhiều điều kiện để trau dồi trí thức, được đọc nhiều, xem nhiều, đi nhiều hơn hẳn mấy anh lý luận văn nghệ mà chỉ được đọc tác phẩm qua bản dịch, học lý luận qua các tổng kết triết học-chính trị-kinh tế học từ cuối thế kỷ thứ XIX!
Và một điều tớ cho là văn nghệ sỹ miền Nam hơn hẳn mấy anh văn nghệ sỹ miền Bắc ở chỗ: 10 anh thì 9 anh dùng được từ 1 đến 2 ngoại ngữ để tự trau dồi kiến thức của mình. Điều này ở miền Bắc tỷ lệ dùng được ngoại ngữ là ngược lại 1/10! Mà hầu hết cái số 1 đó lại là ngoại ngữ học từ thời Pháp thuộc. Còn lại trí thức từ 50 tuổi trở xuống (tính đến năm 1975) thì ….đều trông chờ vào sách dịch nhỏ giọt mỗi năm dăm bảy cuốn.
Ấy vậy mà các vị “kiêu binh văn nghệ” đó vẫn dám tổ chức tọa đàm, hội thảo đủ mọi thứ nghe có vẻ…”người lớn” ra phết: Nào “Sự khác biệt giữa chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nào “Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân mới tới văn học nghệ thuật miền Nam”… nào Hiện Sinh, Ca Muýt, Bôn Sác, tùm lum cứ như ta đây đã biết thừa “ba cái thứ bậy bạ” đó từ lâu rồi!
Tớ nhớ mãi một buổi hội thảo về văn học nghệ thuật tại 190 Phan đình Phùng mà mấy vị hãnh diện chiến thắng đứng lên ăn nói bậy bạ đã bị anh em phản đối bỏ ra về! Riêng tớ cũng đứng dậy ra về theo vì cũng cảm thấy bị xúc phạm luôn nhất là kẻ xúc phạm mình lại là một thằng Ngu!
Ai đời phân tích một tác phẩm của phía mà anh ta cho là “người thua”, mời người ta tới mà lại nói là: “Anh có bao nhiêu cái đầu để tạ tội với cách mạng?” (Phan Khắc Lập phê phán cuốn “Tiền Đồn “của Thế Uyên).
Còn về âm nhạc thì còn có ông tệ hơn nữa, dám phát ngôn một câu là: “Âm nhạc miền Nam là âm nhạc ….vô học”. Tớ nhớ mãi truyện này vì chính sau đó một hôm, nhạc sỹ Phạm Đình Chương, người tớ đã quen biết từ thời kháng chiến chống Pháp đã đến gặp tớ ở 23 Lý Tự Trọng để nhờ phản ảnh sự bất bình của anh em “tại chỗ” về thái độ lời ăn tiếng nói của một số “cán bộ cách mạng”. Tớ đã nói chuyện với nhạc sỹ Phạm Đình Chương gần 3 tiếng đồng hồ về những gì chúng tớ đã trải qua để tồn tại đến ngày hôm nay,… Rồi cuối cùng… Các bạn có biết tớ đã khuyên ông ấy cái gì không: “Anh Chương ạ! Tôi khuyên anh… nếu còn khả năng, hãy…”ra đi” đi! Sớm ngày nào hay ngày ấy! Các anh không thể sống an lành với thái độ thẳng thắn này đâu. Hơn nữa, với cái đầu và trái tim quen với tự do rồi, các anh không thể làm nghề sáng tác được dưới thể chế chính trị này đâu!”
Và cũng chính với cái bài thuyết phục tích cực một cách cực kỳ …tiêu cực này tớ đã chỉ sửa đi mấy chữ “không thể buôn bán”, không thể hành nghề”, “không thể phát triển tài năng” v..vv… mỗi khi đến đâu gặp những người thân đang có vấn đề bế tắc trong tư tưởng, đời sống, vật chất hay tinh thần… Có thể nói, gần như cả gia đình nội ngoại xa, gần nhà tớ, từ bà cô, bán phở Bắc ở chợ An Đông đến ông giáo sư Đại Học Trường Y Dược, sau này ra đi, đều có công “thúc đẩy” của tớ ít nhiều.
Riêng giới nhạc, những người còn ở lại do còn lấn cấn vấn đề vợ con, tài sản hoặc còn hy vọng điều gì đó thì, sau cuộc cải tạo tư sản đều ra đi hàng loạt.
Riêng cái dàn nhạc đã từng cộng tác với tớ suốt những ngày đầu tiên cố làm nên một thứ “âm nhạc giải phóng” thì …ra đi không sót lấy một người!
Riêng đối với Nghiêm Phú Phi, một người tớ đặc biệt quan tâm, theo giới thiệu của Phạm Trọng Cầu, tớ đã từng gặp để trao đổi nhiều về vấn đề có thể đẩy mạnh nền âm nhạc kinh viện (accadémique) ở Sài gòn này không thì ông cho biết: “Ông đã có giấy tờ chính thức ra đi, không thể ở lại được, dù lúc đó người ta đã “cơ cấu” ông vào Ban Chấp Hành Hội Âm nhạc thành phố sắp được thành lập”. Tớ mừng cho ông vì những thứ ông học mà tớ đã được biết, (được xem và được nghe qua một cái quartet cho đàn giây) quả là hiếm hoi ở đất Sài gòn này nhưng ông sẽ chịu sao nổi sự lãnh đạo của mấy ông đáng tuổi con, tuổi em ông đang sắp từ Liên Sô, Trung Quốc… trở về với cả một hệ thống tư duy về thẩm mỹ (và cả kỹ thuật nữa) hoàn toàn khác biệt, nhất là cái đầu óc hợm hĩnh (sufisance) mang từ “cái nôi của cách mạng tháng 10″ về thì… chỉ có làm ông tăng-xông mà chết sớm!
Một làn sóng văn nghệ sỹ, diễn viên ở cả hai miền di tản, vượt biên càng tăng lên khi có vụ “Nạn Kiều”. Hàng loạt diễn viên của Nhà hát giao hưởng (cả gia đình họ hàng nhà Cóong (Trombone), Đài Phát Thanh (Vân Khánh, Mộng Dung, riêng Ngọc Tân..bị bắt, ở tù rồi được thả)) Nhà hát Kịch (Giáng Hương, Phạm Bốn) Trường Nhạc (vợ chồng pianist Hàn-Vy-Hoa…V.Hiệp…) thậm chí cả sau này gia đình nghệ sỹ nhân dân(!!!) Thái Thị Liên-Đặng Thái Sơn, Tôn Nữ Nguyệt Minh… theo tớ chẳng qua cũng chỉ là một thứ “di tản chính thức”, được chấp nhận để họ có đủ điều kiện phát triển tài năng mà thôi! Còn họ phục vụ nhân dân được cái gì thì ngay cái “nhăn răng” tớ đây cũng chẳng được ba vị “nghệ sỹ lớn” quanh năm sống ở nước ngoài cho nghe lấy một nốt nhạc nào!
Tớ chỉ ân hận có một điều là không giúp đỡ “giải thoát” được cho chính em ruột tớ: Tô Hiền. Một phần vì bản thân em tớ nó quá yếu đuối cả về tinh thần lẫn thể xác, một phần nó cũng hơi có tí…”cách mạng” hơn cả ông anh vì nó cũng đã từng trải qua những ngày sống với “cách mạng” thời học tú tài ở trường cấp ba Nguyễn Thượng Hiền, trong vùng kháng chiến. Phần nữa nó quá lo cho cuộc sống càng ngày càng khó khăn của một anh “giáo sư cấp ba” và một bà vợ giáo viên cấp 2 làm sao nuôi nổi 6 con ăn học trước tình hình ngày càng xuống cấp trầm trọng của xã hội những năm 76-77. Có thể nói gia đình Tô Hiền, em tớ là điển hình cho một lớp trí thức tiểu tư sản thành thị bị “chết lây” bởi các phong trào cách mạng đánh vào…người khác! Thoạt tiên là bán đổ bán tháo cái ô-tô hàng ngày, giáo sư dùng để chở vợ con đi dạy, đi học và chở mình đến lớp! Sau đó là tậu ngay …8 cái xe đạp, mỗi người một cái, ngày ngày cọc cạch đạp từ hẻm Long Vân Tự (Bình Thạnh) đi khắp các Quận để học, để lên lớp, giảng bài! Mỗi lần tớ về thăm lại thấy thiếu đi một cái gì đó, thậm chí đến 3 cái quạt trần cũng từ từ đội nón ra đi. Bữa ăn thì toàn bo bo, bột mì… rau xanh là chính. Các cháu sinh ra ghẻ ngứa, mặt mày đứa nào đứa nấy ngơ ngác chẳng còn hột máu! Mỗi lần về, qua chợ bà Chiểu, tớ luôn xách theo cân thịt lợn, thịt bò về để bồi dưỡng cả nhà. Đang tính chuyện bán nhà để có “cây” vượt biên thì…., ngay trên bục gỉảng tại trường phổ thông cấp Ba Nguyễn Huệ Quận 4, giáo sư Hiền đã gục xuống, đứng tim và không bao giờ tỉnh lại nữa! Đó là ngày 24 tháng 10 ta năm 1976, sau đúng có hơn một năm trời cố gắng làm anh giáo sư cấp 3 XHCN! … Và vợ Hiền, sau đó ít năm, cũng chết vì tăng xông luôn… 6 đứa con nay đã trưởng thành, chẳng nên ông nên bà, có chức danh to lớn gì ,nhưng cũng sống được, một phần vì có ba đứa đã quyết tâm làm “boat people” (may không đứa nào bị cá ăn), hiện đang sống bên Canada, bên Mỹ, hỗ trợ ít nhiều!

Đúng là tớ có cái “số” sống cô độc, không bà con họ hàng để luôn luôn có thời giờ mà… nghĩ ngợi, mà buồn chán cho cuộc đời, mà trao đổi với bạn bè những tình cảm, nghĩ suy… như tớ đang giải sầu bằng blogging hôm nay đây.

Trở lại với cuộc đi lang thang với nhạc sỹ Lê Thương (không có ông, rất khó tiếp cận với các loại “sống ẩn” như Dương Thiệu Tước) tới rất nhiều các nhạc sỹ đang còn ở lại. Tớ luôn ca ngợi cái tự do của họ và nhận hết những gì mà người khác làm sai như của mình làm sai. Xong xuôi rồi, bao giờ tớ cũng tìm cách nhắn nhủ một cách tế nhị “Nên chọn con đường “ra đi” là tốt nhất vì các anh không có đủ sức chịu đựng được những gì chúng tớ đã chịu đựng đâu!” Trừ một số anh quyết tâm ở lại vì đã quá già, trong đó có anh Lê Thương, Hùng Lân, Dương Thiệu Tước…tất cả những người trẻ, trong đó có cả Duy Quang, trước khi ra đi đều đến chào tớ rất cảm động, chân thành. Tớ chỉ thương có một mình Y Vân, một con người nghệ sỹ quá tình cảm, quá bình dân và quá… nghèo, không sao có khả năng tìm đường “tự cứu” được. Ngay những năm 75, 76, anh cũng tự mình cuốn lấy thuốc hút, ăn mặc xuềnh xoàng. Anh thường đến tớ chơi trao đổi nhiều điều rất tâm tình (chuyện gia đình, chuyện vì sao anh làm ở Đài Mẹ Việt Nam … Anh không được phổ biến tác phẩm, không được kết nạp vào Hội cho đến ngày anh qua đời…)
Đối với tớ, không có nhạc sỹ phe ta hay phe nó gì hết. Chỉ có một cái chức danh đáng tự hào NGHỆ SỸ VIỆT NAM mà số phận đã bị các nhà chính trị đẩy họ đến chỗ phải cầm đàn, cầm bút, cất cao tiếng … chửi nhau, gây nên chia rẽ, thù hằn cho mãi đến bây giờ vẫn chưa sao mà xí xóa đi cho được!
Vài năm gần đây, thỉnh thoảng có người trở lại cố hương, găp lại tớ, thấy tớ vẫn sống có phần thoải mái tự do, lại còn lên net, gõ blog hàng ngày, gặp bạn bè, mét xịch khắp bốn phương, tuy không có được nhà lầu, xe hơi nhưng vẫn vui tươi trong cuộc sống hoàn toàn tự do, thoải mái, tớ đã không ngần ngại tuyên bố: “Ngày xưa các bạn sống sướng hơn tớ nhiều“! Còn bây giờ thì đến phiên được bắt đầu cái sự… sướng tự tạo ra đây! Chỉ phải cái chữ “giầu” thì có lẽ không bao giờ tớ có được ở cái nền… kinh thế (!) thị trường quái đản này! Thôi thì thay “thăm nghèo hỏi khổ” tớ bằng… “thăm cái lão già nghèo mà sướng vậy”!

Tô Hải
27/03/2008

Tài liệu tham khảo:
Blog của nhạc sĩ TÔ HẢI
Trang Khánh Ly
Đàn Chim Việt
BBC
***
——————————

Đọc “HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN” của TÔ HẢI
14/04/2009
UYÊN THAO
Nỗi khát khao nhỏ bé được cùng gia đình lo đón
Tết mà người sĩ quan thiết giáp vừa thốt lên
bỗng như vầng khói sương hư ảo. Ngay cái
đỉnh đèo mà tôi vừa đứng bên anh cũng chìm
dưới hình ảnh những xác chết ngổn ngang để xoá
nhoà hẳn nét đẹp mà anh nhìn thấy. Cảnh sắc
thiên nhiên không bao giờ thay đổi, nhưng tôi
không thể quên những cuộc tàn sát từng diễn ra
chính trên đoạn đường này, nhất là không thể
quên những thân xác vào nhiều ngày tháng trước
đã nằm gục theo mọi tư thế bên những gốc cây,
những mô đất mà chúng tôi vừa bước qua…

____________________________________________

NGÕ CỤT VIỆT NAM
và giấc mơ về Thằng Hèn CHILON CHILONIDES
UYÊN THAO

Từng trang “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” đưa tôi lui dần về bốn mươi năm trước.

Thuở đó, một buổi sáng cuối năm 1969, tại toà soạn tuần báo Diễn Đàn trên đường Tạ Thu Thâu Sài Gòn, anh Mặc Đỗ nhắc tôi thực hiện ngay số báo đặc biệt về Hồ Chí Minh vừa có tin đã chết.

Anh Mặc Đỗ là chủ bút và tôi là người điều khiển toà soạn.

Lời nhắc của anh tự nhiên làm bừng dậy một loạt hình ảnh từ ký ức.

Trước mắt tôi không còn khung cảnh toà soạn mà là đoạn đường đèo Mang Yang.

Đối diện với tôi không còn nhà văn Mặc Đỗ mà là người lính đầy bụi đất — một đại uý thiết giáp mà tôi nhớ tên là Đào Trọng Trấn. Tôi tới đây khi trận Đức Cơ đã dứt, nhưng toàn Vùng 2 đang căng thẳng vì cuộc nổi dậy của Fulro vào tuần lễ trước –– đêm Giáng Sinh 1965. Chúng tôi bước dọc hàng chiến xa rồi dừng bên một lùm cây. Đại uý Trấn bỗng chỉ tay xuống dải thung lũng bên quốc lộ bật la:

- Đẹp quá! Cảnh đẹp quá!

Rồi anh thở dài:

- Lúc này được cùng gia đình lo đón Tết mới thú!

Câu nói bất ngờ tỏ nỗi khát khao của vị chỉ huy đơn vị đang bảo vệ an ninh cho một điểm xung yếu nối cao nguyên với duyên hải đã theo tôi suốt đoạn đường trở lại thị xã Pleiku sau đó.

Tôi như nghẹn thở vì những hình ảnh hỗn loạn, vừa thấy mình dừng giữa dòng suối nhỏ tại Dakto đã lập tức ngồi bên một sân bóng tại Lệ Thanh, rồi chết sững tại một căn cứ địa phương quân Phú Bổn…

Bên tai tôi dội lên tiếng la của người lính vừa cùng tôi vục tay vào dòng suối.

Dòng suối hiện ra như nguồn hạnh phúc cho những kẻ thất thểu gần mười ngày giữa núi rừng khô khốc. Tất cả đang lao xuống suối như bày thú đói lao vào con mồi bỗng sững lại vì tiếng la và nhìn theo bàn tay chỏ một lùm cỏ đen lù lù trôi tới. Giữa đống cỏ và đám lá khô bập bềnh hiện lên một đám tóc rồi một gương mặt đen kịt ruồi muỗi giòi bọ — một đầu người xám xịt nhớp nhúa.

Chiếc đầu theo dòng nước từ từ trôi trước mắt chúng tôi để về đâu không ai biết.

Cũng chẳng bao giờ chúng tôi biết chiếc đầu đó là của ai, bị cắt lìa lúc nào, trong tình cảnh ra sao…

Rồi ngay trước mắt tôi là một phụ nữ với mớ tóc rối mù phủ dài phía trước.

Sợi thừng quấn quanh ngực buộc chiếc xác lên một nhánh cây khiến người đã chết không được nằm yên mà phải đứng gục đầu với hai bàn chân lửng lơ chạm hờ trên mặt đất. Những vệt máu tím ngắt kết dính mấy mảnh áo tả tơi vào bộ ngực nát bấy vì vết đạn.

Chỉ hơn mười tiếng đồng hồ trước đây, chắc chắn người phụ nữ này không thể nghĩ về điều xẩy ra cho chị như tôi đang thấy. Có thể chị vẫn thấy cuộc đời đầy tươi đẹp vì đang xum họp bên chồng con giữa buổi tối mừng lễ Giáng Sinh, dù ở một tiền đồn heo hút trên mảnh đất Phú Bổn xác sơ này.

Dù sao chị cũng may mắn vì chồng con chị đã chia chung mọi điều với chị và hẳn đang ở bên chị dưới mấy nhánh cây không xa. May mắn hơn nữa là chị cùng chồng con rồi sẽ có một nấm mồ vì thân xác còn treo tại đây thay vì trôi trên một dòng suối.

Dù quá quen với cảnh chết chóc, tôi vẫn không thể dừng lâu giữa những xác người dựng đứng bao quanh.

— Không cách gì trốn khỏi được!

Đó là mấy lời ngắn ngủi của một thiếu tá Biệt Động Quân.

Chúng tôi quen nhau từ tuổi học trò và gặp lại sau nhiều năm xa cách giữa vùng núi Chư Prong sặc mùi tử khí. Thằng bạn hiền hoà học cùng lớp với tôi từ trường Thăng Long qua trường Văn Lang Hà Nội mấy năm 1950-1953 mang gương mặt cằn cỗi khó ngờ.

Ngồi bệt trên bờ hào, nhìn quanh lơ đãng, anh nói với tôi mà như đang nói với chính mình:

— Tao không sợ hành quân mà chỉ sợ lúc trở về. Những lúc đó tao chỉ muốn trốn mà… không cách gì trốn khỏi được!

Tôi không ngạc nhiên về sự muốn trốn khi một cuộc hành quân chấm dứt.

Không muốn trốn sao được khi biết chắc đang chờ phía trước là những gương mặt căng thẳng đón xem trong số người về còn có người thân của mình không?

Càng muốn trốn hơn nữa khi phải nhìn nỗi đau oà vỡ của những người vợ yếu đuối, những đứa trẻ ngây thơ thấy chồng, cha trở về trong gói poncho, nhất là lúc cả đám đông chan hoà nước mắt vây quanh người chỉ huy để cùng nhao nhao cất lên một câu hỏi như đang mê sảng:

— Thiếu tá ơi, chồng tôi đâu?

Chẳng ai cần trả lời nhưng những câu hỏi cứ vang lên như những lằn đạn kinh hoàng không một lằn đạn kinh hoàng nào giữa trận địa so nổi.

Một rừng hoang ký ức vây hãm tôi trên đoạn đường dài do câu nói bất ngờ của đại uý Trấn.

Tôi không tìm nổi lý do chính đáng cho việc cần xô mọi người vào những cảnh sống mà tôi đã gặp.

Không lý do nào đứng vững khi trút cả tràng đạn vào ngực một phụ nữ yếu đuối và lúc nạn nhân đã gục xuống lại dựng đứng cái xác dưới một nhánh cây. Người phụ nữ đó phải sống giữa một tiền đồn chỉ vì có chồng là lính địa phương quân.

Càng không có lý do nào đứng vững khi những đứa trẻ chưa quá 5 tuổi đầu vẫn bị bắn hạ và treo xác chỉ vì cha chúng là người cầm súng.

Chỉ những con tim gạch đá và những bộ óc ngập đất bùn mới tạo nổi lý do chính đáng cho các hành động này, nhất là những nạn nhân còn trở thành con số ghi dấu chiến công đã diệt bao nhiêu tên địch!

Nỗi khát khao nhỏ bé được cùng gia đình lo đón Tết mà người sĩ quan thiết giáp vừa thốt lên bỗng như vầng khói sương hư ảo. Ngay cái đỉnh đèo mà tôi vừa đứng bên anh cũng chìm dưới hình ảnh những xác chết ngổn ngang để xoá nhoà hẳn nét đẹp mà anh nhìn thấy. Cảnh sắc thiên nhiên không bao giờ thay đổi, nhưng tôi không thể quên những cuộc tàn sát từng diễn ra chính trên đoạn đường này, nhất là không thể quên những thân xác vào nhiều ngày tháng trước đã nằm gục theo mọi tư thế bên những gốc cây, những mô đất mà chúng tôi vừa bước qua…

Những hình ảnh đó đã trở thành đời sống Việt Nam do ý hướng của một con người mà anh Mặc Đỗ vừa nhắc tôi thực hiện số báo đặc biệt về con người ấy..

Lúc nhấc điện thoại liên lạc với các cộng tác viên, tôi nhớ lại mấy câu thơ “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua — Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà…” của Hồ Chí Minh mà đài Hà Nội truyền đi và bên tai vang lên câu nói của người tuỳ viên văn hoá toà đại sứ Mỹ vào dịp tiếp xúc với một nhóm cầm bút trẻ tại Sài Gòn mấy năm trước, năm 1964. Chưa bao giờ tôi nghĩ người Mỹ hiểu thấu hoặc ưu tư về tâm cảnh người dân Việt Nam , nhưng câu nói của người tuỳ viên đã khiến tôi chấn động thực sự. Ông ta hỏi: “Giới trẻ Sài Gòn nghĩ gì về nhân vật Hồ Chí Minh?” Bạn tôi, Vũ Ngọc Đĩnh, trả lời: “Hồ Chí Minh là người yêu nước, nhưng đã lầm đường.” Người tuỳ viên văn hoá mà đa số lớp trẻ Sài Gòn nghĩ là mù mịt về văn hoá Đông Phương đã lắc đầu nói ông ta không nghĩ vậy, vì theo ông ta, người yêu nước trước hết phải thương dân. “Hồ Chí Minh đam mê sự nghiệp của ông ta chứ không thương dân. Không thể bảo ông ta là người yêu nước!”

Kể từ ngày đó, tôi luôn cố tìm con tim rung động trước nỗi đau của đồng bào nơi những con người được tôn xưng là yêu nước và không ngớt thắc mắc về sự viện dẫn tình yêu nước để đẩy đất nước vào vòng lửa đạn với hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng triệu cái chết oan khiên đau đớn.

Ít ngày trước khi ghé Mang Yang, tôi ghé một quán nước gần khoảnh đất trống bên quận lỵ Lệ Thanh cũng là sân bóng chuyền của những người lính đồn trú gần đó và đám trai trẻ địa phương. Niềm vui quây quanh trái bóng tại đây đã biến một nhóm sáu chàng trai thành tâm điểm thu hút. Tôi gặp những chàng trai này khi họ vừa qua một trận đấu, đang ngồi với đám học sinh nhỏ ngưỡng mộ họ. Thấy tôi đeo máy ghi âm, cả nhóm đề nghị mở cho nghe một bài ca. Cuốn băng đang nằm trong máy của tôi chỉ ghi phần kết bản trường ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy. Tôi không tin đám trẻ mười tám, hai mươi sống giữa vùng gió bụi mưa mù này thích nghe bản nhạc, nhưng vẫn chiều ý. Không ngờ họ đòi tôi cho nghe lại, và hết thẩy đều như chết lặng trước từng lời ca. Rồi một chàng trai vừa chấm mấy giọt nước mắt trên gò má vừa xin tôi cuốn băng. Nỗi xúc động hiện trên từng khuôn mặt khiến tôi hứa sẽ trở lại vào tuần sau và tặng cuốn băng ghi trọn ba phần của bản trường ca thay vì cuốn băng này..

Tôi trở lại như đã hứa, nhưng quán nước bên đường chỉ còn là đống dấu tích tan hoang.

Đợt pháo kích bất ngờ vào buổi chiều ba ngày trước đã biến cả sáu chàng cầu thủ bóng chuyền, đám học sinh nhỏ và gia đình chủ quán thành tro bụi, khi họ đang ngồi quây bên nhau như thường lệ.

Các nạn nhân vừa được chôn cất ngày hôm trước.

Tôi quay ra xe như kẻ vô hồn, thay vì mở máy xe, đã mở đoạn cuối cuốn băng với những lời ca mà tôi ngỡ chỉ là tiếng nấc nghẹn của Thái Thanh:

Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ Việt Nam ơi!
Chúng con đã về khát khao hơi Mẹ
Chúng con xin thề giữ thơm quê Mẹ
Cuộc đời rồi phai tàn sau thế giới
Chỉ còn tình yêu của Mẹ mà thôi!

Mấy giọt nước mắt trên gò má chàng trai chỉ một lần thoáng gặp tại xó rừng mịt mù bụi đỏ như có ma lực thúc đẩy một nỗi bứt rứt khó tả. Tôi cứ thấy những giọt nước mắt đó khởi từ con tim đằm thắm của một tâm hồn nhân hậu chỉ hứa hẹn sự tốt lành. Những con tim và những hứa hẹn đó hẳn có ở nhiều nơi nhưng số phận dành cho tất cả chỉ là tro bụi.

Cuộc chiến tự nguyện

Và, những dòng chữ của Tô Hải hiện lên:

“Tôi đã thấy…Cả một xã không còn bóng đàn ông, trắng xóa khăn tang của các chị, các mẹ… Cả một đơn vị, một chuyến phà, một đoàn xe, một gương mặt, thậm chí một bà mẹ già còng lưng chở lính qua sông, mẹ Suốt, một tiểu đội con gái đêm đêm san đường, lấp hố bom, mới gặp mặt hôm trước thì hôm sau đã thành tro bụi. Đố ai tìm được cái xác nào sau khi bom B52 rơi trúng bến phà Xuân Sơn nhỏ bé ở Quảng Bình, ở ngã ba Đồng Lộc ấy! Bản thân tôi, khi trực tiếp gặp họ, tôi đều nghĩ: “Chắc đây là lần gặp… cuối cùng.” Và, quả là như vậy”. (HKCMTH – tr. 279)

Đó là quê hương Việt Nam trong cuộc chiến dài gần nửa thế kỷ mà chính người tự nguyện bước vào cuộc chiến như Tô Hải đã nhận định: “Với tôi cũng như với nhiều người được đọc, được nghe và có được tí chút độc lập suy nghĩ thì cuộc chiến chống Mỹ chẳng có gì là bất ngờ… Đâu phải nó nổ ra từ vụ hải quân tí hon Bắc Kỳ dám “đánh cú liều” vào tầu Maddox ở vịnh Bắc Bộ! Quần áo, mũ, giày, thắt lưng, bao đạn, lương khô…. tất cả là…Tàu! Kalachnikoff, T54, Sam I, Sam II, Mig 17 hay Mig 21…tất cả đều đến từ Matxcơva… Còn dân Việt Nam chỉ có…. người mà con người Việt Nam thì chỉ cần đứng trước hai chữ “xâm lược” là sẵn sàng, kẻ thù nào cũng… “oánh”!” (HKCMTH – tr. 266)

Nỗi đau

Cảm giác nhục nhã vì mang thân nô lệ khiến nỗi uất hận do cảnh sống bất công những ngày tháng trước vẫn chưa nguôi, dù chế độ thực dân Pháp đã chấm dứt từ đầu tháng 3-1945 và đất nước đã có một chính quyền tự chủ khi người Nhật buông súng đầu hàng. Cảm giác này khiến một thế hệ trẻ dễ dàng biến thành công cụ trong tấn tuồng lường gạt bi thảm mà nạn nhân gồm cả bản thân họ.

Tô Hải kể về cái ngày khởi đầu sa hố đó:

“Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, đăng đàn diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng… Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!

Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh như thế đó!

Sau này, loại thanh niên “yêu nước hồn nhiên” bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật dành tự do, độc lập cho đất nước!”

Và các nhà viết sử Nhà Nước Cộng Sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối.

Thực tế lúc ấy là…. chúng tôi có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau đó còn công khai tuyên bố GIẢI TÁN ĐẢNG của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh…. và cả “cố vấn” Bảo Đại nữa.

“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!

Tại sao Việt Nam không độc lập như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật Tân… mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù thì ít…. mà chém giết nhau thì nhiều?”… Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người âm mưu làm VUA của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà ở các nước, người ta đã có từ nửa thế kỷ nay rồi vì may mắn thay, họ không có Đảng Cộng Sản cầm quyền! Bi kịch lớn của triệu tấn bi kịch nhỏ chính là đây! (HKCMTH – tr. 424 – 425)

Bi kịch đã phủ trùm đất nước do lệnh truyền chém giết viện dẫn lý do “đế quốc Mỹ đang xâm chiếm miền Nam, đồng bào bị bóc lột, đày đọa”, dù nhiều người sắm vai trong tấn kịch luôn tái tê tự vấn: “Từ nay đến ngày “ngụy nhào… miền Bắc còn bao nhiêu xương rơi, máu đổ? Phía bên kia thì thằng Phát, thằng Đạt, những đứa em tôi; thằng Định, thằng Thọ, những bạn học của tôi … bao giờ sẽ trở thành món “thịt băm” trước cái quyết tâm “còn cái lai quần cũng đánh” của “ta”? (HKCMTH – tr.291 – 292)

Vì họ đã thấy không đế quốc nào xâm lược, không có ai bị đọa đày mà cuộc chiến đã khởi từ mưu đồ độc bá của chỉ một nhóm, thậm chí của chỉ một người:

“Không có ông Hồ, không có cái đảng này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em, họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt.” (HKCMTH tr. 388).

Mục tiêu thực sự của cuộc chiến đã được nêu hàng ngày bằng mọi lời lẽ có thể tóm gọn trong mấy câu thơ:

Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ!
Cho đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!
(Tố Hữu)

Không gì phi lý bằng phải đổ máu để tạo sự bền lâu cho một phe đảng và càng phi lý hơn là đổ máu để phụng thờ những kẻ xa lạ ở những góc trời mù mịt. Nhưng, nhìn rõ thực tế lại chỉ để bó tay đối diện với một tự vấn không kém đau xót: “…Rũ bỏ những nhận thức sai lầm, chịu nhận là mình đã lạc lối, kiên quyết giã từ cái chủ nghĩa nặng mùi xác chết ấy đi, sao nó khó khăn, vất vả đến thế?” (HKCMTH – tr. 388)

Đây là câu hỏi đã được đặt ra từ lâu và từng khiến bản thân tôi trong thập niên 1960 bị coi là côn đồ láo xược do đã gán cho các nhân vật đại danh của thế kỷ cái biệt danh “đồ chó”. Đến lúc này, tôi vẫn nghĩ bất kể lãnh phản ứng nào, tôi sẽ không bao giờ thay nổi thái độ từng có với những Bertrand Russel, những Jean Paul Sartre … Chữ “đồ chó” chính là chữ Sartre viết ra để gán cho ai không chịu cúi đầu trước các chính quyền Cộng Sản. Sartre gọi những người này là “đồ chó” vì họ đã chống lại một lý thuyết, mà theo Sartre, sẽ đem lại tốt lành cho đời sống và cũng theo Sartre, “đảng Cộng Sản không bao giờ lầm lẫn!”

Giữa thời điểm mà Staline đã lộ hình bạo chúa thủ tiêu hàng chục triệu nạn nhân vô tội; giữa thời điểm mà hồng quân Liên Xô chiếm đóng Budapest, treo cổ những người Hung yêu nước Imre Nagy, Pal Maleter, tàn sát những người Tiệp đòi hỏi tự do tại Praha, những công nhân Ba Lan nổi dậy tại Poznan; giữa thời điểm mà miền Bắc Việt Nam chưa xoá hết dấu vết tội ác Cải Cách Ruộng Đất, trong khi cuộc chiến đẩy hàng triệu người dân miền Nam vào cảnh vất vưởng trên đường chạy loạn với nỗi đau không ít người thân bị cướp đoạt mạng sống… mà có kẻ nhục mạ những người không muốn cảnh đó tiếp diễn là chó má thì không thể chịu nổi –– nhất là còn nhân danh giải Nobel, nhân danh hào quang trí thức đòi đưa ra xét xử những người ngăn chống các hành vi tàn sát đồng bào với lập luận đảng Cộng Sản Việt Nam đang bảo vệ chính nghĩa dân tộc và đời sống của người dân! Càng không chịu nổi khi chính Bertrand Russel, chính Jean Paul Sartre… đều phản đối các sự việc tại Đông Âu, nhưng lại bưng tai bịt mắt trước hàng ngàn vành khăn tang tại Huế, trước những xác trẻ thơ Việt Nam bị xé nát bởi đạn pháo, bởi mìn bẫy, trong khi từng ngày từng giờ ở khắp nơi vẫn đề cao từng câu nói của Russel như thánh chỉ, chẳng hạn “toàn bộ vấn đề với thế giới chỉ do những kẻ điên rồ và cuồng tín luôn tin là mình đúng!..” hoặc đề cao nỗi khát khao của Russel là “không có gì khác hơn tình yêu và lòng thương xót trước sự cùng khốn của con người!..”

Tôi chỉ thấy hiển hiện những kẻ cùng cực ngu si trước thực tế hoặc cùng cực xảo trá trong ý đồ mượn các sắc màu rực rỡ che giấu một thực chất tởm lợm và nhớ tới nỗi ô nhục của Russel năm 1940 khi bị người dân Mỹ đuổi khỏi ghế giáo sư một trường đại học New York do lối sống vô đạo đức, nhớ tới sự hằn học của Sartre với Raymond Aron do Aron vạch ra sự ngu độn đề cao chủ nghĩa Cộng Sản của Sartre. Có thể vì những điều này mà Russel luôn xuyên tạc để bôi bẩn mọi sự kiện dính tới người Mỹ và Sartre trút ra lời lẽ đê tiện với ai chia xẻ quan điểm của Raymond Aron. Và, tôi đã khẳng định chính các nhân vật đại danh ấy mới xứng đáng nhận cái từ “đồ chó” do Sartre viết ra. Bởi, đâu còn là người khi vì bất kỳ lý do nào đã cúi đầu tôn xưng kẻ gây tội ác bằng cách trút tội ác cho các nạn nhân, trong khi mọi việc xảy ra ngay trước mắt.

Tôi chỉ có thể đổi ý với Jean Paul Sartre vì cuối cùng, ông ta đã nghĩ đến những người Việt Nam khốn khổ phải đối đầu với mọi hiểm nghèo giữa biển cả, giữa rừng sâu để mong thoát khỏi cảnh sống địa ngục trên quê hương mình. Hành động cuối đời của Sartre có thể kể như ngầm chứa một câu tự thú đầy ý nghĩa rằng “kể cả là chó vẫn đáng quí hơn kẻ cúi đầu tuân phục Cộng Sản.” Sartre đã trở thành chứng liệu cụ thể cho lời phát biểu từ hơn 300 năm trước của William Penn về một chân lý không bao giờ thay đổi: “Lẽ phải luôn là lẽ phải ngay cả khi bị mọi người chống đối; lỗi lầm luôn là lỗi lầm ngay cả khi được mọi người tán trợ — Right is right, even if everyone is against it; and wrong is wrong, even if everyone is for it.”

Là người xa lạ và từng tôn sùng Cộng Sản, Sartre vẫn không thể dằn lòng trước gánh nặng oan khiên của người dân Việt Nam và phải công khai nhìn nhận nỗi nhục ngu si của bản thân mình.

Sartre hành động từ năm 1979 tức là tròn 30 năm trôi qua tính tới hôm nay.

Tại sao lại có tình trạng kéo dài nỗi đau xót như Tô Hải đã nhắc?

Tại sao chính những kẻ đã sống với cái chủ nghĩa nặng mùi xác chết ngay trên đất nước Việt Nam lại không thể thú nhận mình lạc lối dù ý thức rõ về sự lạc lối của mình?

Tô Hải gọi những trang viết của mình là hồi ký và ghi lại nhiều đoạn đời khởi từ 1945, nhưng nổi bật lên chỉ là nỗi dày vò trong tâm khảm của một người ý thức mình đi lạc mà không thể nào dừng bước. Dù viết về các lời lẽ gian trá hay hành vi tàn bạo của chế độ, dù viết về những kẻ ngu xuẩn tận cùng hay lưu manh ghê tởm, dù viết về toan tính của bản thân hay tâm tư của bè bạn, Tô Hải không bao giờ rời nổi nỗi đau đã thành cực hình vò xé tim óc. Đó là nỗi đau phải sống cuộc sống không còn là cuộc sống con người. Nỗi đau càng lớn hơn khi luôn phải gặp gỡ không ít kẻ mệnh danh trí thức vẫn vênh váo tự hào với cuộc sống đó.

Thực ra, những trang viết của Tô Hải và thực tế Việt Nam đã cho thấy không ít sự biểu lộ thái độ của nhiều người từng có tên trong giới sinh hoạt văn chương nghệ thuật…

Đó là những câu thơ viết lúc sắp giã từ cõi sống của những Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi:

Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?
Tôi, tôi người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong …

(Chế Lan Viên)

hoặc:

Tất cả người tôi còn nhiều bùn tanh
Mặt tôi nhuốm xanh, nhuốm đỏ
Tay tôi vương nhiều đồ bỏ
Nhiều dây nhợ tự buộc mình
Thôi! Xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần tàn ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn…
(Nguyễn Đình Thi)

Đó là những dòng chữ cũng viết vào lúc cuối đời của những Nguyễn Khải, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Minh Châu… hay các tác phẩm như Ba Người Khác của Tô Hoài, Ba Phút Sự Thật của Phùng Quán…

Chữ HÈN

Dù luôn mong có thêm nhiều biểu hiện như thế ở mọi người, Tô Hải đã không ngần ngại cho rằng tất cả đều chưa xa nổi chữ HÈN. Bởi những thái độ đã biểu hiện hay những tác phẩm đã có chỉ gói tròn trong mục đích phân trần mình đã trải nhiều ray rứt, không hề thanh thản khi cúi đầu nhận phận tôi đòi. Điều này không còn cần thiết, tương tự sự tố giác hay kết án bản chất phi nhân của các chế độ Cộng Sản.

Thực tế đã nói quá rõ rằng bất kỳ ở nơi nào hiện diện chủ nghĩa Cộng Sản thì ở nơi đó sự sống bị huỷ hoại. Không còn cần phải chờ nghe phân giải của Lâm Ngữ Đường về hậu quả tất yếu của việc thay đổi các quy luật diễn hoá tự nhiên như Marx hô hào hay chờ nghe phân giải về tính phi lý của chủ trương đấu tranh giai cấp đặt con người vô sản thành mục tiêu phụng sự thay thế cho con người.

Thực tế đã khẳng định bằng những tai hoạ mà chủ nghĩa Cộng Sản mang lại cho con người khắp thế giới từ cuộc Cách Mạng Vô Sản 1917 tới nay. Cho nên tố giác Cộng Sản hay phân trần về lý do trở thành công cụ đều vô nghĩa. Thực tế đã làm xong việc đó và đang khẩn thiết kêu gọi hành động vượt thoát mọi di họa mà Cộng Sản đã gieo rắc để đưa cuộc sống trở lại đúng vị thế cuộc sống con người.

Thực tế cũng nói quá rõ về tình trạng bị lường gạt bi thảm của người dân Việt Nam suốt đoạn đường lịch sử mở ra từ mùa Thu 1945 để tới nay vẫn dãy dụa trong ngõ cụt. Một thiểu số giành được quyền lực còn cố giữ quyền lực bằng cách ôm chặt cái chủ thuyết nồng nặc mùi xác chết, và những người đang biện bạch về hành vi dối trá từng làm trong quá khứ vẫn chưa từ bỏ vai trò công cụ lường gạt của mình.

Một chọn lựa cần có chưa hề xẩy ra, một đáp ứng đúng mong mỏi vẫn gần như vắng bặt.

Khi ghi lại nỗi đau riêng của bản thân qua cuộc sống cá nhân nhỏ bé, Tô Hải đã góp thêm chứng tích vào cái kho thực tế đang kêu gào thức tỉnh về một thái độ từng có và vẫn đang có để vùi dập con người giữa vô vàn tai ách. Bởi thái độ mà những Bertrand Russel, những Jean Paul Sartre bày tỏ từ nửa thế kỷ trước đây –– và chính Sartre đã từ bỏ — vẫn phổ biến trên đất nước Việt Nam .

Mù quáng và hèn mạt do những động cơ cá nhân tiếp tục là thực tế duy trì nhịp đập của những con tim ác thú. Không còn là tiếng than của một cá nhân cho chỉ riêng bản thân khi những lời này được cất lên:

“Tinh hoa đất nước giờ đâu tá?
Ai cũng hèn như tôi sao?…

Ai sẽ đưa con thuyền Việt Nam khỏi con đường vô định này, nếu những người hèn vẫn không dám nhận là mình hèn, không kiên quyết giã từ cái ngu dại, không lên án những gì mà mình làm tưởng là “vinh quang rực sáng” lại chính là “tội lỗi ngút trời”, không biết khuyên nhủ con cái chớ có dẫm vào vết chân đầy máu và nước mắt mà mình đã đi qua…

Phải kiên quyết giã từ cái quá khứ đầy vinh quang vô ích của mình. Chỉ có sự giác ngộ chính trị cuối cùng này mới giải toả được mọi nỗi đau.

Sự “trở cờ”, “phản bội” để “đi tìm một sự trung thành mới” như Jean Paul Sartre nói không ai dám làm ư? Vì còn… sĩ diện! Vì còn bị quá khứ níu kéo?

Bỏ một thứ tà đạo, một niềm tin mù quáng, vứt vào sọt rác cái chiêu bài hoen rỉ, mốc meo, chẳng khác gì ly dị một con vợ độc ác, chẳng yêu gì mình khó lắm sao? Sao rất ít “thức giả” dám tuyên bố công khai: “Tôi từ bỏ chủ nghĩa cộng sản?” (HKCMTH – tr. 411)

Sợ để tồn tại

Những lớp lớp cá nhân Tô Hải qua Hồi Ký Của Một Thằng Hèn dù có đáng thương mức nào, đáng tội nghiệp tới đâu thì cảm xúc xót thương, tội nghiệp dành cho họ sẽ hoàn toàn vô ích. Bởi nỗi đau mà Tô Hải gánh chịu không phải nỗi đau riêng của Tô Hải, không phải hậu quả chỉ đến với một cá nhân do những chọn lựa của bản thân mà chính là một nét thực tế biểu hiện cái thân phận oan khiên mà dân tộc Việt Nam đang gánh chịu. Thực tế này khiến nỗi đau tăng gấp ngàn vạn lần so với nỗi đau bị dập vùi, khi không thể chối cãi rằng cái thân phận oan khiên kia sở dĩ đã có chỉ do cái HÈN và NGU của nhiều thế hệ.

Diễn trình lịch sử từng cho thấy hàng loạt dân tộc lâm vào những đoạn đường trở thành nô lệ, bị buộc phải mang thân phận tôi đòi với cuộc sống súc vật để dấy lên nhiều cảm xúc xót thương, chia xẻ. Nhưng không vì thế mà bài bác nổi thái độ miệt thị những kẻ vì mưu cầu, ham muốn sẵn sàng quỳ gối trước bả lợi danh, sẵn sàng nói không thành có để giúp hoàn tất một ý đồ lường gạt, nhất là tự mãn về những thủ đoạt của bản thân bất kể do đó đã gieo tai rắc họa cho đồng loại.

Con người đáng được thương cảm khi thất thế cùng đường bị dồn vào cảnh sống tối tăm, nhưng phải bị nguyền rủa, coi khinh khi tự nguyện khoanh tay cúi đầu bước vào cảnh sống tối tăm đó. Cảm giác nhức nhối mà những dòng tự sỉ mạ của Tô Hải khơi lên nơi người đọc chính là cảm giác này khi đối chiếu với giai đoạn lịch sử mở ra cho đất nước Việt Nam từ giữa thế kỷ trước.

Cái NGU đã mở đường xâm nhập cho một tà thuyết trong khi cái HÈN đã giúp tà thuyết đó mặc tình thao túng và vẫn vạch đường chỉ lối buộc cả dân tộc phải noi theo đến giờ này. Thực tế không thể phủ nhận là không riêng cá nhân này hay cá nhân khác lâm cảnh trầm luân, tủi nhục mà là toàn thể dân tộc đã rơi vào một ngõ cụt thảm thương do cái lỗi lầm HÈN, NGU mà nhiều thế hệ đã mắc.

Cho nên thay vì bày tỏ cảm giác tội nghiệp xót thương cho cá nhân này hay cá nhân khác, cần nhìn thẳng vào nỗi nhục tự biến mình thành công cụ tôi đòi, nỗi nhục vận dụng tới tận cùng khả năng trí óc để ngụy biện cho sự tình nguyện khom lưng uốn gối là thức thời — theo kiểu Nguyễn Tuân với câu nói từng được lập lại “phải biết sợ để tồn tại.”

Vì bất kể lý do nào, việc tránh né nhìn thẳng vào các nỗi nhục này chỉ kéo dài thêm thời gian giam hãm đất nước trong ngõ cụt để sẽ biến nhiều thế hệ tiếp nối thành những đàn lũ súc vật…
Bởi hiểm hoạ chôn vùi cuộc sống lúc nào cũng đầy rẫy nhưng nặng nề hơn hết luôn là động lực NGU, HÈN sẵn có nơi mỗi con người.

Tấn thảm kịch diệt chủng Campuchia thời gian 1975-1979 chính là lời khẳng định về tác hại kinh hoàng của các động lực này. Cái tên Pol Pot tới nay luôn gợi sự ghê tởm, nhưng vẫn phải công bằng nhìn nhận ý hướng phụng sự xã hội của Saloth Sar khi còn là một sinh viên trường EFR — École Francaise de Radioélectricité — tại Paris thuở 1949-1953. Thiếu ý hướng này, Saloth Sar sẽ không gia nhập đảng Cộng Sản Pháp, không thể nghĩ đến giai cấp đấu tranh và mơ tưởng về một xã hội cộng sản trong sáng, coi hết thẩy người sống tại thành thị đều là kẻ thù cần tiêu diệt theo chủ trương đã công khai phổ biến là chỉ cần giữ lại một phần ba dân số.
Vì thế năm 1975, khi đổi tên thành Pol Pot và nắm chính quyền, Saloth Sar đã tức khắc tiến hành cuộc diệt chủng tàn khốc với đối tượng không chỉ là thị dân mà là mọi giới tu sĩ, trí thức… Tiêu chuẩn trở thành tử tội đơn giản tới mức ngoài tính thành phần xã hội, chỉ cần đeo kiếng hoặc có bệnh là đủ để đem ra rút lưỡi hoặc dùng búa đập vỡ sọ, bất kể già nua hay trẻ nít.

Theo Pol Pot, đời sống chỉ tốt lành khi con người tham gia sản xuất nên kẻ bệnh hoạn, tật nguyền hoặc bất thường như mắt phải nhờ kiếng mới nhìn rõ… đều thiếu điều kiện tham gia sản xuất nên là thứ ký sinh cần loại trừ.

Hai triệu mạng sống đã bị huỷ hoại do cái chủ trương man rợ điên cuồng này và không thể nói khác về nguồn gốc của nó ngoài động lực NGU và HÈN.

Ngu tối đã khiến lao đầu xuống đáy vực mà vẫn tự hào đang nhàn tản dạo mát giữa đồng xanh, trong khi rũ liệt dưới sức khống chế của hèn mạt thì không thể đón chờ tương lai nào khác ngoài sự tự biến thành con mồi cho mọi dã tâm xâu xé.

Con đường ngu tối mà Pol Pot mở ra trên đất Campuchia chính là con đường đã mở ra cho đất nước Việt Nam từ giữa thế kỷ trước, và tình trạng rũ liệt trong vòng vây hèn mạt không còn là điều ngờ vực.

Chủ trương xây dựng “Xã Hội Cộng Sản Nông Thôn Trong Sáng” chỉ là sự lập lại những chủ trương Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Thương Nghiệp và nhiều chủ trương khác của Cộng Sản Việt Nam với điểm khác biệt duy nhất là không cần che đậy bằng hình thức pháp luật vô pháp luật.
Số nạn nhân bị cướp đoạt mạng sống tại Việt Nam nếu tính từ năm 1945 chắc chắn gấp bốn, năm lần số nạn nhân tại Campuchia.

Giữa hai vùng đất đau thương này chỉ Campuchia có thể đang khởi đầu trở lại đoạn đường phục hồi sự sống còn Việt Nam vẫn nằm trong ngõ cụt giữa những bức tường NGU – HÈN sừng sững khắp nơi.

* * *

Những trang cuối hồi ký của Tô Hải kể lại chọn lựa cuối cùng của hoạ sĩ Dương Bích Liên năm 1988.

Họa Sĩ DƯƠNG BÍCH LIÊN

Dương Bích Liên quyết định rời khỏi đảng Cộng Sản mà ông tham gia từ 40 năm trước, rồi đốt tất cả tác phẩm và tuyệt thực cho đến chết. Bên cạnh xác của ông chỉ còn duy nhất một bức chân dung tự họa chưa hoàn tất với cái tên Ngõ Cụt.

Chọn lựa của Dương Bích Liên là chọn lựa của hàng loạt người Nga vào thời điểm 1991-1992, sau khi chế độ Cộng Sản Nga sụp đổ từng được nữ ký giả Svetlana Alexievitch ghi lại trong tác phẩm Ensorcelés par la mort. Chứng tích từ những người tự tử sưu tập được cho thấy tất cả đều không chịu đựng nổi nỗi dằn vặt đã vì ngu hèn tự biến thành công cụ bị lường gạt, bị sai phái và bị hành hạ. Một sinh viên vừa hoàn thành bản luận án tiến sĩ về chủ nghĩa Marx đã lao khỏi cửa sổ từ tầng lầu 11. Bản luận án còn lưu lại cho thấy mỗi trang đều bị gạch chéo với những chữ lớn viết bằng mực đỏ: Lừa gạt, khoác lác, xảo trá…

Tuy cùng chọn cái chết nhưng nỗi đau của những người này không nặng nề như nỗi đau của Dương Bích Liên. Bởi Dương Bích Liên không chỉ đối diện riêng với cảm giác hổ nhục vì ngu hèn của bản thân mà còn đối diện với tương lai mù mịt của đất nước. Anh sinh viên Ivan Ivachovest có thể hoàn toàn thanh thản khi phóng qua khung cửa sổ tầng lầu 11 vì cái thời của những lời lẽ lường gạt trên đất nước Nga đang lùi vào dĩ vãng và cái chết chắc chắn sẽ chấm dứt nỗi hổ nhục vì ngu hèn của bản thân anh. Với Dương Bích Liên, suốt thời gian dài dặc hành hạ thân xác bằng quyết định tuyệt thực vẫn phải từng giây đối mặt với cảm giác tuyệt vọng vì cảnh ngộ đất nước nằm trong ngõ cụt. Cảm giác này không hề thay đổi hay giảm sút cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vì vây quanh vẫn là những bức vách Ngu Hèn cao ngất. Đến lúc này những bức vách vẫn hiển hiện để thúc đẩy tâm trạng dày vò tự sỉ mạ, tự lăng nhục chua xót “cái Hèn vẫn bao trùm nhiều khía cạnh, nhiều trang đời, nhiều suy nghĩ của tôi…” — như Tô Hải đã ghi lại.

* * * * *

Tự nhiên, tôi bỗng nhớ tới khung cảnh kinh thành La Mã bốc cháy trong tác phẩm Quo Vadis của Henryk Sienkiewicz và thấy những trùng hợp kỳ lạ với hiện trạng Việt Nam.

Giữa thập niên 60 của thế kỷ công nguyên đầu tiên ấy, những người nghèo khó La Mã hướng về ngọn đuốc sáng Yêu Thương đã bị nhìn như kẻ tử thù bởi triều đình của một bạo chúa.

Gần như không có cách biệt khi so sánh thân phận những người nghèo khó ấy với 80 triệu con dân Việt Nam hiện nay.. Cũng tương tự, nếu so sánh tập đoàn lãnh đạo Việt Nam với triều đình Neron thuở đó.

Neron luôn ngùn ngụt tham vọng biến mình thành kẻ vĩ đại bậc nhất trên mặt địa cầu tới mức thản nhiên hạ sát cả vợ, cả mẹ để giảm bớt cản trở trong nếp sống xa hoa tàn bạo.. Con người phi nhân tới mức đó lại được một đám cận thần tung hô, tôn xưng như thần thánh và sẵn sàng tuân theo mọi lệnh chỉ. Vì thế, khi Neron muốn tìm cảm hứng nhìn lửa cháy để tạo một tác phẩm nghệ thuật mà y tin sẽ vượt xa các tác phẩm lẫy lừng Illiade và Odyssée, đám cận thần đã dâng sáng kiến hoả thiêu La Mã. Toàn bộ kinh thành bốc cháy khơi dậy sự giận dữ trong quần chúng, sự giận dữ mà Neron và đám cận thần không ngờ tới. Kế sách đối phó được đề ra là lập tức rao truyền chính đám người nghèo khó theo chúa Jesus đã nổi lửa và cái triều đình ác thú ấy ban lệnh “ném ngay lũ Thiên Chúa Giáo cho sư tử.”

Cơn uất hận vì cơ ngơi bị huỷ hoại, người thân bị chết thảm đã khiến từng đám đông cuồng nộ trở thành hung thú lao vào tàn sát những kẻ cũng là nạn nhân như mình theo lệnh truyền của chính các thủ phạm gây tội ác. Đây đúng là cảnh đã kéo dài trên đất nước Việt Nam từ 1945 qua mọi biến cố do chỉ hai động lực Ngu – Hèn. Cái Ngu đã khiến nhiều thế hệ lao vào xâu xé lẫn nhau bởi không nhận chân nổi thủ đoạn lường gạt của một bạo chúa, đồng thời cái Hèn đã liên tục tạo thêm sức mạnh cho bạo chúa mặc tình thao túng. Ai cũng dễ dàng nhận thấy nếu không có những Tigellinus và đội ngự lâm quân, không có những Chilon Chilonides … thì dù Neron có ba đầu sáu tay cũng không thể gieo tai rắc hoạ, không thể chỉ một giây phút phù du thiêu hủy cả một kinh thành…

Chilon Chilonides

Khác biệt giữa hai thảm cảnh La Mã thuở nào và Việt Nam hiện nay là La Mã có sự hiện diện của thằng hèn Chilon Chilonides. Thằng hèn Chilon đã nhúng tay vào đủ thứ nhơ nhuốc, bạo ngược để được trở thành cận thần của bạo chúa. Thằng hèn Chilon cũng là kẻ đi ban bố lệnh truyền “ném bọn Thiên Chúa Giáo cho sư tử”. Nhưng, chính thằng hèn Chilon đã đứng thẳng, vươn tay chỉ vào giữa mặt Neron, cáo giác kẻ chủ mưu đích thực vụ đốt phá kinh thành là ai.

Một thời tôi đã bị cuốn hút tới mức đọc đi đọc lại nhiều lần hai chương Quo Vadis nói về giây phút cuối cùng của thằng hèn Chilon Chilonides — một chương chấm dứt với sự thản nhiên trước cực hình rút lưỡi để được đứng bên đám người nghèo khó vẫn giữ vững nhịp con tim chan chứa tình người và một chương chấm dứt với nụ cười mãn nguyện cùng những dòng nước mắt đón nhận niềm vui của nạn nhân vào giây phút lìa đời.

Nhưng vượt lên trên hết vẫn là hình ảnh thằng hèn Chilon đứng thẳng, vươn tay chỉ vào giữa mặt bạo chúa, hình ảnh ghi lại bước khởi đầu sự cáo chung của một triều đại man rợ ghê tởm để những con tim của đám người nghèo khó La Mã đang bị treo trên thập tự giá, bị quăng vào móng vuốt ác thú, bị moi gan rút lưỡi… tiếp tục gửi tình Yêu Thương tới khắp năm châu.

Ý nghĩ cuối cùng dấy lên từ những trang “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” lại là sự trở về với một thằng hèn trong hình ảnh một ước mơ.

Mong sao sớm xuất hiện tại Việt Nam những thằng hèn Chilon Chilonides!

Virginia, March 09, 2009

UYÊN THAO

** * * * * * * * * * * * * * * * *

Tiểu sử cực thiệt thà
(do chính nhạc sĩ Tô Hải viết ngày 24 tháng 8, 2007)

Hôm nay tớ xuýt đứt hơi, xụn lưng vì nhạc Rap, vì cô “phò-ren” (friend) Ho (?) dọa đến học làm rap-pơ. Tớ quá lo lòi cái dốt ông già. Nên vội vã mang sáng tác ra thực nghiệm! Ai ngờ đâu bịa nó ra là một chuyện. Còn thực hành nó mới khó làm sao. Quả rap-pơ phải vất vả biết bao. Vừa phải hát, vừa phải lộn, phải nhào… Không có sức chỉ có mà … củ tỏi! Thế mới biết vì sao Rap nổi trội: Một bé Kim bỗng sáng chói bầu trời. Được tán dương trên báo chí, trên Đài. Môt thần tượng của các phăng (tê) âm nhạt (à quên âm nhạc). Thôi thì đã định nổi danh bằng Rap, Tớ cũng liều, nhưng chỉ viết mà thôi! Lấy Tình Yêu, Hôn Hít… làm đề tài. Thề đến chết không dám làm ráp sỹ. Biết đâu đấy sẽ có người để ý, lấy vài bài trên blốc tớ hát chơi. Và biết đâu có nhà báo, nhà đài…tung lên sóng, lên khuôn thì thật.. tuyệt! Bạn thấy đấy, hôm nay dù không viết Rap số 3 nhưng quen viết có vần. Nghề viết Rap tớ đã bị nhập tâm. Nên tiểu sử tớ cũng thành bài…Rắp!

Tiểu sử tớ rất chi là “phức tạp”. Chỉ xin khai tóm tắt một vài dòng. Còn các bạn trẻ có tin hay không, Thì già này cũng đành lòng cam chịu!…

Tớ sinh ra tháng 9 năm Đinh Mão. Tính đến nay (81 tuổi ta.)! Sự học hành rất thiếu thốn, qua loa. Vì Đế Quốc chỉ cho học vừa đủ. Một cái bằng ông tú chưa hoàn thành (tú tài 2 chưa có!) Có nghĩa là bằng trình độ học sinh Lớp 11, nên tớ dốt hoàn dốt. Không những thế tớ cả đời bị nhốt: trong trường sơ (soeur), trường đạo, trường giòng. Ở gia đình tớ lại bị cấm cung. Cấm đủ thứ, trừ việc đi học nhạc… Đủ các món nào xướng âm, hòa thanh, sáng tác…Tớ chán quá nên bỏ ngang tìm đọc, đủ thứ văn chương, triết học hầm bà làng… Từ Von-te, Ban Dăc, đến Sa-Găng. Nên ảnh hưởng đủ thứ ba lăng nhăng trong đầu óc.
Gia đình tớ, một gia đình công chức. Suốt cả đời hầu ngoại quốc kiếm ăn…
Nên sau này từ cách mạng 45, được xếp loại là gia đình theo “Địch” ! Cá nhân tớ sau này trong lý lịch: Ghi thành phần “tiểu tư sản” rất to.

Có nghĩa là luôn chao đảo, mơ hồ, kém “lập trường” dù đã bỏ nhà theo cách mạng! Dù đã được kết nạp Đảng rất sớm! Dù có vài trăm sáng tác đựoc khen.
Tớ sống được vượt qua nhiều thành kiến. Nhờ làm ăn tử tế, nhờ sáng tác liên miên. “Tuần chay” nào cũng có nuớc mắt đổ liền. Chiến thắng nào chẳng có tên thằng tớ.
Cho đến ngày 30 tháng tư năm đó. Tớ được về Thành phố Bác Hồ… Thì tớ bỗng giật mình rồi nhận ra, coong của mình chính là công con cốc. Cái tên mình chỉ gắn độc môt bài “Nụ cười sơn cước” viết từ thuở 20. Còn tất cả… thế thời đã… xếp só!
Tháng 9 mồng 2, nói chung là “ngày giỗ”. Đựợc lôi ra để “cúng cụ” mà thôi. Chiến tranh qua đi, Nhạc của tớ hết thời.. Tuổi của tớ 60 không còn kịp “cưa sừng làm nghé”. Gặp thời thế, thế thời phải thế. Tớ xoay sang nghề dịch sách kiếm ăn… Sách tớ dịch sáu cuốn in chạy ầm ầm. Tớ sống khỏe cho đến ngày… hưu trí.
Về âm nhạc? Vì còn là nhạc sỹ, một vài năm tớ xuất hiện vài lần… Công xéc tô, sô nát theo com-măng… Mong vực dậy nhạc thính phòng, giao hưởng. Nhưng tiếc thay, tất cả là ảo tưởng. Vì thời nay có lẩm cẩm có điên khùng. Mới vùi đầu trong tổng phổ suốt năm để viết ra những thứ chẳng ai nghe ai dựng! Thế là tớ im re,tớ chịu đựng. Kiếp sống nghèo nhờ vợ bán bánh mỳ. Thêm vào lương hưu trí cứ teo đi…Tớ quyết tâm ẩn danh cho đến chết.
Nào ai ngờ gặp thời Internet. Tớ tiêu sầu bằng các trang web đủ mầu! Đang chán phè các câu truyện đâu đâu trên Niu uých, trên Lơ poăng, trên Lô-xờ-ăng gơ lét…Thì gặp ngay một ông cụ blốc blếc. “Bạn đánh nhau” của tớ từ khi xưa. Tớ quyết định phen này làm blôc-gơ.
Mong giúp đỡ lớp trẻ bằng lý thuyết, bằng thực hành, bằng kinh nghiệm, cuộc đời. Và trước mắt tớ chú trọng đề tài vào nhạc rap, đang là nhạc thời thượng. Tiểu sử tớ viết ra mà phát… ngượng. Nhưng cũng xin lớp trẻ hãy luợng tình…
Tin? Không tin? Tùy mạng mỡ của mình. Muốn biết thêm xin cứ đến building Miếu Nổi hỏi thăm tớ chính danh là Tô Hải./.

**************
Lại Cái Chuyện Nụ Cười Sơn Cước
Tô Hải

Hôm nay, ngồi vào computer thấy mất tiêu đâu bài hát này, phục hồi lại để người nghe bản chính gốc thì lại mất tiêu đâu môt phần chính của bản thuyết minh. Đành viết lại có bổ xung thêm một số đau khổ mới khi vào Google gõ cái tên tớ và tên bài hát đó.. vì những bài tán láo về nó.
Rằng thì là: 1-Tớ cầm ghi ta hát lên (chứ không phải “viết lên” như cô bé Kim -rap-pơ tuyên bố viết (?) nhạc rap trên Tinhvi đâu?) Cái ngày đông rét mướt năm đó Tây nó đánh dữ dội lắm… Bộ Tư Lệnh III mà tớ làm “lính kiểng” lúc đó phải rút vào tận Kim Bôi (Hòa Bình). Tớ đóng quân trong nhà một cô con gái có tên Đinh thị Phẩm, 24 tuổi đời. Thích thì có thích nhưng chưa biết “tán gái” mà chỉ biết làm thơ, làm vài câu thơ rồi ngâm nó lên theo kiểu riêng của tớ gọi là ca khúc (như các cụ ngày xưa khi hát “Chèo lên trên núi thiên thai…”ấy mà.) Thế là, trước khi rời rừng núi về học Lục Quân Trần Quốc Tuấn tớ muốn nói lên mối “tình câm” của mình bằng … vài câu thơ có giai điệu … Thế thôi! Như tớ đã viết trong bài “Khai lý lịch thật thà” trên blog, tớ là một kẻ đã bị tiêm nhiễm từ bé bởi những bài ca ở trường sơ, trường giòng, rồi sau này, làm “sói con (“louveteau), “hướng đạo” (scout) bị các thứ âm nhạc đủ loại nó ăn sâu vào đầu óc, vào trái tim. Tớ hát và thuộc lòng đủ thứ, từ a capella nhà thờ “Gloria in excelsis đê..ê,ề…ồ”, đến “Laissez moi vous aimer”, “Oh! Rose Marie I love you!” “But where are you?” rồi đến đến cả “Maréchal nous voilà” (thời chính phủ Vichy) sau đó là Aikoku”,”Shina no yoru” (thời Nhật lật Pháp). Nghĩa là tớ hát tất cả, thích đủ thứ âm nhạc chứ chẳng bao giờ chú ý đến cái “nhời” nó nói cái quái gì. Tóm lại tớ là một thanh niên yêu nước, ghét Tây, mê âm nhạc (mélomane)”…không có định hướng! Cho nên, sau này, đi lính, bí bài hát cho bộ đội nghe, tớ cứ “bịa”ra đủ thứ ca khúc, rập khuôn theo các bài hát đã hát để tự hát, tự xuất bản bằng mồm. Sáng tác của tớ đều ảnh hưởng của Nhà thờ, của Tây, của Nhật và đặc biệt của Mỹ với Bing Crosby, Bob Hope,.. với các nhịp điệu, tiết tấu của swing,blues … rất thịnh hành những năm 40. Tớ với Ngọc Bích là “vua swing”ở sư đoàn 304 và Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn… Chẳng có biết dân tộc, hiên đại là cái quái gi! Ấy vậy mà bài nào mới “bịa” ra cũng được “quân chúng” hoan nghênh ra phết! Những lần xúc cảm về chuyện gì tớ đều “bịa” ra những “câu thơ có giai điệu”, nhưng theo một khuôn khổ, hình thức nhất định mà tớ nhặt nhạnh được trong quá trình hát lên cho mình, cho bạn bè, đồng đội nghe…cho vui. Thế thôi!
Nào ngờ…”Nụ cười sơn cước” lại được hoan nghênh đến thế và Ngọc Bích, Canh Thân, Hoàng Thi Thơ.. khi trút áo “lính cụ Hồ”, thôi làm “đồng chí”, đã mang nó vô thành (dân gian gọi là “dinh-tê”) phổ biến khắp nơi. Để cho nó được chấp nhận bởi các cơ quan kiểm duyệt, họ xếp tớ vào loại tác giả tiền chiến! Và từ đó “Nụ cười sơn cước”, một trong những “tình ca thời kháng chiến” của bọn tớ sống nhờ cái mác nhạc tiền chiến đến ngày nay! Lại còn cái chuyện “địch” thu đĩa 78 vòng (chung với “Dư âm”của Nguyễn văn Tý) nữa chứ! Tớ bị “đánh hội đồng” khắp nơi, nhất là tiền bản quyền thu đĩa (đúng một chỉ vàng) được gửi từ trong thành ra lại rơi vào đúng tay một CUV cùng chi bộ, “đông chí” (nhưng không đồng hướng) đã nhận được từ tay bà chị hắn chuyên làm kinh tài cho khu ủy Liên khu III, ra vào Thành như đi chợ! Tớ không mang tội “liên hệ với địch” là nhờ có hàng trăm “bức tranh cổ động bằng âm thanh” động viên lính chiến đấu trường kỳ có hiệu quả! Từ đó một loạt bài “thiếu tính chiến đấu”của tớ (sau này có được thu thanh trong cuốn băng cát-xét “Nửa trái tim tôi” mà tớ đã chuyển sang CD nhưng chưa biết cách làm thế nào để các friends nghe thử ???) đều bị cấm bằng mồm, mặc dầu các tướng, tá lớn, bé trong Quân Đội vẫn nhớ tớ với những bài hát đã làm các vị ấy xúc động một thời. (Tháng 5/007 vừa qua, có một ông tướng mê nhạc của tớ, trước lúc qua đời, có thu thanh 3 bài của tớ trong một đĩa VCD, và dặn lại rằng “Thôi Nụ cười…” vì cần giới thiệu những cái “cấm” khác hơn – Ông tướng này chỉ lên có đến Thiếu thôi, có lẽ vì cái “lập trường văn nghệ” của ông ta thiếu …vững vàng chăng? (VCD này tớ đang giữ nhưng cũng “ngu lâu” về computer nên chả biết làm sao để các friends nghe và xem đươc! Có ai đến giúp được tớ không?)
Trở lại với “Nụ cười sơn cước” Nó ra đời như thế đó. Tình thì có, nhưng mà là tình câm, tình nhát (vì sợ kỷ luật) đã có gì đâu mà nhiều người viết về bài hát này cứ thêu dệt ra lắm chuyện, thậm chí còn đặt cả những cái tên Lò thị nọ, NôngThị kia ra rồi thay cả địa điểm, nơi sinh, ngày sinh của nó nữa mới khổ tớ chứ! Làm bà xã cứ trách tớ”: “Có thế mà anh cứ giấu em!” Tớ định kiện báo vì “vi phạm luật báo chí “xâm phạm đến đời tư không được phép” của tớ mấy lần. Nhưng đọc đi, đọc lại thì thấy: họ đều xuất phát từ tình yêu đối với một sáng tác của tớ đã bao năm tưởng chết nay lại hồi sinh, từ tình yêu đối với tớ. Đặc biệt có nhiều đồng đội cũ, nay về già, nghĩ về quá khứ tươi đẹp đã qua, đã viết về “Nụ cười sơn cước” như để tranh thủ viết về một thời một thanh xuân đẹp nhất của chúng tớ mà thôi. Vì vậy tớ lại lặng im … (trừ một lần tớ lên tiếng phản đối và được xin lỗi và cải chính trên báo An Ninh Thế Giới do quá nhiều điều bịa đặt không có lợi cho gia đình (cũ và mới) của tớ mà thôi).
Tuy nhiên cái “sự tam sao thất bản” thì kiện ai? Hội Nhạc Sỹ VN, rất nhiều Nhà Xuất Bản đã công bố bản chinh thức của tớ trên các “Tuyển tập ca khúc trữ tinh”…”Ca khúc vượt thời gian”… đăng đi, đăng lại trên báo chí… Vậy mà, các ca sỹ thời nay vẫn không chịu hát theo bản nhạc của tác giả! Trừ 2 người là Lê Dung và Đông Đào. Còn trên Tivi, trong các tiệm cà phê-ca nhạc, họ tha hồ “phiêu”bất tử, ngắt câu, ngắt đoạn tùy thích, nhất là bôi mỡ, đánh bóng các nốt nhạc nghe đến rợn người (Ánh Tuyết). Ngay trong câu “Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời…” của tớ, bà Lê Dung vẫn còn “nhịu”ra “mơ” (?) hơn ở ngoài trời”.. nữa là! Huống hồ những vị ca sỹ không biết xướng âm thì làm sao sửa được những gì đã trót hát sai qua bản… truyền khẩu. Tớ chán quá nhưng lại nghĩ: Ôi dào! thời buổi này họ nhắc đến tên mấy ông nhạc sỹ già đã là may lắm rồi! Cứ kênh kiệu mãi chúng nó cho cả tác phẩm lẫn người vào sọt rác lịch sử như đã từng cho cả hàng ngàn bài ca ra đời cái thời “Tiếng hát át tiếng bom” cho biết mặt! Thua! Thua! Xin chào thua!

Tiện đây xin post lên bài báo của Thanh Niên tương đối chính xác vì có sự thông qua của “khổ chủ”:

Nhạc sĩ Tô Hải với hồi ức buồn Nụ cười sơn cước
28/05/2007 – Hà Đình Nguyên

Nhân dịp đến dự lễ trao tặng xe lăn các tướng lĩnh và cán bộ có công do Báo Quân Đội Nhân Dân tổ chức, tôi thật sự xúc động khi thấy một ông già quân phục chỉnh tề, huân chương đỏ ngực, chống gậy lập cập lên nhận xe. Đó chính là nhạc sĩ Tô Hải, tác giả ca khúc nổi tiếng một thời” Nụ cười sơn cước”… Sau buổi đó, tôi đã đến gặp ông tại nhà riêng.
Nhà của ông là căn hộ tập thể tận tầng lầu thứ 11 của chung cư Miếu Nổi (Q.Bình Thạnh – TP.HCM). 81 tuổi, đi đứng khó khăn do từng bị hoại tử khớp xương hông phải thay xương chậu, xương đùi bằng chất liệu titan do Pháp chữa trị… vì những lý do đó nên nhạc sĩ Tô Hải rất ít xuất hiện nơi này, nơi nọ.

Thế nhưng, dù không đi đâu ông lại biết rất nhiều những sự kiện đang diễn ra trên toàn cầu. Với khả năng thông thạo 3 ngoại ngữ, mỗi ngày ông dành từ 10 đến 12 tiếng để đọc tin tức trên internet. Cô Lâm Ái, vợ ông, khoe: “Chỉ một mình anh ấy đọc nhưng sau bữa cơm trưa hoặc tối là tôi và con gái Tô Lâm Phượng (sinh năm 1993) đều biết hết mọi chuyện xảy ra trên thế giới…”.

*Thế ông không còn cảm hứng để viết nhạc?
- Đã hơn 20 năm nay tôi không còn làm âm nhạc, vì âm nhạc của lứa chúng tôi không còn đất sống. Thời buổi bây giờ chẳng ai sử dụng ca khúc của lớp già chúng tôi: Chu Minh, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Hồ Bắc, Doãn Nho… trừ những ngày lễ lạt gì đó họ mới hát lại! Bọn chúng tôi trở nên lạc lõng, hỏi tên chẳng ai biết. Thôi thì, tự an ủi là bọn tôi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với một thời kỳ lịch sử.

* Ông đến với âm nhạc từ lúc nào?
- Thời tiểu học, tôi học hát và tham gia ban đồng ca Saint Joseph, từng đoạt giải thưởng âm nhạc Chim Sơn Ca của Hướng đạo sinh toàn Đông Dương. Đang học dở tú tài 2 thì tôi nhập ngũ ngày 19.8.1945. Tôi viết ca khúc đầu tay “Trở về đô thành” (1946) rồi “Nụ cười sơn cước” (1947) đều do bản năng và mê nhạc mà thành. Tôi luôn tự cho mình là một người lính làm nhạc cho mình, cho đồng đội mình hát.
Chỉ đến năm 1951, khi về Đoàn văn công Khu 4, tôi có dịp gặp nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Được ông động viên khuyến khích, tôi thấy tự tin hơn để chuyên tâm vào sự nghiệp âm nhạc. Khi hòa bình lập lại, tôi được tham dự lớp sáng tác 18 tháng đầu tiên của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (1957-1958) do các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên dạy. Cùng lớp với tôi có các nhạc sĩ: Trọng Loan, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Lưu Cầu, Vũ Trọng Hối, Lương Ngọc Trác, Văn Chung, Nguyên Nhung, Vân Đông…
Năm 1958, tôi là người đầu tiên viết bản giao hưởng đại hợp xướng gồm 4 phần (thể loại cantale) “Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy”. Dạo ấy, ở nước mình làm gì có trống định âm (Timpani), hạc cầm… nhưng tôi vẫn cứ viết. Bản giao hưởng này được biểu diễn năm 1959 và được hàng loạt giải thưởng. Có lẽ vì thế mà trong Bách khoa từ điển của Pháp (Encyclopédie de la Musique) xuất bản năm 1960 có tên tôi, họ ghi là “nhà soạn nhạc” (compositeur) cùng với 11 người viết ca khúc (chansonnier) thời ấy…

* Ca khúc Nụ cười sơn cước đã được ông sáng tác trong hoàn cảnh nào? Và “Ai về sau dãy núi Kim Bôi…” là ở đâu vậy?
- Kim Bôi là một dãy núi thuộc tỉnh Hòa Bình. Dạo đó đơn vị tôi ở nhờ một làng dân tộc Mường. Tôi được ở trong một gia đình có cô con gái rất đẹp, nàng tên là Phẩm. Cũng chỉ là “để ý” thầm vậy thôi! Khi đơn vị tôi chuyển quân, với tình cảm lưu luyến hết sức chân thành tôi đã: “hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh !” và chuyển những tình cảm này thành ca khúc, ca ngợi chung những bông hoa rừng mà tôi đã từng gặp.

* Sau này có bao giờ ông gặp lại nàng “sơn nữ” này?
- Có, và đó là nỗi ân hận của tôi. Năm 1973 hay 1974 gì đó tôi có lên Hòa Bình tìm lại “người xưa” dù biết rằng cô ấy đã có chồng con. Sau dãy núi Kim Bôi đã biến thành vùng công nghiệp khai thác suối nước nóng, đường sá mở rộng, người miền xuôi lên ở nhiều. Cô Phẩm ngày xưa giờ đã là một thiếu phụ luống tuổi, ăn mặc theo kiểu người Kinh và… chẳng biết tôi là ai cả ! Nhắc lại chỉ thêm buồn… Biết vậy, cứ hãy sống với kỷ niệm xưa.

* Đã ở bên kia ngưỡng tuổi 80. Nhìn lại hơn 60 năm hoạt động nghệ thuật, ông có điều gì muốn tâm sự?
- Phương châm sống của tôi hiện nay là hãy quên đi quá khứ (để khỏi tiếc nuối, kể công với lịch sử), hãy sống với hiện tại (để luôn vui với những gì mình đang có) và đừng nghĩ đến tương lai (để khỏi thấy mình quá già, sắp chết). Tôi có một valy tác phẩm chưa hề sử dụng. Tôi dặn vợ: khi tôi chết hãy vẫn cứ để chiếc valy ở đấy cho đến khi nó có “duyên” tìm được tri kỷ hoặc có ai cần nghiên cứu về cái thời đẹp nhất đã xa xưa của lũ nhạc sĩ già chúng tôi thì cho mượn… Nhược bằng chẳng ai rỗi hơi “tìm về quá khứ” thì con gái tôi (Tô Lâm Phượng – chơi piano tàm tạm) sau này có điều kiện sẽ dựng lại… cho cháu chắt tôi nghe vậy.

Cảm Nghĩ Khi Đọc “Đêm Giữa Ban Ngày” – Uyên Thao

Cảm Nghĩ Khi Đọc “Đêm Giữa Ban Ngày”

Uyên Thao

Đêm giữa ban ngày, hồi ký của Vũ Thư Hiên
do Tủ sách Tiếng Quê Hương (*) tái bản, 2008

Tác phẩm hồi ký Đêm giữa ban ngày ấn hành lần đầu tại California năm 1997 đã trở thành cuốn sách Việt ngữ bán chạy nhất nhiều năm tại hải ngoại, vì tiết lộ nhiều sự việc giấu kín trong hành động và chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tác giả Vũ Thư Hiên không phải đảng viên Cộng Sản nhưng có nhiều năm kề cận bên cạnh Hồ Chí Minh, vì là con của ông Vũ Đình Huỳnh, một đảng viên Cộng Sản từ thập niên 1930 và bí thư của Hồ Chí Minh từ 1945. Ông Vũ Đình Huỳnh chống lại các chủ trương Cải Cách Ruộng Đất, đàn áp trí thức trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm và cho rằng đảng Cộng Sản đã phản bội quyền lợi đất nước nên năm 1967 bị bắt giam.

Lúc đó, Vũ Thư Hiên mới du học từ Nga về, hoạt động trong ngành báo chí và điện ảnh miền Bắc Việt Nam cũng bị bắt giam cùng với cha và nhiều nhân vật Cộng Sản tên tuổi khác cho tới năm 1976.

Sau nhiều năm sống dưới kiềm chế, Vũ Thư Hiên trốn được sang Nga năm 1991 và mấy năm sau trốn qua Ba Lan, rồi qua Pháp. Cuốn hồi ký hoàn thành trong thời gian này được tác giả coi như lời sám hối của chính cha mình vì đã lầm tin theo đảng Cộng Sản bỏ cả cuộc đời đấu tranh cho một mục tiêu biến chính mình và đồng bào thành những nạn nhân bị đày đoạ.

₪₪₪

Cho tới tháng 4, 2003, với tôi, Vũ Thư Hiên chỉ là một cái tên như mọi tên gọi khác. Tôi chưa hề biết gì về người mang tên này, kể cả khi bắt tay nhau lần đầu sau lời giới thiệu của người bạn. Đó là một buổi tối tại San Jose khi chúng tôi cùng có mặt tại nhà bạn tôi.

Ngày đó, tôi vừa thoát khỏi cuộc sống bít bùng tại Sài Gòn nhưng lại phải qua một thời khoảng biệt lập giữa những bức tường bệnh viện tại Virginia. Cơ hội mở rộng tầm nhìn đối với tôi hết sức hạn chế, nhất là để xác định về người và việc ở xung quanh.

Nhưng thật lạ là chỉ sau cái bắt tay, cả hai chúng tôi đều không có thái độ e dè thường có giữa những người xa lạ. Vì thế, mấy ngày sau gặp lại Vũ Thư Hiên tại toà soạn Người Việt ở Nam California, tôi có cảm tưởng gặp lại một người bạn cũ. Dịp này, Vũ Thư Hiên đi cùng một bạn trẻ được giới thiệu vừa từ Ba Lan qua. Cả hai chắc chắn cũng chỉ biết về tôi qua cái tên gọi, nhưng chúng tôi đã quây lại như ba người từng quen biết lâu năm vừa có dịp tái hội. Từ ngày đó, tuy đường ai nấy đi, tôi luôn thấy giữa chúng tôi như có một ràng buộc nào đó.

Cảm giác này khiến tôi thường thắc mắc: Tại sao?

Trên thực tế, giữa chúng tôi là những khoảng cách vời vợi về không gian và càng vời vợi hơn về hướng sống kể từ khi tất cả chưa rời khỏi tuổi trẻ thơ.

Nếu có một tương đồng, tôi chắc không ngoài tâm trạng hồn nhiên của hầu hết lớp tuổi chúng tôi vào thời gian diễn ra cuộc thế chiến thứ hai. Thời đó, dù chưa biết chính trị là gì, thậm chí chưa thể có một ý nghĩ nhỏ nhoi nào về dân tộc, về chủ quyền – vì chỉ là những đứa trẻ mới bước vào các lớp Moyen Un, Moyen Deux, Supérieur tức chưa qua bậc tiểu học – hầu hết chúng tôi đều ghét người Pháp. Nguồn cỗi nào, tác động nào đưa đến tâm trạng này là điều tới nay tôi chưa xác định nổi. Ngay giữa khi bị cuốn hút trong những trò chơi thơ dại, chúng tôi đã ghét người Pháp một cách tự nhiên như ghét các mụ phù thuỷ trong truyện của Perrault, của anh em nhà Grimm hoặc loài ma quái trong cổ tích – một tâm trạng gần như hồn nhiên tự tại.

Tâm-trạng-tương-đồng-nếu-có này chính là động lực đẩy chúng tôi vào các hướng ngược chiều khi tới tuổi trưởng thành.

Nhiều người chọn hàng ngũ kháng Pháp do cộng sản lãnh đạo, nhiều người lại thấy cộng sản là hiểm hoạ cần loại trừ trước khi loại trừ người Pháp. Giữa hai chọn lựa đó là những người xác định cần đương đầu cùng một lúc với cả hai kẻ thù Pháp và cộng sản. Các hướng đi này hiển nhiên không ràng buộc chúng tôi mà đã đặt chúng tôi vào thế đứng thù nghịch.

Thắc mắc về cảm giác ràng buộc còn thêm dấu hỏi vì bên cạnh chúng tôi là người bạn thuộc lớp tuổi không mang chung tâm trạng hồn nhiên của chúng tôi, không hề có quyền chọn lựa – vì chỉ là sản phẩm tất yếu của thời thế.

Qua nhiều thời điểm, tôi đã gặp nhiều câu trả lời.

Năm 2004, ngồi bên lề đường Bà Triệu tại Hà Nội với Kiều Duy Vĩnh và Nguyễn Thiệu Giang, tôi nghe Kiều Duy Vĩnh phát biểu: “Vũ Thư Hiên đúng là nghệ sĩ, lúc nào cũng lao theo những hứng cảm của mình.”

Không lâu sau, tôi nhận được một lời than cho bạn của Bùi Ngọc Tấn sau khi có dịp nhìn rõ cảnh sống của Vũ Thư Hiên trên đất Pháp. Theo Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên phải chấp nhận quá nhiều mất mát để có thể được làm theo tâm nguyện. Vì nếu ở lại, dù bị ngược đãi cách nào Vũ Thư Hiên chắc chắn vẫn luôn có người thân ở kế bên để tránh khỏi những phút cô đơn câm nín tới hãi hùng. Tuy nhiên, buổi tối cuối năm 2007 bên bờ sông Sài Gòn, Bùi Ngọc Tấn lại xốn xang khi nhắc tới một loạt bạn bè – Mạc Lân, Vũ Bão, Dương Tường … – do nỗi khao khát tự do bị vùi dập tới nghẹn thở.

Vậy, phải chăng chất nghệ sĩ và nỗi khao khát tự do đã ràng buộc chúng tôi?

Những điều này có thể rất gần với thực tế, nhưng không hoàn toàn là thực tế.

Bởi không có gì bảo đảm rằng những điều này không mang cùng tác động của tâm trạng hồn nhiên mà chúng tôi từng có để sẽ đẩy chúng tôi vào những hướng khác biệt. Vả lại, bên cạnh chúng tôi, chưa hẳn người bạn trẻ sẽ đáp ứng trọn vẹn các điều nêu từ những câu trả lời trên. Cuối cùng, tôi chỉ có thể dừng lại với câu trả lời cất lên từ những trang sách của Vũ Thư Hiên.

₪₪₪

Đêm Giữa Ban Ngày, như tác giả ghi, chỉ là “một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án biểu hiện tính điển hình cho nền cai trị của đảng Cộng Sản tại miền Bắc Việt Nam.”

Vụ án đẩy nhiều người vào nhà tù và chính tác giả đã trải 9 năm đày đọa.

Nhưng cả vụ án lẫn cảnh sống lao tù đều không phải chủ điểm của tác phẩm mà “chỉ là cái cớ để nói lên những ghi nhận, những cảm nghĩ về một thể chế xã hội” từng có nhiều thế hệ con dân Việt Nam một thời mơ ước và không ít người đã hy sinh mạng sống trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền đất nước để tạo điều kiện cho nó hiện hình trên thực tế.

Sự từng trải của bản thân và những cảnh ngộ phát hiện từ ngục tù cho thấy thể chế xã hội đó không chỉ có “hành động phi nhân của những vua chúa mới” mà còn “ép buộc con người dù muốn dù không đều phải đánh mất chính mình.”

Khởi từ ý muốn tốt đẹp của những người lương thiện sẵn sàng dâng hiến cả sinh mạng, con đường đấu tranh đã dẫn đến “một thể chế được áp đặt lên mọi số phận người bị tước đoạt mọi quyền lựa chọn để được sống xứng đáng là người.”

Từng trang sách nhắc tôi nhớ về màn kịch bi hài tại trại tù X.15 Sài Gòn vào một ngày đầu năm 1976.

Viên giám thị dắt theo con chó tới trước một phòng biệt giam, ngoắc người tù lại gần, chỉ con chó nói:

– Đây là con voi!

Trước cái nhìn ngỡ ngàng của người tù, anh ta lập lại:

– Đây là con voi! Nghe rõ chưa?

Người tù thắc mắc:

– Nhưng … nó là con chó.

Viên giám thị dõng dạc nhấn mạnh từng lời:

– Tôi là cán bộ cách mạng. Tôi ra lệnh cho anh phải triệt để tuân hành mọi chỉ thị của cách mạng. Anh phải nói nó là con voi. Nói đi! Nó là con voi!
Người tù băn khoăn, cuối cùng, chậm rãi lên tiếng:

– Nó… là con… chó!

Câu nói mà bất kỳ ai cũng không thể nói khác khiến người tù lãnh một trận đòn tới bất tỉnh, cộng thêm hình phạt cùm cả hai chân và cấm không được nói một lời nào để trở thành người câm suốt hai năm 1976-1977.

Màn kịch bi hài từ một góc trại tù khuất lấp tối tăm có thể coi là lời diễn tả rõ ràng và trung thực nhất về mô hình đời sống mà người cộng sản cố tạo dựng để tự hào “hoàn thành sự nghiệp cách mạng!”

Cho nên không có gì ngạc nhiên khi Vũ Thư Hiên coi 9 năm tù như điều “hữu ích cho bản thân… là giã từ được ảo ảnh về một xã hội cộng sản.” Và những lời tự thú không dễ có về chính mình đã cất lên cùng một câu tâm sự nhuốm đầy đau đớn:

– “Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn.”

₪₪₪

Tôi nghĩ về những người mà thân xác đã thành tro bụi.

Từ trong lòng đất lạnh hoặc từ những cõi xa xăm mù mịt, hết thẩy có thoát khỏi nỗi chua xót khi nhìn rõ thân phận tràn ngập oan khiên của đồng loại đã hiện hình một phần do các nỗ lực hy sinh của chính mình?

Gần trọn thế kỷ 20, đất nước liên tục bị xô vào thảm cảnh tàn phá bởi đạn bom, chém giết và tới nay vẫn đang lún sâu dưới đáy vực phân ly, thù hận chỉ do tình trạng mê muội khởi phát từ một con người và trở thành một bệnh dịch lan truyền qua nhiều thế hệ.

Tôi nhớ tới lời nói cuối đời của một người bạn khác cũng là một người đã đặt trọn cuộc đời vào hướng đường do cộng sản chỉ đạo. Năm 2002, trước khi vĩnh viễn ra đi, Nguyễn Nguyên (một nhà văn và cũng là một thượng tá công an CS) từ Việt Nam điện thoại qua Mỹ cho tôi chỉ để nói một câu, câu trối cuối cùng:

– “Dân tộc mình bất hạnh cùng cực vì đã có một lãnh tụ là ông Hồ.”

Thực ra, dù mức cuồng tín chủ nghĩa cộng sản và tham vọng tạo sự nghiệp “dắt năm châu đến đại đồng” của Hồ Chí Minh là điều hiển nhiên thì nỗi bất hạnh thực sự của dân tộc Việt Nam phải được nhìn rõ là đã có những người nhẹ dạ đặt trọn lòng tin vào con người ấy. Khát vọng tạo sự nghiệp cá nhân của Hồ Chí Minh bằng mọi thủ đoạn tàn khốc kể cả núi xương sông máu sẽ không thể tác hại đến ai nếu không có tình trạng mê lầm tán trợ như đã có.

Đoạn đường đó đã qua rồi không thể làm lại bằng bất kỳ cách nào.

Vấn đề thực sự đáng kể vào lúc này là thân phận oan khiên của cả dân tộc chưa tìm được ngõ thoát và sự thành tâm thú nhận mê lầm vẫn hiếm hoi.

₪₪₪

Vũ Thư Hiên ghi lại ý nghĩ của một người bộ đội về lãnh tụ Hồ Chí Minh:

– “Chúng ta nhầm. Bây giờ tôi mới hiểu: Ông Hồ không phải đồng chí của ta, ông ấy cũng là vua như các ông vua khác, lại không phải vua hiền. Ông ấy biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Ông ấy là quỷ vương”.

Riêng Vũ Thư Hiên vẫn nhớ kỷ niệm tuổi thiếu thời nhởn nhơ trong Bắc Bộ Phủ bên “bác Hồ tôn kính, bác Hồ yêu mến”:

– “Thấy tôi quanh quẩn ở đấy, ông gọi vào phòng, giao cho tôi mấy mảnh giấy nhỏ để tôi chạy xuống đưa cho các chú các bác làm việc ở tầng dưới, hoặc đang chờ ở phòng cảnh vệ…”

Tuy nhiên, nhớ chỉ để buồn, vì “khi nhìn lại, tôi thấy trong tôi chỉ còn trơ trọi một nhận định duy lý, một tình cảm lạnh lẽo đối với ông, như đối với một nhân vật lịch sử.”

Thực tế biểu hiện một chân tướng phi nhân và thúc đẩy sự đoạn tuyệt tình cảm với một kẻ tàn độc không hiếm hoi hay đáng ngờ vực. Nhưng ý nghĩ, thái độ như Vũ Thư Hiên ghi trong Đêm Giữa Ban Ngày chưa thoát khỏi bị vùi lấp.

Giữa lúc cả thế giới coi chế độ cộng sản như một cỗi nguồn tội ác thì tại Việt Nam vẫn vang vọng lời tung hô cỗi nguồn tội ác đó, vẫn kéo dài tình trạng buộc con người từ bỏ cuộc sống để “hoàn thành sự nghiệp cách mạng” chỉ là quyền uy tối thượng của những quỷ vương, bạo chúa.

Mọi con dân Việt Nam, vì thế, đều trở thành nạn nhân bi thảm vì bị tước đoạt mọi quyền sống, bao gồm trong đó không ít nạn nhân đã và đang còn đóng vai thủ phạm gieo rắc tội ác không chỉ cho đồng loại mà cho ngay cả bản thân.

₪₪₪

Tôi nghĩ chính cái thân phận nạn nhân chất ngất oan khiên này đã là động lực ràng buộc mọi người trong đó có chúng tôi. Chúng tôi dễ dàng gần gũi tin cậy lẫn nhau bởi đã thấy dù ở hướng đi nào, tất cả đều bị xô vào ngõ cụt do một tình trạng mê lầm khốc hại. Điều đáng tiếc là tình trạng mê lầm kéo dài từ đầu thế kỷ trước vẫn chưa chấm dứt vì những lý do hoàn toàn vô nghĩa.

Cho nên, tác phẩm này được tái bản với mong mỏi góp một phần nhỏ vào việc gióng lại tiếng nói từ thực tế nhắc nhở tầm cần thiết của sự nhìn lại mọi lý do vô nghĩa đang có nơi mỗi cá nhân để kịp thời định thái độ thích nghi cho yêu cầu tự cứu của hết thẩy và tránh cho con cháu chúng ta cảnh dãy dụa trong cõi chết.

Và mong mỏi trước hết của chúng tôi, là gửi được tới những người đang vì bất kỳ lý do gì vẫn cố bám vào cái thân phận vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, lời tâm sự của tác giả – người đã có một thời mang cái thân phận đó:
“Bị bắt năm 1967, những người tù không có án, còn gọi là tù “xử lý nội bộ”, tới năm 1973 mới lần lượt được thả… Người cuối cùng trong số tù nhân được Đảng ban cho ân sủng “xử lý nội bộ” mãi tới tháng Chín năm 1976 mới được ra khỏi cổng nhà tù.

Người tù ấy là kẻ viết những dòng này…

Trong chín năm tù, tôi chỉ làm được một việc có ích cho bản thân và cho những người mà tôi thương yêu là giã từ được ảo ảnh về một xã hội cộng sản được tô vẽ như là thiên đường dưới thế.

Sự nhìn lại đời mình cũng như sự quan sát số phận của đồng bào trong những nhà tù tôi đi qua đã mang lại cho tôi cái nhìn tỉnh táo không riêng với hành động phi nhân của những vua chúa mới, mà cả một thể chế xã hội trong đó con người dù muốn dù không đều đánh mất mình.

Cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay là một phần những quan sát của tôi, một phần những suy nghĩ của tôi về cái xã hội khó hiểu mà số mệnh đã an bài cho tôi sống trong lòng nó. Xã hội này là khó hiểu, bởi vì căn cứ những gì tôi biết, nó khởi sinh từ những ý muốn tốt đẹp, bắt đầu bởi những con người lương thiện… Trong sự biến dạng của những người cộng sản, trong sự tha hóa của họ, cái gì là tác nhân? Chủ thuyết mà họ theo đã nhào nặn con người họ thành ra như thế hay chính họ tự biến đổi để trở lại nguyên hình, cho đúng với bản thể do trời đất tạo ra?…

Cuốn sách này chỉ là một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án cụ thể nhưng mang tính tiêu biểu cho nền cai trị của Đảng Cộng Sản…Cho nên, vụ án chỉ là cái cớ để nói về cái lớn hơn – về một thể chế được áp đặt lên mọi số phận người đã bị tước đoạt mọi quyền lựa chọn để được sống xứng đáng là người…

Trong cuốn sách này chỉ có sự thật theo cách mà tôi hiểu…

Văn học đích thực không có chỗ nơi đây.

Cuốn sách này không phải là lời lên án một xã hội nay mai sẽ trôi vào quá khứ.

Tôi không dám đặt cho mình mục đích buộc tội…

Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội…

Bởi trong cái xã hội được miêu tả, tôi không đơn thuần là nạn nhân.

Về mặt nào đó, trong chừng mực nào đó, tôi còn là thủ phạm.

Tôi viết vì tôi không thể không nói lên tiếng nói của mình.

Tôi quan niệm kẻ không dám nói “không” trước tội ác là kẻ đồng lõa với tội ác…

Số phận tôi được nói đến trong cuốn sách này cũng là số phận của nhiều người cùng thế hệ. Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo lời trăn trối của Người.

Cuốn sách này là một vòng hoa muộn, một nén hương thêm đặt lên mồ những nạn nhân xấu số của một thời kỳ đen tối, những con người bất hạnh đã không chờ được đến ngày cuộc đời lập lại công bằng cho họ.”
Virginia August 3, 2008

© DCVOnline

________________________________________
(*) Tiếng Quê Hương, P.O Box 4653, Falls Church – VA 22044
E-mail: uyenthao1@juno.com

17-01-2009

Hãy Vất Bỏ Khối Nặng của Tính ác và Sự Xấu -PHAN NHẬT NAM

Nhà Văn -Đại úy- PHAN NHẬT NAM
Hãy Vất Bỏ Khối Nặng của Tính ác và Sự Xấu
PHAN NHẬT NAM

Dẫn Nhập: Thật là một ngẫu nhiên kỳ lạ và cảm kích, do một “xếp đặt” vô tình, trong một tờ báo nhỏ, giai phẩm Xuân của Cộng Ðồng Người Việt nơi một chốn xa khuất, Twin Cities, Minnesota – bỗng nhiên, ba người bạn, Nguyên Vũ, Vann S. Phan và Phan Thanh Tâm, từ những xuất xứ, hoàn cảnh khác biệt, đồng lần khởi động những tiếng lời khẩn thiết “Hãy cất dỡ tự thân gánh nặng của quá khứ” Chuỗi quá khứ lềnh đặc những hư hại giết người và chết người, đã từ lâu dính chặt với thân phận, cố kết cùng cá tính, để tạo nên một tâm thức, biễu tượng đặc trưng về Người Việt Nam cụ thể với giai tầng nhân sự đã, đang giữ những vị trí chủ yếu, trách nhiệm lãnh đạo, tồn vong đất nước – Một tập thể hiện thực đủ vô vàn tính xấu trong tiến trình thâu đoạt và hành xử quyền lực của họ. Những người bạn không dựng nên chuyện tổng quát, mơ hồ, mà nói có sách, mách có cớ, với những chứng liệu mà mỗi chúng ta hẳn đã nhiều lần nhận ra từ đời sống cá nhân, tập thể, suốt trong dòng lịch sử đầy biến động khổ nạn dân tộc. Tính xấu không từ một ai, và kể đến bây giờ, cũng không có cơ may giảm sút, từ bỏ, sửa sai với đám hậu duệ cả trong lẫn ngoài nước, mà bi thảm hơn là khuyết tật càng trầm trọng, lộ liễu, thô bạo và nguy hại hơn.
Nhưng không chỉ có như trên với người, việc trong phạm vị chính trị, quân sự. ở một lãnh vực rộng lớn hơn về kích thước, sâu xa hơn bởi tác động, mà có thể nói là đầu mối khai sáng, hạt nhân làm bùng vỡ nên những biến động mặt nổi vừa kể – Chúng ta bàn tiếp về mặt văn hoá, xã hội với những “kẻ sĩ”- nhân tố chính tạo dựng nên phần phẩm tính của tất cả chế độ. Nếu ở Tây Phương, Thượng Ðế đã bị thanh toán qua Sấm ngôn của Zarathustra (Also sprach Zarathustra) để con người có toàn quyền thực hiện mọi sự kiến tạo nên một mẫu mực siêu nhân mới thay thế con người toàn thiện – Adam Mới – ảnh hình sáng tạo bởi Thiên Chúa và chính là Thiên Chúa; và cho dù Nietzche thật sự không tiên kiến về trường hợp của những siêu nhân Ðệ Tam Ðức Quốc Xã, nhưng chính danh ông ta chứ không ai khác là người đã khai sinh ra phần hồn cho tổ chức, tập đoàn thủ phạm gây nên cuộc tương tranh khốc liệt Thế Chiến Thứ Hai ở mặt trận Châu Âu, với trị giá 12 triệu người chết do bị lưu đày trong những trại tập trung lao động khổ sai của Ðức; và đất nước nầy cũng trả giá lại với sáu triệu mạng vong. Tương tự như thế, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh và tổ chức bạo lực cộng sản do ông ta xây dựng, giáo dục, huấn luyện và chỉ đạo cũng sẽ chỉ là một tập doàn bạo động cướp chính quyền và cũng cố quyền lực bằng những kế sách, thủ đoạn, phương tiện bất chấp đạo lý, cạn kiệt nhân tình, nếu không có một tập đoàn đông đảo những kẻ sĩ chính thống trong một thời gian lâu dài gần trọn Thế Kỷ 20, đã cố công, nhiệt thành gây men sắc máu cho chủ nghiã, bồi đắp, giữ vững chế độ, đầy ải dân tộc xuống tận vũng tối trầm luân, mất hẳn đà sống, triệt tiêu hy vọng – Toàn thể Dân Tộc Việt Nam chứ không riêng cho Miền Nam với chế độ Cộng Hoà bị bỏ rơi, đánh đổi cho CS từ năm 1975. Những kẻ sĩ vô sỉ nầy đã hoàn thành xuất sắc “sự nghiệp cách mạng” với “bước đầu có tiến bộ nhất định” (cách đánh giá thưởng công của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội), bằng chước độc tồi tệ – đánh tráo lịch sử – Các Vua Hùng có công dựng nước. Bác, cháu ta có công giữ nước. Vua Hùng bị cưỡng ép đổi diện mạo, để không phải từ huyền thoại thuần hậu Lạc Long Quân – Âu Cơ mà khai sinh ra Việt Tộc, nhưng là một thủ lãnh của giai cấp vô sản giác ngộ cách mạng, lãnh đạo nhân dân chống lại tập đoàn phong kiến phương Bắc, giải phóng chế độ chiếm hữu nô lệ!! Hoặc, Lê Lợi sở dĩ tập trung được sức mạnh quần chúng, vì nhân dân luôn có “truyền thống yêu nước”, nhưng sau mười năm trường kỳ kháng chiến, thắng lợi chống ngoạI xâm, lại lên ngôi vua, kế tục vết xe đổ của tập đoàn phong kiến phản động Nhà Minh vừa bị sức mạnh nhân dân ta đánh bại. Nhà Nguyễn Gia Long sau thống nhất đất nước 1802 thì tồi tệ hơn một bực, bởi đã là đầu mối gây cớ cho việc người Pháp đem chiến thuyền đánh phá Ðà Nẵng, năm 1858. Cuối cùng, bình minh lịch sử bắt đầu từ, … Năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước, để sau đó có một sự kiện quan trọng diễn ra trong đời sống chính trị, tư tưởng, văn hoá của Nhân Dân Việt Nam. Một cuốn sách nhỏ viết bằng tiếng Pháp- Le Procès de la colonisation francaise (Bản án chế độ thực dân Pháp) ký tên Nguyễn Aí Quốc xuất hiện. Và tác động hiệu quả lớn lao tiếp theo, …lòng yêu nước thương nòi sục sôi, hình ảnh Nguyễn Aí Quốc mà hầu như chưa ai đã từng thấy mặt bao giờ, đi vào trái tim của họ (người Việt Nam) như một vị quan toà, vừa như là một người thầy, người anh, người bạn tâm phúc. Những đoạn trích dẫn trên lấy ra từ hai tập Lịch Sử Việt Nam, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985 do một số viện sĩ, giáo sư danh tiếng- những trí thức xã hội chủ nghiã – hợp soạn. Cần nói thêm một chi tiết mà cuốn sử không nêu đến: Nguyễn Aí Quốc cũng chính là cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành đã thất bại trong bước đường mưu tìm công danh sau khi bị bác đơn xin theo học Trường Thông Ngôn thuộc Bộ Thuộc Ðịa, cũng vào khoảng năm 1911, năm cậu ta đi tìm đường cứu nước. (Hồ chí Minh, Con Người và Huyền Thoại Tập I, Chính Ðạo, Văn Hoá 1993, Houston, USA.)
Từ lịch sử bị đánh tráo, bước kế tiếp tất nhiên phải thanh toán nguồn lực nguyên thủy, vốn canh chừng, gìn giữ lòng người – Ông Trời – Thượng Ðế bị miệt thị, vất bỏ không nương tay,

Trời không có thiên thần
Ðất không có thánh nhân
Chỉ có Nhân Dân thần thánh
Và Ðảng ta làm nên sức mạnh
Bay đến chân trời…
(Nguyễn Ðình Thi)

Trời bị đấu tố, lịch sử bị nhúng vào máu, những thi sĩ, nhà văn, nghệ sĩ… những văn công của tất cả chế độ cộng sản đông-tây, quả thật đã hoàn thành nên quái tượng, người công nhân tiên tiến của giai cấp vô sản với tâm chất vô đạo, ngược ngạo thay mặt Thượng Ðế, chiếm dụng lịch sử, thủ đắtâquyền giết người bởi yêu cầu chính trị, xây dựng, củng cố chủ nghĩa, bảo vệ chế độ. Những Paven của Thép Ðã Tôi Thế Ðấy ở Nga sô-viết; Bạch Mao Nữ của Trung cộng; Lý Tự Trọng, chị Sứ, anh hùng Núp, Út Tịch, Kan Lịch, Nguyễn Văn Trỗi… ở Việt Nam, được khai sinh hàng loạt như những tế bào ung thư lây lan trong một cơ thể bị ung thối, nhiễm độc. Bệnh nhập lý cộng sản từ những thập niên đầu thế kỷ vừa qua đã tác hại một phần ba nhân loại, suốt hai cõi á, Phi. Riêng nước ta, chỉ từ 2 tháng 9, 1945 mầm ung độc kia mới thực sự xuất hiện và phát triển, nhưng oan nghiệp thay, đến nay, mối quốc họa vẫn chưa có dấu hiệu sút giảm, biện pháp thay thế, nếu không nói ngày càng tồi tệ, hiễm ác thêm lên, do chung dòng sa đọa, tăm tối hèn yếu của con người toàn thế giới – đám đông thời hạ ngươn, mạt pháp – đã hằng a tòng với ác độc, kiêu ngạo và tội lỗi.
Nhưng cộng sản không đơn thân thực hiện tội ác- đồng thời với đám sát nhân say máu kể trên, Miền Nam trước năm 1975 còn được tiếp tay gây nên suy sụp nhanh chóng, (cũng có nghiã đánh vỡ luôn hy vọng đối với Miền Bắc), bởi một tập đoàn quân phiệt vô cùng kiêu bạc, bất nhân, dụng máu xương dân, lính người Nam để xây dựng công danh, phẩm tước, tài sản phù hoa.
Quả thật – Toàn thể Dân tộc Việt đã bị đánh sụp vỡ không hy vọng phục hồi.
Cuối cùng, cũng nên nói thêm điều dự phòng – Những người bạn chúng ta không cất tiếng do từ thôi thúc, đòi hỏi muốn được cầu lợi riêng tư ố cho dầu để thoả mãn một nhu cầu thuần túy tình cảm, tinh thần. Bạn chỉ nói vì im lặng cũng là đồng lõa với tính xấu và tội ác mà hình như mỗi chúng ta đã lâu dài mắc thói quen đáng bị trách cứ nầy. Cửa thế kỷ mới đang mở rộng – Mỗi Người Việt. Khối Ðoàn Thể. Toàn Dân Tộc phải Nhật Tân-Nhật Tân-Hựu Nhật Tân. Bằng không, chúng ta mãi mãi là kẻ đi sau. Luôn trì chậm theo sau…

Mời Qúy Bạn Ðọc theo dõi phần I, Lời báo nguy của Saroyan Vann Phan

Giây phút nói thiệt…

Saroyan Vann Phan

Lời Người Viết: Không gì bực mình hơn là phải nghe người ta nói thiệt! Vì lời nói thiệt dễ làm mích lòng nhau. Nhứt là đối với những người thường hay được nghe những lời ca tụng, tán dương và kể cả nịnh bợ không có thiệt về mình, về gia đình mình, về cộng đồng mình và luôn cả về dân tộc mình!
Nói lên sự thực với người mình —người Việt Nam— quả là một chuyện hết sức khó làm. Bởi vì từ trước tới nay hầu hết những lời nói hay bài viết của người này đề cập đến người kia, nếu không là chửi bới quá đáng, thì cũng là tán dương quá độ. Trong tiến trình tán dương quá độ, mọi ngôn từ hoa mỹ đều được vận dụng để ca ngợi đối tượng, mà không có phần nào nghiêm chỉnh phê phán để cho đối tượng này thấy được những khuyết điểm cần phải sửa chữa. “Mặc áo thụng vái nhau,”đó là lối mòn mà người mình —đặc biệt là các văn nghệ sĩ— vẫn ưa dùng để công kênh nhau trên mọi phương tiện truyền thông có được, bất chấp lương tri và lẽ công bằng. Cứ hết ca ngợi lẫn nhau đến ca ngợi dân tộc mình riết như vậy rồi thành thói quen. Khi có người nào đó dám mon men vạch ra những khuyết điểm hay thói hư, tật xấu của người Việt Nam thì nhiều người sẽ lại nổi giận lên như thể là danh dự của họ đã bị xúc phạm nặng nề rồi. Không, đó chỉ là cái tự ái dân tộc hảo huyền mà thôi, thưa quý vị.
Sau khi đã nói vậy, bài viết sau đây không nhằm chê bai hay chửi bới ai hết, mà chỉ nhằm nói thiệt, tức nói lên sự thật, về những nguyên do tại sao mà một dân tộc vốn ưa hãnh diện về truyền thống lịch sử, văn hoá và đạo đức của mình như dân tộc Việt Nam mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc trầm luân nhứt thế giới nếu xét về những mặt như nghèo đói, không luật pháp, tàn ác với nhau, tự cho mình là giỏi, hay tham lam, chuyên phản phúc, luôn chê bai và chửi bới những ai không phải là chính mình, coi chuyện ăn hối lộ là quyền đương nhiên của mình, lúc nào cũng chỉ coi trọng đồng tiền và vật chất…
Còn một điều này nữa. Người viết không muốn bị những người trừ trước tới nay chỉ thích được nghe người khác tán dương hay nịnh bợ (mà nay đành thất vọng vì không được tiếp tục nghe những lời tán dương, nịnh bợ đó) chụp mũ là cộng sản (như 90% những trường hợp cho thấy), là phản quốc, hoặc là coi thường dân tộc mình… Vì vậy, người viết đành ra tay trước để phòng thủ, tạm thời tự vỗ ngực nhận mình là một trong những người chống Cộng kiên cường nhứt thế giới, người có tình yêu nước Việt Nam nồng nàn nhứt, và người duy nhứt trong cộng đồng nhỏ bé cuả mình lúc nào cũng chỉ biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết.

Dân tộc Việt Nam, ngoài những điểm ưu việt ghê gớm mà các dân tộc khác trên thế giới không có, còn có những khuyết điểm, hay nói huỵch tẹt ra là những thói xấu, mà các dân tộc kia không thể nào sánh nổi cho dù họ có cố gắng học hỏi hay bắt chước chúng ta cách mấy đi nữa. Những thói xấu này giải thích tại sao người Việt Nam mà chúng ta vẫn luôn luôn tự hào là thông minh xuất chúng đến như vậy mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc lụn bại, trầm luân nhứt thế giới, tính cho đến cuối thiên niên kỷ này. (1)
Những thói xấu của người mình thiệt ra khá nhiều, nhiều hơn mức bình thường. Người viết bài này chỉ gạn lọc và trình bày một số tính tiêu biểu đã gián tiếp hay trực tiếp đóng góp vào tình trạng đất nước Việt Nam ngày càng xơ xác, tiêu điều, các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại ngày càng tiếp tục chia rẻ, phân hoá tưởng như không bao giờ hàn gắn được. Các thói xấu đó là: không tôn trọng sự thực và lẽ phải, khoe khoang và kiêu ngạo, cố chấp, độc tôn, kỳ thị, tàn ác, thiếu cao thượng và ưa chơi gác, phe đảng, thiển cận, ganh ghét, thích làm vua làm chúa, không công tâm, không tôn trọng luật lệ, cướp công của người khác, ưa nịnh bợ, tâng bốc, thích ăn hối lộ, tham lam, không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc, không tuân giữ các cam kết… Những dẫn chứng về xã hội và lịch sử Việt Nam —cả ở trong lẫn ở ngoài nước— có thể giúp soi rọi vào cội nguồn và những ngóc ngách của các thói xấu nêu trên.

Không tôn trọng sự thực và lẽ phải: Lịch sử dân tộc Việt Nam do người mình viết có nhiều điểm mơ hồ và không đi sát sự thực, như những chi tiết liên hệ tới nguồn gốc dân tộc, về các vị nữ anh hùng, về công cuộc mở mang bờ cõi, về các lý do đằng sau việc cấm đạo Cơ Ðốc, về các triều đại nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn, và gần đây nhứt là về các chiến thắng của Vua Quang Trung trước quân nhà Thanh xâm lược. (2) Những lời đồn đại về Ngô Triều sau ngày 1-11-1963 cũng như những tập hồi ký của các cựu Tướng Ðỗ Mậu, Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Ðính… (3) cũng là biểu hiện của tính không tôn trọng sự thực của người mình. Còn lịch sử Việt Nam do Ðảng Cộng Sản Việt Nam viết nên thì lại không hề có lấy một phần mười của tính trung thực cần có trong phương pháp sử học, mà chỉ nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền và tự tôn vinh của người Cộng Sản Việt Nam. Gần như người Việt nào ở hải ngoại cũng chửi bới Cộng sản, nhưng hễ đã được về thăm quê hương thì một số lại khen lấy, khen đễ Cộng sản, cốt sao cho được việc của mình và gia đình mình chớ không hề muốn nói lên sự thực chút nào. (4)

Khoe khoang và kiêu ngạo: Ðào Duy Anh, khi viết về dân tộc Việt Nam, đặc biệt chú ý tới tính hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh của người mình. Trần Trọng Kim cũng cho rằng người Việt Nam hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng. (5) ở nước ngoài, chúng ta vẫn thường nghe nói tới sự thông minh và tài giỏi của người Việt Nam, tiêu biểu là số lượng học sinh và sinh viên học giỏi, đậu cao tại các học đường Âu, Mỹ, rồi tự lấy làm hí hửng là dân tộc mình number one. Bình tĩnh mà xét, điều này cũng không có gì lạ lắm, vì có cả trăm triệu người ở Châu Âu, Châu Mỹ đậu những bằng cấp mà người mình đã, đang và sẽ đậu, nhưng họ nào có xuýt xoa hay khua chiêng, gỏ mõ gì đâu, mà chỉ im lặng làm việc và thành công sau khi đã lấy được những bằngcấp kia. (6) Ðó là chưa kể tới câu hỏi mà ai cũng nhắc tới là Một người Việt Nam thì vậy, còn hai, ba hay nhiều người Việt Nam nữa đứng chung với nhau thì sao? Còn về tính kiêu ngạo thì có lẽ không ai kiêu ngạo hơn dân tộc mình, kể cả dân Thiên Hoàng Nhựt Bản và dân Con Trời Trung Quốc. Theo lời Cộng Sản Việt Nam (và ngay cả một số những người Quốc gia bị thua trận trước đây), thì Việt Nam quả là cái thế anh hùng khi một mình đánh thắng hết mọi đế quốc sừng sỏ từ Trung Hoa và Mông Cổ tới Pháp, tới Nhựt rồi tới Mỹ. Người Cộng sản còn phô trương rằng giới lãnh đạo của họ là những bộ óc ưu việt, những đỉnh cao trí tuệ cuả loài người tiến bộ trên thế giới đã xuất thần mà đề xướng ra hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ rồi lại sáng suốt “dắt giống nòi” vào con đường xã hội chủ nghĩa. (7) Nên nhớ rằng kiêu ngạo là tính mà Ông Trời ghét nhứt, và cũng chính vì tật xấu này mà loài người hay bị Trời phạt nhiều nhứt. Các thành Sodom và Gomorrha (như được kể lại trong Thánh Kinh Cơ Ðốc Giáo) đều đã bị lửa Trời tiêu huỷ chỉ vì dân chúng ở đó quá kiêu ngạo đến nỗi lo ăn chơi sa đoạ và dâm loạn, bất chấp những điều răn của Thượng Ðế. Cứ xem dân tộc mình hiện đang bị nghèo đói, trầm luân, rên siết đêm ngày dưới ách Cộng sản thì biết ngay.

Cố chấp và ngoan cố: Không ai cố chấp và ngoan cố như dân ta. Cái gì của mình cũng là nhứt, còn người ta là hạng bét. Hễ đã tin là mình đúng rồi thì cứ bắt người khác phải theo cho bằng được; còn nếu sai thì vẫn cứ cố cãi cho tới chết chớ không chịu nhận là mình sai. Vua Tự Ðức không tin lời Nguyễn Trường Tộ nói là dân mình bị lạc hậu so với Tây phương, tiếp tục nghe theo Tàu gọi các nước Âu Mỹ là Tây di, rồi khư khư ôm lấy chính sách bế quan, toả cảng, để rồi cuối cùng dân tộc ta phải làm nô lệ cho thực dân Pháp. Hồi thập niên 1950-60, Hồ Chí Minh và phe đảng ông, vì tin rằng muốn cho đất nước giàu mạnh thì cả hai miền Nam, Bắc chỉ có cách là đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà thôi nên đã nhứt quyết dùng võ lực buộc chính phủ và nhân dân Miền Nam Việt Nam phải từ bỏ con đường tự do dân chủ. Còn chính quyền Ngô Ðình Diệm hồi đó thì vẫn khăng khăng cho rằng các chính đảng khác, kể cả Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Ðại Việt, không có khả năng chống Cộng như mình. Phe quân nhân sau đảo chánh 1-11-1963, vì quá tự tin ở khả năng mình, đã không để cho các nhà lãnh đạo dân sự có cơ hội cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam, cho dù họ có tài đức đến đâu. Cộng sản Việt Nam thì cho giáo điều của họ là hay nhứt, không có lý thuyết chính trị nào hay hơn, kể cả bọn xét lại Liên Sô và bọn hiện đại hoá Trung Quốc. Ngay cả sau khi Liên Sô, vị thánh tổ của Cộng sản thế giới và ôđại sư báọ của Cộng sản Việt Nam, đã sụp đổ cùng với khối Cộng sản Ðông Âu hồi 1991, Cộng sản Việt Nam, dù biết rằng mình đã hoàn toàn sai trái, nhưng vẫn ngoan cố không chịu nhìn nhận điều này để sửa đổi chế độ cho dân tộc được nhờ. Một số đảng viên đã ly khai của họ — như “hồi chánh viên” Bùi Tín chẳng hạn — vẫn cứ nhứt định cho rằng chỉ có giới lãnh đạo tại Hà Nội, chớ không phải là chủ nghĩa Cộng sản, đã sai lầm. Các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, tiêu biểu là tại Nam California, không ai nhịn ai, mạnh ai nấy xưng hùng, xưng bá, làm cho cộng đồng nát bét, chẳng qua cũng chỉ là vì tính cố chấp mà thôi.

Ðộc tôn: Người mình, nhứt là các nhà lãnh đạo, thường có tính ưa độc tôn, tức là chỉ muốn độc quyền làm lãnh tụ hay chỉ muốn lịch sử ghi nhận rằng không có ai ngoài họ có thể trị nước an dân. (8) Hồ Chí Minh vẫn thường nói với đám con nít: “Xưa các Vua Hùng có công dựng nước, nay Bác cháu ta có công giữ nước.” (ý của họ Hồ là chính ông ta, chớ không phải là ai khác, mới là kẻ có công giữ nước.) (9) Chính vì cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ muốn thế giới coi ông là người anh hùng duy nhứt có khả năng giữ vững được Miền Nam Việt Nam khỏi bị Cộng sản nuốt sống nên ông đã cố tình làm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải tan rã (cho thiệt đúng với câu après moi le déluge, nghĩa là nếu tao mà xuống ngôi rồi thì tụi bây chỉ còn có nước đắm chìm trong bể khổ) (10) rồi lại ráng canh cho tới giờ thứ 25 mới giao quyền lại cho cựu Tướng Dương Văn Minh để cho ông này, vốn cũng không có tài kinh bang tế thế gì mấy, chỉ còn kịp đầu hàng Cộng sản mà thôi (11). Trong các cộng đồng người Việt hải ngoại cũng vậy, phàm người không làm được việc gì để phục vụ đồng hương thì cũng chẳng thích kẻ khác làm được việc cho cộng đồng để nổi bật hơn mình. Thái độ này đã và đang là trở lực chính ngăn chặn Việt Nam tiến lên bắt kịp với trào lưu tiến bộ hiện nay của thế giới. Người Cộng Sản trong nước, dù biết chắc là họ thua tài, thấp trí và bất lực, vẫn không chịu chấp nhận một thể chế dân chủ đa nguyên để cho người Quốc gia có cơ hội đóng góp tài năng xây dựng đất nước.

Kỳ thị: Người Việt hải ngoại, nhứt là tại Mỹ, vẫn hay cười chê người da trắng bản xứ là kỳ thị chủng tộc này nọ. Nhưng hãy suy gẫm kỹ mà xem thử người mình có mắc bệnh kỳ thị hay không, và bệnh đó so với người Mỹ thì nặng hay nhẹ hơn. Người viết bài này nhớ hồi nhỏ, lúc còn đi học, vẫn được mấy anh lớn trong xóm dạy cho một bài hát châm chọc người Hoa kiều -thường được gọi là “các chú” di cư sang buôn bán làm ăn tại Việt Nam. Bài hát có câu: Si-noa là giống bên Tàu, đẻ ra thằng Chệt ăn toàn… trâu! Ðối với dân tộc thiểu số miền núi (như Rhadé, Tày, Mạ, Mán…), người mình không ngần ngại gọi họ là “mọi,” với ý nghĩ rằng họ là những giống người kém văn minh hơn ta đây. Dĩ nhiên là đối với hai ông bạn láng giềng Lào và Căm-Bốt thì người Việt Nam lúc nào cũng vẫn tự coi là mình hơn người ta một bậc, bất kể về phương diện nào. Lại nhớ ngày xưa khi còn lính Mỹ tại Việt Nam, những người đi làm sở Mỹ hay phụ nữ kết hôn với binh lính và sĩ quan Mỹ vẫn còn bị coi là làm chuyện kém vinh dự hay thiếu đạo đức (vì ham tiền mới làm), và con lai —dù lai Pháp hay lai Mỹ— vẫn bị xã hội mình coi rẻ, nếu không bảo là khinh khi, gọi là “đồ lấy Tây,” “đồ lấy Mỹ.” (Chả bù với thời nay, có chút dính dáng về máu huyết hay hôn nhơn với người Mỹ da trắng, kế tới là Anh, Pháp, Ðức, Hà Lan, Gia Nã Ðại, ý, Ðan Mạch, Na Uy, Thuỵ Ðiển, áo, Úc… thì lại là một vinh dự lớn lao!)

Tàn ác, thiếu cao thượng và ưa chơi gác: Thật ra, người Việt Nam mình không phải là một chủng tộc có bản tính tàn ác. Trong các vua đời Nhà Lý và Nhà Trần, nhờ ảnh hưởng tốt đẹp của Phật Giáo, nhiều vị đã hết sức thương dân và còn biết đem lòng từ bi, hỉ xả cuả nhà Phật ra để dạy dân biết ăn ở cho có đạo đức, nhân từ. Về mặt tàn ác của người mình, sử sách còn ghi lại cách đối xử tàn bạo cuả binh lính Nhà Nguyễn dưới quyền Tướng Nguyễn Huỳnh Ðức lúc đang chinh phạt Cao Miên (đời Vua Thiệu Trị). Cung cách Cộng sản Việt Nam đối xử với tù binh Mỹ trong tay họ phải nói là tàn ác và tồi tệ chẳng thua chi quân phiệt Nhựt hồi Thế Chiến II nữa. (12) Người Mỹ, tuy bị coi là ham mê tình dục mà ít chú trọng tới danh dự (kiểu Clinton) và chỉ nghĩ đến cá nhân mình, nhưng lại giàu lòng thương hại kẻ yếu kém hơn họ. Chẳng hạn, người Mỹ, lúc đã trở nên giàu có, thường dùng tiền bạc dư thừa để làm việc từ thiện, dù có khi chỉ để mua danh. Và họ ít khi muốn đánh kẻ đã ngã ngựa, cho dù kẻ đó là Ðức hay Nhựt. Việt Nam mình thì khác: Kẻ thắng sẽ đánh, giết người thua cho tới cùng. Các ví dụ trong lịch sử gồm có chuyện Trần Thủ Ðộ giết hại tôn thất nhà Lý, chuyện Vua Gia Long cho đào mả Vua Quang Trung để lấy đầu lâu đái vào và xử tử nữ Tướng Bùi Thị Xuân cuả Tây Sơn một cách tàn nhẫn, chuyện các vua đời Hậu Lê và Nguyễn giết hại công thần… Quân viễn chinh Việt Nam tại Lào và Căm-Bốt luôn luôn chơi gác đồng minh của mình, dù phe ta là Quốc gia hay Cộng sản. Hiện đại nhứt vẫn là chuyện Cộng Sản Bắc Việt chơi gác Mỹ tại bàn Hội nghị Ba-lê, với lá bài tẩy là tù binh Mỹ trong tay họ. (Có điều trớ trêu là người Mỹ chỉ ngu đoản kỳ, trong khi Cộng sản Bắc Việt lại ngu trường kỳ!)

Phe đảng: Không dân tộc nào lại có tính phe đảng hơn người mình. Phe đảng đây có nghĩa là ngoài mình ra, mình chỉ lo cho vợ con mình, bà con mình hay bè bạn mình là hết, còn đất nước thì cứ kệ mẹ nó, muốn ra sao thì ra. Ðiều này đúng cho cả phe Quốc gia lẫn phe Cộng sản, cho nên đất nước mình mới mau chóng tàn mạt như thế này. (13) John Paul Vann, Cố vấn Trưởng Vùng II Chiến thuật hồi thập niên 1970, đã ngỏ ý xa gần rằng “người Việt Nam là những kẻ yêu thương chan chứa nhứt (thế giới)” (the Vietnamese are the greatest lovers), ý nói người mình chỉ biết yêu thương, lo lắng cho sự an nguy của quyến thuộc, thân bằng mà quên đi vận mệnh chung của đất nước. Ngay cả lúc cần phải lui quân (cỡ Dunkerque), sĩ quan và binh lính ta vẫn đèo bòng vợ con làm cho cuộc triệt thoái thêm phần vướng víu, chậm chạp và dĩ nhiên là nhiều thương vong. Hồi còn Việt Nam Cộng Hoà, cái triết lý một người làm quan, cả họ được nhờ là triết lý phổ biến nhứt và được nhiều người theo nhứt. Ai cũng chê Tổng Thống Diệm là gia đình trị, nhưng nếu chính quyền rơi vào tay một gia đình khác thì cũng thế, có điều là gia đình này có độc tài và tham nhũng hơn gia đình kia hay không mà thôi. Thời quân nhân cầm quyền ở Miền Nam Việt Nam thì chỉ có ai trong đảng ka-ki mới được trao quyền cai trị đất nước. Quân đội thì lại bị một số tướng lãnh coi như là tài sản riêng, để rồi họ cứ nhân danh tập thể Quân đội mà ban phát cấp bậc hay chức vụ cho những ai trung thành với họ. Thời Cộng sản thì khỏi nói rồi, chỉ có “Ðảng ta” là xứng đáng được ăn trên, ngồi trốc, làm giàu và cho con du học (Ðế quốc) Mỹ mà thôi! Thử hỏi một khi đã mở cửa cho dân chủ đa nguyên thì làm sao mà Cộng sản có thể thực thi chính sách phe đảng cho được?

Thiển cận: Ai viết sách hay giảng thuyết nơi đâu cũng khen ông cha chúng ta là nhìn xa, trông rộng. Sự thật chỉ đúng một phần nào đó mà thôi như phần chịu nhịn nhục triều cống Trung Hoa sau mỗi đợt chiến thắng quân xâm lược phương Bắc còn phần nhiều là thiển cận. Vì vậy dân tộc ta mới bỏ mất cơ hội canh tân đất nước (thời nhà Nguyễn), cơ hội hoà giải dân tộc và tái thiết đất nước thời hậu chiến (khi Cộng sản thắng năm 1975) và cơ hội lấy lại Quần đảo Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của ta 100 phần trăm (khi Trung Cộng đang bị đánh bại trên mặt trận sáu tỉnh biên giới phía Bắc). Cứ nhìn các công trình kiến trúc nhỏ xíu của các triều đại vua, chúa Việt Nam để lại cho hậu thế thì biết: Không phải tại vua, chúa ta nghèo hay chẳng muốn vắt kiệt sức dân để phục vụ quyền lợi riêng như vua Tàu, vua Miên, vua Xiêm hay vua Lào đâu, nhưng chính là vì cái nhìn cuả người mình không thoáng, không vượt quá luỹ tre xanh đầu làng nên các công trình kiến trúc của mình thiếu vẻ bề thế, bao la và hùng tráng. (14) Cũng chỉ vì tầm nhìn không xa, không rộng nên dân chúng Miền Nam mới liên tục biểu tình đòi hoà bình với bất cứ giá nào, đòi Mỹ cút ngay, cho dù Việt Cộng đang đánh sát sàn sạt bên hông. Còn các tướng, tá trong Quân Ðội Cộng Hoà thì chỉ thích lật đổ Tổng Thống Diệm cho khuất mắt để được dịp tự lên lon cho lẹ! Và cũng chính vì cái tính thiển cận này mà người Việt hải ngoại ít quan tâm đến những cuộc đầu tư có tính cách lâu dài, như đầu tư vào chính trị (đi bầu cho đông để tạo áp lực, ra tranh các chức vụ dân cử…) hay đầu tư vào văn hoá (cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam, làm công tác bất vụ lợi…) mà chỉ thích làm sao hễ sáng bỏ tiền ra là tối phải thu lợi vào ngay, chớ không thể để ngâm vốn lâu được!

Ganh ghét và đố kỵ: Tại sao người Việt hải ngoại sau hơn hai thập niên sống lưu vong vẫn chỉ làm được có mỗi một việc (coi không được) là đem nộp cho Cộng Sản Việt Nam hơn một tỷ đô-la mỗi năm? Ðó lại người mình không đoàn kết (trong tình đồng bào cũng như trong sách lược chung), mà cỗi nguồn của tình trạng này vẫn là lòng ganh ghét, đố kỵ nhau từng ly, từng tí. (15) Ðối với người mình, trâu buộc ghét trâu ăn đã đành, nhưng trâu ăn này lại còn ghét cay, ghét đắng trâu ăn kia nữa mới là đáng nói! Một ví dụ điễn hình là vụ Còi hụ Long An thời Ðệ nhị Cộng Hoà ở Miền Nam Việt Nam, tức là vụ phe của Bà Thiệu tranh đua buôn lậu với phe của Bà Khiêm, đôi bên đều sử dụng các lực lượng quân đội hùng hậu, kéo còi hụ hộ tống hàng hoá um sùm trời đất. Người viết bài này trộm nghĩ phe Cộng sản bên nhà cũng chẳng khá hơn phe hải ngoại trong lãnh vực này. Cứ nhìn việc “Ðảng ta” hạ bệ ngay và không tiếc xót “đệ nhất công thần” Võ Nguyên Giáp sau trận Ðiện Biên Phủ hồi 1954, cứ nhìn những cuộc thanh trừng nội bộ liên tiếp trong “Ðảng ta” —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là nạn nhân “đáng thương” nhứt— từ hồi chiếm được Miền Nam Việt Nam đến nay thì đủ biết.

Thích làm vua, làm chúa: Cái này thì đã rõ từ thời còn mồ ma thực dân Pháp kia, khi các quan cai trị Pháp nghiên cứu về dân tộc tính của người “An-nam” ta. Một vị Tây mũi lõ —dường như là Toàn Quyền Pierre Pasquier— đã “phán” thẳng thừng: Trong bụng mỗi một người An-nam đều có một ông quan. Câu nói này tuy hơi khắt khe nhưng cũng đã nói lên tính thích làm vua, làm chuá của người mình. Chính vì cái tính này mà người mình đâu có ai chịu phục ai. Bởi thế cho nên, nhìn quanh, nhìn quất trong cộng đồng người gốc á châu-Thái Bình Dương ở hải ngoại, chỉ có nhóm người Việt Nam mình là phải thường xuyên khổ sở vì tranh chấp và kiện tụng về quyền lãnh đạo, từ các trung tâm văn bút cho tới các ban đại diện cộng đồng. Quý vị còn lạ gì khi thấy cảnh bên Mỹ một tiểu bang hay nửa tiểu bang mà có tới hai, ba ban đại diện cộng đồng Việt Nam, trong khi đó xuất hiện hằng trăm hội đoàn, mà hầu hết các hội đoàn này chỉ có chủ tịch đứng tên trong hội đồng quản trị mà thôi. Thậm chí có người đã cả gan một mình đứng làm chủ tịch cả chục hội đoàn, vừa Việt vừa Mỹ. Mà phải như các hội đoàn này có hoạt động gì ích quốc, lợi dân cho cam! Trái lại, nó chỉ hiện diện để người cầm đầu dễ bề lợi dụng danh nghĩa cộng đồng vào những âm mưu làm kinh tế hay chính trị riêng tư của họ.

Không công tâm: Không công tâm tức là tư vị, mà chuyện này thì xảy ra như cơm bữa tại Việt Nam dù dưới chế độ nào đi nữa. Con ông, cháu cha (phải được ưu tiên) vẫn là phương châm của mọi thời đại. Vì không công tâm nên mới sinh ra nạn phe đảng và bè phái làm ung thối mọi cấp chính quyền trong quá khứ cũng như hiện tại, bên này hay bên kia vĩ tuyến 17 cũng vậy. Chính nhờ nổi tiếng là có công tâm nên Cụ Trần Văn Hương mới được mời làm đến Thủ Tướng và sau đó là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng điều đáng tiếc cho vận nước là số người như cụ không nhiều hơn số ngón trên một bàn tay đã cụt hết bốn ngón rồi! Bệnh không công tâm còn thể hiện qua cách viết lách, tường thuật, phê phán vụ việc và ghi chép lịch sử nữa. Ðặc biệt về cuộc Chiến Tranh Việt Nam, người Việt Nam, ở một mức độ cao hơn người Mỹ, thường thiếu công bằng khi kể lại các sự kiện xảy ra. Nếu là một cựu quân nhân Nhảy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến hay bộ binh viết về một trận đánh nào đó tại Nam Việt Nam, thành tích của đơn vị gốc cuả tác giả thường được đề cao, trong khi thành tích cuả các đơn vị bạn lại bị kín đáo dìm xuống hay có khi bị lờ đi, không đề cập gì tới cả. (16) Lối tường thuật và viết sử của Cộng sản dĩ nhiên là còn tồi tệ hơn nhiều, nghĩa là không đếm xỉa gì tới sự thực mà hoàn toàn thiên vị nhằm mục đích tuyên truyền và độc tôn phe Cộng sản. Dĩ nhiên, một lý do khác của sự thể này là người cầm bút của mình thường thiếu phương pháp sử học và không hề để ý tới nguyên tắc vô tư trong tường thuật báo chí.
10. Không tôn trọng luật lệ: Chính nhờ tinh thần thượng tôn luật pháp mà Mỹ Quốc,tuy chỉ mới lập quốc có hơn 200 năm, nay đã trở thành một siêu cường giàu mạnh nhứt thế giới. Nhưng Việt Nam ta thì coi như không mấy ai bận tâm đến chuyện phải tôn trọng luật pháp. Ðây là hậu quả tất yếu của một quốc gia phải trải qua cả nghìn năm chinh chiến, hết nội thù đến ngoại xâm, hầu như không có lúc nào được an hưởng thái bình đủ lâu để củng cố hệ thống luật pháp chung cho đất nước. Ðất nước Việt Nam tuy mang tiếng là được trung ương tập quyền từ đời Lý (thế kỷ thứ 11-13) nhưng thiệt sự triều đình chỉ nắm được quyền thu thuế và bắt lính qua trung gian một hệ thống làng xã khá vững chắc. Phép vua thua lệ làng, câu này vừa nói lên tính tự trị từ ngàn xưa cuả hệ thống làng xã Việt Nam – vì triều đình quá bận bịu chinh chiến chống ngoại xâm và nội thù — vừa nói lên sự lỏng lẻo cuả luật pháp quốc gia. Hay nói khác đi, Việt Nam chỉ thiệt sự có luật pháp quốc gia từ đầu thế kỷ 19 với Bộ Luật Gia Long, mặc dù, trên nguyên tắc, đất nước đã có luật pháp chung kể từ thời Lê Thánh Tôn (thế kỷ thứ 15) với Bộ Luật Hồng Ðức. Nói chung, ý thức tôn trọng luật pháp của người mình rất thấp. Một phần là vì khả năng truyền thông yếu kém do tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phần khác do đầu óc sứ quân và óc địa phương, làng xã còn nặng, phần khác nữa do đời sống dân chúng hãy còn quá đơn giản, chưa có những nhu cầu phức tạp của một dân tộc văn minh cao. Khi Cộng Sản cởi đầu, cởi cổ được cả hai miền Nam Bắc thì họ liền trở về với tình trạng phân hoá sứ quân cũ, nghĩa là mỗi tỉnh đều có luật lệ riêng để áp dụng, có khi luật tỉnh (do bí thư tỉnh ủy đảng Cộng Sản hành xử) còn được đặt trên cả luật pháp quốc gia, với dụng ý để cho cán bộ tỉnh dễ bề tham nhũng và có thể tuỳ tiện ăn hối lộ mà không cần phải trình báo cho trung ương. Và rồi tình trạng vô luật pháp chỉ là một hậu quả tất nhiên của tệ nạn tham nhũng và hối lộ lan tràn, bởi vì lúc nào cũng thấy diễn ra cảnh “nén bạc đâm toạc tờ giấy.” Ngày nay, những ai từng về Việt Nam du lịch đều nhìn nhận rằng Việt Nam không hề có luật lệ giao thông. Hễ đã ra đường rồi thì mạnh ai nấy chạy, mạnh xe nào nấy đi, chừng nào tai nạn xảy ra thì cứ chửi nhau inh ỏi cả lên, ai to tiếng hơn thì thắng, còn có bồi thường thì cũng chỉ là vờ vịt, qua loa mà thôi, chủ yếu là xuýt xoa xin lỗi.
Cướp công của người khác: Vì không có một hệ tư tưởng hay học thuyết dân tộc cuả riêng mình, người Việt Nam rất dễ dàng tiếp nhận những luồng tư tưởng từ bên ngoài. Việt Nam đã du nhập nào Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo, Cơ-Ðốc Giáo, chủ nghĩa tự do dân chủ Tây phương, chủ nghĩa duy vật Mác-xít Lê-nin-nít, triết học hiện sinh cùng với các trường phái nghệ thuật từ cổ điển và lãng mạn tới ấn tượng và lập thể. Người mình còn ưa lấy các học thuyết khác nhau của Trung Hoa và Ấn Ðộ xào nấu lại rồi cho đó là công trình sáng tạo của mình, gọi các công trình đó là một hình thức Việt Nho hay Việt Học (17) Các sản phẩm kiến trúc hay âm nhạc cuả Việt Nam thiệt ra đều là những bản sao có thêm thắt cuả lối xây cất hay cách thế ca hát, nhảy múa của Trung Hoa và Chàm (Ấn Ðộ) (18) Các nhà cai trị thực dân Pháp cũng từng ghi nhận rằng dân tộc Việt Nam có tài bắt chước, mà hễ đã bắt chước thì không phải là sáng tạo mà chỉ là lấy của người làm của mình thôi. Một tỷ dụ điển hình khác cuả thói xấu này là tật “cướp công cách mạng” khi Cộng Sản tự vỗ ngực cho rằng chính họ là người duy nhứt đi tiên phong trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhựt. Thiệt sự thì những đảng phái quốc gia khác như Việt Nam Quốc Dân Ðảng hay Ðại Việt, hoặc các giáo phái như Cao Ðài và Hoà Hảo cũng là những thành phần có công chống Pháp, kháng Nhựt vậy. Chỉ có điều là họ không giành được chính quyền vào tay để mà tha hồ kể công với lịch sử như Cộng sản đang làm.

Ưa nịnh bợ, tâng bốc: Vì có máu kiêu ngạo thêm tính ưa làm quan (như đã kể trên), người Việt Nam thường chỉ thích được kẻ khác nịnh bợ, tâng bốc. Những lời nói thiệt, nói thẳng kiểu Nguyễn Trường Tộ hay Phan Châu Trinh dễ làm vua quan ta phật ý. Sử chép rằng Vua Khải Ðịnh thích được các quan quỳ lạy, xưng tụng đến nỗi nhà vua đã cho thiết lập cả một triều đình ngay tại Marseilles trong thời gian có Hội Chợ Kinh Tế (Ðấu Xảo) Ðông Dương thuộc Pháp năm 1925. (19) Tổng Thống Diệm cuả Miền Nam Việt Nam chỉ thích được nghe người ta ôsuy tôn Ngô Tổng Thống.ọ Nhưng họ Hồ và Ðảng Cộng Sản Việt Nam thì ở một mức độ cao hơn nhiều. Ðám bồi bút và văn nô cuả Hồ Chí Minh, đứng đầu là Tố Hữu (nhà thơ mà sau làm đến Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Ðổi Bạc) với các phụ tá như Xuân Diệu, Nguyễn Ðình Thi, Huỳnh Minh Siêng… lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, làm văn, làm nhạc, hết mình ca tụng Bác và Ðảng. Và cho dù Bác và Ðảng có thực sự xua đẩy đất nước mình xuống bờ vực thẳm, họ cũng không hề dứt lời say sưa ca ngợi: Bác đến từng nhà thăm các cụ già, cầm tay chúng con, Bác bắt nhịp bài ca kết đoàn. —Tiếng Hát Thành Phố Mang Tên Người.

Thích ăn hối lộ: Ðây là căn bệnh chung của phần lớn các quan lại và những người mà trong bụng lúc nào cũng có một ông quan. Bệnh phát triển quá mức bình thường một khi niềm tin vào kỷ cương và giềng mối cuả đất nước tan rã. Tại Miền Nam Việt Nam, sau khi chiếm được Dinh Gia Long, phe đảo chánh Tổng Thống Diệm chỉ tìm thấy chiếc giường gỗ và một giá sách trong phòng ngủ của ông. Nhưng sau khi Tổng Thống Thiệu ra đi, người ta tin rằng ông đã mang theo ra nước ngoài nếu không phải là cả tấn vàng thì cũng một số lớn tài sản tích luỹ được -kể cả các chương mục ngân hàng tại Thuỵ Sĩ— sau 10 năm cầm quyền. Các tướng lãnh dưới quyền ông từ Trần Thiện Khiêm tới Cao Văn Viên và Ðặng Văn Quang cũng đều được người đời nhắc nhở tới như là những tay tham nhũng lớn của chế độ. Các vị này vẫn thường coi chuyện ăn hối lộ và tham nhũng như là quyền đương nhiên của giới lãnh đạo, nhứt là trong lúc đất nước đang có chiến tranh, bản thân họ thì phải vào sanh ra tử. Tỷ dụ như Tướng Ðỗ Cao Trí, một vị tướng rất tài giỏi (cỡ Patton) nhưng không sạch của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong một phút cao hứng, từng nói với báo chí ngoại quốc rằng ông vừa đánh giặc vừa làm giàu, (ý nói ông có quyền tham nhũng và buôn lậu qua vùng tam biên). Nhưng than ôi! Tham nhũng cỡ đó thì đâu có thấm béo gì nếu so với các quan chức Cộng sản hiện đang toàn quyền cai trị 75 triệu dân Việt Nam (và một số Việt kiều yêu nước ở hải ngoại)! Trên thực tế, tình trạng tham nhũng và hối lộ ở Miền Nam, phát sinh từ chiến tranh chống Cộng, đã gia tăng với một nhịp độ khủng khiếp sau khi Sàigòn rơi vào tay Cộng sản. Và tình trạng này đã lây lan mãnh liệt, làm ung thối luôn cả chế độ Cộng sản Miền Bắc vốn bị kìm hãm trong kỷ luật sắt của một nước độc tài, đảng trị (đang dốc hết mọi tài nguyên vào cuộc chiến tranh xâm lược nước khác) và quá nghèo nàn, không biết lấy gì để tham nhũng cho ra trò. (20) Dân chúng Miền Nam Việt Nam vẫn cho rằng ngày xưa vì chỉ có các ông lớn ăn —mà phần lớn là ăn tiền của Mỹ cho— nên dân còn đỡ đỡ một chút. Nay dưới trào Cộng sản thì mạnh lớn, lớn ăn, mạnh nhỏ, nhỏ ăn (mà lại chỉ ăn vào tiền mồ hôi nước mắt cuả dân chúng chớ làm gì có viện trợ của Liên Sô hay Trung Quốc đổ xuống dồi dào như hồi Mỹ chưa phụ bạc Miền Nam Việt Nam) nên đất nước ta mới xác xơ đến vậy. May mà có Việt kiều hải ngoại thương tình mỗi năm chính thức bôm vào trong nước khoảng 1 tỷ rưỡi đô-la chớ không thì dân nghèo sẽ chết trước hết, rồi từ từ mới đến người giàu và cán bộ, đảng viên khệnh khạng mua vé Air France hạng tối danh dự bỏ nước ra đi sang định cư tại Thuỵ Sĩ!

Tham lam: Mặc dù lòng tham là bản tính chung Trời ban cho loài người không phân biệt chủng tộc, người Việt Nam đặc biệt tham hơn người khác vì đau khổ và thiếu thốn nhiều quá. Lòng tham này biểu hiện trong cách buôn bán lừa đảo, làm hàng giả và chặt đầu lột da, không phân biệt phải trái và không kể chi đến chuyện lưu nhân tình để ngày sau hảo tương kiến. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, người Việt gốc Hoa, tuy cũng tham lam chớ chẳng phải là không, trong buôn bán vẫn tỏ ra thiệt thà và giữ gìn chữ tín hơn là người Việt chính tông của mình. Cộng Sản, tuy tự xưng mình là vì giai cấp vô sản mà chiến đấu, lại đặc biệt bóc lột đám dân vô sản cô thế và xô đẩy con người vào chỗ tham lam vô cùng, vô tận. Cứ đi về Việt Nam du lịch một vòng thì biết liền: Bà con, họ hàng gì mà cho tiền ít thì hờn giận, nói xỏ, nói xiêng; địa phương thanh lịch gì mà qua cầu khỉ cũng phải trả tiền; khách sạn tối tân cỡ nào mà giá lại đắt hơn cả bên Mỹ; “núm ruột ngàn dặm” gì mà hễ đi thăm thú nơi đâu thì cũng bị đồng bào ruột thịt chặt tiền gấp đôi… Ai cũng ngậm ngùi khi thấy cảnh hoàng cung và các lăng tẫm tại cố đô Huế tiêu điều, hoang phế mặc dầu đây là một trong các điểm du lịch hái ra tiền nhiều nhứt nước. Ai có ngờ đâu rằng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cấp cho nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hằng triệu Mỹ kim để trùng tu di tích này, nhưng họ cứ để vậy, một phần vì tiền đó đã bị họ chia chác nhau ăn cả rồi, phần khác vì họ có thâm ý tạo cảnh tang thương đặng gợi lòng xúc cảm của du khách, mà chung quy cũng chỉ là để moi tiền thêm mà thôi!

Không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc: Người Việt Nam tỏ ra rất thích nghi thức và kiểu cách, nhưng lại không chịu tuân thủ một nguyên tắc nhứt định nào làm chuẩn cả. Từ lễ cúng ông bà ngày Tết cho tới lễ cúng thần hoàng hay lễ hỏi, lễ cưới… mỗi miền đều theo một nghi thức riêng, không ai chịu ai là chuẩn mực. Rồi cứ thế tam sao thất bổn, đến đời nay mỗi khi có lễ lạc gì thì mạnh ai nấy làm, mới nhìn thì cũng na ná như nhau, lại gần mới biết là không nơi nào hành lễ giống như nơi nào cả. Theo một bài viết của cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, hồi tháng Ba năm 1975, các đơn vị thuộc Vùng I Chiến Thuật đã phải rút bỏ Huế chỉ vì phải tuân thủ nguyên tắc ôthi hành trước, khiếu nại sauọ của Quân Ðội, trong khi đó vị tổng tư lệnh là Tổng Thống Thiệu thì lại không tuân giữ nguyên tắc trước sau như một khi ban lệnh: chiều thì lệnh phải giữ Huế, sáng thì lệnh phải bỏ Huế, làm cho lòng quân rối loạn dẫn tới chuyện mất Vùng I rồi mất nước luôn (21) Cộng Sản cũng vậy, đã có lệnh của trung ương rồi, nhưng các tỉnh ủy vẫn tuỳ tiện ra phản lệnh hoặc ra thêm lệnh khác, nhứt là lúc cần đánh thêm một đợt thuế nữa vào những nhà đầu tư ngoại quốc lớ ngớ tới làm ăn tại Việt Nam. Còn chuyện không tuân thủ giờ giấc thì ai cũng biết là người mình chẳng hề có khái niệm nào đứng đắn về thì giờ, vì thế mới có thứ giờ cao su. Cứ chịu khó đi dự một phiên họp cộng đồng hay đi ăn một đám cưới nào thì quý vị đủ biết. Giờ hành lễ trên giấy tờ là 9 giờ sáng hay 5 giờ chiều thì cứ y như rằng là phải đợi mãi đến 11 giờ trưa hay 7 giờ tối mới nói tới chuyện khai mạc được, rồi rề rà, ê a mãi tới quá ngọ hay tuất gì đó (9 giờ tối ) mới thực sự đi vào trọng tâm buổi lễ. Ðiều có vẻ khó hiểu là hầu hết các quan khách Việt Nam này bình thường, khi đi làm sở Mỹ để lãnh lương, thì lại rất hiếm khi thấy có ai dám thử mạo hiểm dỡn mặt supervisor đi làm trễ giờ!

Không tuân giữ các cam kết: Thất hứa hay không tuân giữ các cam kết cũng là một trong các thói xấu mà người Việt mình mắc phải. Các chính trị gia thời chế độ Cộng Hoà ở Miền Nam ưa thất hứa vì tình trạng bầu bán lúc đó, tuy có dân chủ nhưng chưa dân chủ đúng mức, cho nên cử tri khó có dịp để trừng phạt họ bằng lá phiếu. Chính quyền Cộng sản bây giờ tại Việt Nam thì hoàn toàn không hề bận tâm đến chuyện phải giũ lời hứa với ai, vì có cử tri nào có thực quyền hạ bệ họ đâu mà họ phải ngán? Chuyện nuốt lời hứa của Cộng Sản đã nổi bật ngay sau khi họ “giải phóng” được Miền Nam và đưa hằng trăm ngàn quân nhân, viên chức, thành viên các đảng phái đối nghịch với họ đi “học tập cải tạo” từ 1 tháng tới 10 ngày. Các con số 1 tháng hay 10 ngày này sau cùng đã biến thành 5 năm, 10 năm, 15 năm hay lâu hơn nữa, bởi vì toàn thể Miền Nam Việt Nam đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trắng trợn lường gạt ngay trong “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” (22) của cuộc “hoà hợp, hoà giải dân tộc” mà họ đã không ngừng cổ võ và cam kết để phía bên kia nhẹ dạ nghe theo mà buông súng đầu hàng cho lẹ.

Trên đây mới chỉ là 18 trong vô số những thói xấu mà người Việt ở trong cũng như ngoài nước hiện đang mắc phải. Có thể một số quý vị sẽ cảm thấy bàng hoàng vì không tin là cái dân tộc của chính mình mà lại mang nhiều khuyết điểm trong đạo đức làm người đến như vậy.
Ðể quý vị có thêm cơ sở, người viết xin đưa ra một số nguyên do đã đưa đẩy con người Việt Nam, bằng máu và thịt, ở trong cũng như ngoài nước, đến cuộc khủng hoảng đạo đức và xã hội như hiện nay:

Vì nội chiến và ngoại xâm liên miên trong suốt chiều dài của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn phải đặt mình trong tình trạng nghi ngờ, giận dữ và thù hằn. Cái đạo đức của một dân tộc hiếu hoà như bất cứ dân tộc nhỏ bé nào đó trên một hải đảo Thái Bình Dương nào đó thiệt khó có cơ hội phát triển trong dân tộc mình. Ðiều này cũng tương tự như hoàn cảnh cuả một đứa bé phải sống trong bối cảnh một gia đình đầy những sự lạm dụng (abuse) và bạo lực (violence). Do lâm trận hoài trong chiến tranh, người Việt Nam có thể là những chiến sĩ tài giỏi nhứt thế giới, nhưng đồng thời cũng có thể là những con người ít thuần tánh nhứt và dữ dằn nhứt. Cứ xem cung cách quân ta hành xử với người Chàm trước đây hay người Miên sau này (mà sử sách còn ghi lại) thì đủ biết. Ðiều này cũng có thể giải thích phần nào sự tàn ác mà Cộng sản vẫn thường dành cho các tù binh trong tay họ, cho dẫu đó là người (Miền Nam) đồng chủng tộc với họ hay người Mỹ dị chủng, mũi lỏ, mắt xanh.

a. Chiến tranh triền miên và tiêu hao, cộng thêm với những năm tháng bị xích xiềng nô lệ vừa làm cho người Việt Nam bị phân hoá (dân Bắc kỳ, dân Trung kỳ, dân Nam kỳ; Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo, Bình Ðịnh so đo, Thừa Thiên đớp hết…) vừa làm cho quyền lực của chính quyền trung ương khó tới được các địa phương và tạo ra tình trạng phép vua thua lệ làng như đã nói, một tình trạng thiệt chẳng hay ho gì nếu ta xét về mặt quyền lợi quốc gia, vì nó đẻ ra tệ nạn sứ quân (thời tiền Ðinh) và tỉnh uỷ (thời Cộng Sản). Ðiều này cũng giải thích tại sao dân tộc Việt Nam là một trong các dân tộc ít được chính quyền (do họ bầu lên hoặc không) chăm lo, phục vụ nhứt trong lịch sử nhân loại. Mối quan hệ dễ thấy nhứt giữa ônhà nướcọ và ônhân dânọ ở Việt Nam là bên này chỉ chăm chú bắt bên kia phải đóng thuế và đi lính cho mình, chớ bên này chẳng hề phải lo lắng, phục vụ cho bên kia như quan hệ giữa chính quyền và dân chúng tại các nước khác trên thế giới mà người Việt hải ngoại đã may mắn có dịp nhìn thấy và học hỏi.

b. Chiến tranh và “đổi đời” liên tiếp cũng tạo nên trong tâm lý người Việt Nam những điều thái quá không hay khác như không cha không chúa, hoài nghi, lo lắng, tích luỹ, dễ bạo động, không khoan nhượng và tha thứ, nhẫn tâm, chai đá, sống cuồng sống vội, vá víu, cục bộ, tuỳ tiện, bội bạc, tham lam, hỗn quân hỗn quan, vô luật pháp, vô đạo đức… Ðọc lại lịch sử đất nước, các vua, chuá ta một khi đã chiến thắng kẻ khác thường không mấy khi hành xử cho cao thượng mà chỉ lo trả thù, đôi khi khá hèn hạ. Họ cứ làm như là không hề biết tới cái đạo lý của các hiệp sĩ từ Ðông sang Tây là không đánh kẻ ngã ngựa. Ðiều này giải thích tại sao Cộng Sản Việt Nam đã công khai hành hạ và ngấm ngầm giết hại hằng trăm ngàn tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hoà qua chính sách giả nhân giả nghĩa “học tập cải tạo” mà họ luôn mồm huênh hoang là “khoan hồng nhân đạo” (nhứt thế giới!) Quý vị hẳn cũng thừa biết, về phiá dân tộc Mỹ, với chỉ có 200 năm văn hiến, kẻ thắng (phe Miền Bắc) đã đối xử ra sao với người bại (phe Miền Nam) sau cuộc Nội Chiến 1861-1865.

c. Xét riêng về Miền Nam Việt Nam, nền đạo lý dân tộc cũng đã suy sụp theo thời gian và tuỳ vận nước nổi trôi. Thời Ðệ Nhứt Cộng Hoà, chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tuy bị người đời (và nhứt là người Mỹ) gán cho là gia đình trị và đàn áp tôn giáo, vẫn có cái thanh bình, an lạc và kỷ cương của nó mà suốt quãng đời còn lại sau này dân chúng Miền Nam Việt Nam không còn tìm thấy đâu nữa. Thời Ðảo Chánh và Tướng Lãnh cầm quyền, đạo đức bắt đầu đi xuống và hỗn loạn đã thấy ló mầm với hơn nưả triệu binh lính Mỹ tràn vào các thành thị và thôn làng Việt Nam, (cho dẫu với sứ mạng cứu viện đồng minh). Thời Ðệ Nhị Cộng Hoà, khi mãnh lực cuả đồng đô-la Mỹ bắt đầu lấn áp nền luân lý khắc kỷ Á Ðông —vẫn còn đâu đó ở Nam Việt Nam sau cơn hỗn quân, hỗn quan— các tệ nạn như tham tài bội nghĩa, giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ, vật giá leo thang, bợ đít quan thầy, đĩ điếm, ăn cắp (đồ Mỹ trước, đồ bạn sau rồi tới đồ nhà), ăn chơi đua đòi, sống thác loạn… bắt đầu hoành hành, gây đổ vỡ cho gia đình và làm rạn nứt giềng mối quốc gia. Với cường độ tham nhũng gia tăng theo đà chiến tranh tàn khốc cộng với nạn khủng hoảng kinh tế triền miên vì tiền viện trợ Mỹ, khi trồi, khi sụt (thời Tổng Ngọc, thời Tiến sĩ Hảo, thời thuế trị giá gia tăng, thời thuế kiệm ước…), luật pháp quốc gia và đạo đức dân tộc coi như tụt giốc kinh hoàng. Nhưng cũng chưa đến nỗi, vì vẫn còn có những gương sáng xa xa và lẻ loi như một Thủ Tướng Trần Văn Hương liêm khiết, một nhà văn hoá Mai Thọ Truyền tâm huyết cộng với nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng là bốn tướng sạch (và giỏi nữa) trong Quân Ðội. Cho đến đời Cộng Sản thống trị thì vũ trụ mới thiệt sự sụp đổ hoàn toàn trên đầu dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Ðể giải thích cho sự băng hoại và tan rã hoàn toàn cuả xã hội Việt Nam hiện nay dưới ách thống trị mê muội và điên cuồng của Cộng sản, chỉ cần xét tới các nguyên do sau:

Người bình dân Việt Nam, vốn không phải là những triết gia có chiều sâu và những tín đồ có đức tin vững vàng, dễ có khuynh hướng tin rằng Ông Trời không có thiệt hoặc không có mắt, vì làm lành như Việt Nam Cộng Hoà lại bị Thế Giới Tự Do và người bạn Ðồng mInh Mỹ rủa sả và bỏ rơi, trong khi làm ác như Cộng Sản vẫn không hề bị trừng phạt mà lại còn được vinh thân phì da, thăng quan tiến chức, giàu có bốn biển, năm thê bảy thiếp, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng, tiền rừng bạc biển, ăn trên ngồi trốc, miệng hét ra lửa, tay chân nắm quyền, Việt kiều [vừa yêu nước vừa] sợ sệt, tiền gởi Thụy Sĩ, con học Huê Kỳ… Hễ Thượng Ðế (Ông Trời) đã chết thì con người được phép làm mọi sự mà không sợ bị ai xét đoán, trừng phạt. (23) Người Việt Nam ngày nay được tự do làm mọi điều thất đức và đoản hậu vì, qua cuộc đổi đời vừa qua, lúc người trung mắc nạn chẳng hề có tiên xuống phò gì cả. (24) Hơn nữa, chủ trương cuả Cộng Sản là vô thần và bách hại tôn giáo, nhưng, cho tới nay, chưa có vị thần thánh nào (mà các tôn giáo vẫn cho là linh thiêng lắm) đủ quyền năng để ra tay trừng phạt (bẻ cổ…) họ cho dân chúng mở mắt ra. Sự thực thì chỉ có tôn giáo mới có thể cung ứng một thứ luật pháp tối thượng và vĩnh cửu để chăn giữ người đời làm lành, lánh dữ, cũng như chỉ có sự hiện hữu cuả một Ðấng Chí Tôn mới củng cố được niềm tin cuả nhân loại về tội ác và hình phạt và về ngày phán xét cuối cùng. (25) Cứ xem cái gương của nước Mỹ: May mà tôn giáo (mà đại diện là các nhà thờ) bên này vẫn còn mạnh chớ nếu không thì luân thường đạo lý của dân Mỹ ngày nay đã đi đong rồi (mặc dù hiện nay tiền bạc và tình dục đang ở thế thượng phong, trên chưn đạo đức).
Tâm lý tuyệt vọng đã xô đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ ngày càng xa rời đạo lý và tiến gần đến tội ác. Thông thường, nếu một người có chút hy vọng vào cuộc sống thì người đó, dẫu sao, vẫn e dè hay miễn cưỡng khi phải phạm tội, vì họ vẫn còn hy vọng vào sự thưởng phạt trong đời. Ngược lại, người tuyệt vọng có mọi lý do để biện minh cho những hành động vô luân, ác đức của mình, bởi vì, theo họ, trách nhiệm về mọi tội ác thuộc về kẻ khác, nhứt là những kẻ đã làm cho đời họ trở nên tuyệt vọng, mà trong trường hợp này là những lãnh tụ Cộng sản bất tài và vô đạo đức đang thống trị đất nước. Phần lớn dân chúng Việt Nam hiện nay đều mang tâm lý tuyệt vọng, không hề tin tưởng gì vào tương lai đất nước hay vào những mỹ từ như tổ quốc, dân tộc, danh dự, trách nhiệm… mà mạnh ai nấy tìm cách đưa gia đình, con cái mau mau chạy ra nước ngoài (nhứt là sang Mỹ, dĩ nhiên rồi!) qua ngã chữa bệnh, du học, hay theo các diện hôn phu, hôn thê, hôn phối… Và phần lớn số người còn ở lại Việt Nam đều là những kẻ, hoặc không có phương tiện hay cơ hội nào để bỏ nước ra đi, hoặc là vì họ đang có thừa thế lực và tiền bạc để có thể lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của người khác mà củng cố quyền hành và làm giàu thêm.

Nền giáo dục cuả Cộng Sản Việt Nam coi như sụp đổ hoàn toàn vì tiền bạc cũng không để xây dựng trường, lớp và nâng đỡ học sinh nghèo (vốn chiếm đại đa số trong tình trạng kinh tế suy sụp hiện nay) mà tình nghĩa thầy trò cũng mất rồi. Thiệt tình mà nói, hiện nay một số các tổ chức tư nhân từ hải ngoại đang phải về Việt Nam lo xây dựng trường, lớp cho con em đi học, bởi vì chính quyền Cộng sản trong nước, có lẽ vì tham nhũng nhiều nên mập quá, tối ngày chỉ biết nằm mà ăn thôi, chớ không sao đứng dậy nổi mà lo cho dân nghèo (theo đúng đường lối mà Ðảng đã huênh hoang từ năm 1932), cho dù dân nghèo đó lại chính là các em nhi đồng cục cưng của “Bác Hồ kính yêu” thuở nào. Trong khi đó, một số không nhỏ các giáo viên trong nước, nhân danh nghèo đói, lại đang triển khai lề thói bắt học trò của mình phải đóng tiền để học riêng tại nhà mình (viện cớ phải kèm cặp thêm cho mau giỏi), nếu trò nào, nghèo quá, không đến học nổi thì thường bị trù dập. Vả lại, các trường học Cộng Sản không hề dạy cho trẻ em về đức dục, tức là luân lý (như kiểu “luân lý giáo khoa thư” mà các cụ lưu vong bên này vẫn ngày đêm nhớ thương, tiếc nuối) mà chỉ dạy về chính trị, về lòng hận thù (giai cấp) và về lý thuyết cộng sản, tức là một hình thức công dân giáo dục (civics) nào đó. Ngay sau “giải phóng,” một giáo viên Miền Bắc thuộc loại con ông cháu cha vào dạy học ở các trường Miền Nam Việt Nam đã phải thốt lên: Ôi! Sao mà học trò trong Nam này lại lễ phép và học giỏi đến thế! Chả bù với học sinh Miền Bắc (xã hội chủ nghĩa), vừa vô lễ lại vừa dốt như bò! (26)

d. Chủ nghĩa vật chất, mãnh lực kim tiền và nếp sống thụ hưởng kiểu Mỹ (mà Cộng Sản đã hoan hỉ rước vào như một cứu tinh cho nền kinh tế thối rửa của họ) đang hoành hành dữ dội tại Việt Nam nhờ có những đợt thăm viếng (điạ đạo Củ Chi) của du khách ngoại quốc cùng với các chuyến về thăm quê hương liên tiếp và gởi tiền về Việt Nam ồ ạt của Việt kiều hải ngoại (mà số dách là Việt kiều từ Mỹ, kế đến theo thứ tự là Ca-na-đa, Anh, Pháp, Bỉ, Hoà Lan, Úc, ý, Ðức (bắt đầu hơi kẹo), Nhựt Bản (cũng hơi kẹo), Nam Hàn (kẹo hơn chút nữa), rồi mới tới các lân bang, các hải đảo Thái Bình Dương và Phi Châu). (27) Từ chỗ tranh sống, những thành phần giàu có không mấy hợp pháp nhờ thời thế hỗn mang hiện nay (như thành phần đảng viên, cán bộ cộng sản, dân đầu cơ tích trữ, mánh mung…) lại đang tranh sướng, tức là làm sao cho cuộc sống của cá nhân mình, gia đình mình và phe đảng của mình ngày một tràn đầy khoái lạc hơn, bất kể quốc gia hưng vong. Trong khi nội lực (đạo đức làm người) thì không có, mà ngoại chưởng (đô-la và nếp sống hưởng thụ) thì lại quá mạnh, hỏi làm sao dân tộc Việt Nam chống nổi để khỏi bị trầm luân, băng hoại và từ từ tiến đến chỗ diệt vong?

e. Sống gian lận, lừa đảo lâu thành quen, và thói xấu này dần dần đi vào cõi vô thức của dân tộc, hay nói cách khác là nhập tâm, tức là hội nhập vào tâm tình dân tộc. Tội nghiệp cho dân Việt Nam thuộc thế hệ hiện nay ở chỗ là họ không hề biết là mình đang ngày càng xa rời cỗi nguồn đạo đức mà mới đời ông, đời cha của họ vẫn còn có đó. Hễ vào làm việc nơi đâu thì phải lo ăn cắp thì giờ, nguyên vật liệu và cả tiền bạc (khi có cơ hội thụt két) để được no đủ, vì nhà nước hay xí nghiệp chỉ có thể cung cấp cho họ đồng lương chết đói. Là dân buôn bán, cho dù là bán thuốc Tây —trên nguyên tắc là để cứu nhân độ thế— nhưng người ta vẫn phải áp dụng mọi thủ đoạn lường gạt khách hàng mới mong giàu có. Câu chuyện ngụ ngôn về đạo đức nhan đề Cái Cân Thuỷ Ngân mà ngày xưa vẫn thấy đem giảng dạy tại các học đường để cảnh giác con người phải làm ăn và sống cho lương thiện thì ngày nay không hề được nhắc nhở đến. Ngày xưa thì chỉ có Hoa kiều Chợ Lớn chuyên làm đồ giả mạo để tranh thương, ngày nay người Việt mình dường như đã trở thành sư phụ trong những ngón nghề làm đồ giả để lường gạt đồng bào mình. (Chớ đem bán ra nước ngoài, ai mà thèm mua?)

Trong nước, vì có nạn Cộng sản, mới đành phải ra nông nỗi. Nhưng tại sao bản chất của người Việt định cư tại các nước văn minh ở hải ngoại lại cũng vẫn không khá hơn “khúc ruột quê nhà”của mình về mặt đạo đức? Xin thưa:
Một học giả người Pháp mà người viết bài này không nhớ rõ tên, khi viết về dân tộc Việt Nam, có ngỏ ý khen rằng người Việt Nam có biệt tài hấp thụ và đồng hoá những cái hay, cái đẹp của các nền văn minh thế giới do tình cờ lịch sử được mang đến Việt Nam. Thiệt ra thì ông đã quá khen. Người mình quả có tài đó, nhưng lại chỉ hấp thụ những cái dở, cái xấu của nước người để làm thành sản phẩm của mình, vì cái dở, cái xấu lúc nào cũng dễ nuốt hơn là cái hay, cái đẹp vốn đòi hỏi nhiều hy sinh, khắc kỷ mà con người nói chung khó có thể có được. (28) Ngoại trừ thế hệ trẻ của người Việt hải ngoại được sinh ra, lớn lên và được giáo dục y hệt như người bản xứ, các thế hệ phụ huynh đi trước dễ có khuynh hướng hấp thụ những cái xấu của nước người, mà trước hết là thói hưởng thụ. Khi cái chủ trương hưởng thụ nơi người Việt từng bỏ nước ra đi vì lý tưởng Tự do mà gia tăng thì phải biết rằng họ đang ngày càng xa rời lý tưởng Tự do và cội nguồn đạo đức cuả dân tộc, vì họ không còn tâm trí và thì giờ đâu mà tranh đấu cho Tự do nữa! Rồi từ đó sinh ra bệnh trục lợi (hay nhân danh một lý tưởng nào đó đặng lạc quyên mà làm giàu cho mình), tranh giành, lường gạt và khoe khoang thành tích là những tai họa đang liên tục giáng vào tình đoàn kết trong các cộng đồng người Việt hải ngoại.
Mang nặng nhiều mặc cảm cuả kẻ chiến bại khi đặt chân đến xứ người để tiếp tục cuộc sống lưu vong, những người Việt Nam từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hoà thuở xưa, nhứt là những người có ít nhiều trách nhiệm trong Chiến Tranh Việt Nam, dễ có khuynh hướng chạy tội bằng cách đổ lỗi cho nhau, rõ nét nhất là qua hằng loạt hồi ký do các cựu tướng lãnh viết về cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm, về cuộc chiến đấu chống Cộng không thành sau đó, về vai trò và trách nhiệm của họ, vân vân và vân vân. Rất ít người có can đảm và đủ khẳng khái tự nhìn nhận là “tôi làm tôi mất nước,” (29) trong khi đó một số nhà lãnh đạo trước đây của Miền Nam Việt Nam lại còn mơ hồ nghĩ tới chuyện Cộng sản có thể triệu vời họ về cho một giải pháp hậu hoà hợp hoà giải dân tộc nào đó! Những vị này thường lợi dụng những cuộc họp mặt với bạn bè và thuộc hạ xưa để nay thả ra một quả bóng, mai gióng lên một tiếng chuông thăm dò đặng chào mời sự ủng hộ của đồng hương, nhưng thường thì chỉ nhận được những lời phản đối, chỉ trích, châm biếm chua cay, có khi còn có tính cách xúc phạm nữa. (30) Ngược lại, một số không nhỏ khác lại trở nên tiêu cực vì không còn được hưởng những đặc quyền, đặc lợi, lên voi xuống chó như ngày xưa. Có khi, vì quá tiêu cực, họ đâm ra phân biệt kẻ chạy trước với người chạy sau, kẻ ở tù Cộng sản với người bỏ nhiệm sở chạy ra nước ngoài sớm. Ðó cũng chính là mầm mống gây chia rẽ, bất an âm ỉ khôn nguôi trong cộng đồng nguòi Việt tỵ nạn ở hải ngoại hiện nay.
Nhờ được hưởng các quyền tự do rộng rãi nơi những đất nước thiệt sự dân chủ, nhiều người Việt lưu vong đâm ra quá trớn trong những lời chỉ trích và luận tội những người không cùng ý kiến với mình mà, oái oăm thay, phần lớn lại là các chiến hữu cũ của mình. Thông qua tự do báo chí và nhờ vào chi phí in ấn khá rẻ tại hải ngoại, có tới hằng ngàn tờ báo Việt ngữ đang lưu hành trên khắp thế giới tự do. (ở đây không nói tới sách vở với hàng ngàn hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, khảo luận, diễn từ… mà phần nhiều là được viết tuỳ hứng chớ không dựa theo một phương pháp hẳn hoi.) Ðiều đáng buồn là chỉ có một số rất ít trong các tờ báo này làm đúng thiên chức thông tin, nghị luận hay văn hoá, còn phần nhiều chỉ chuyên chửi bới nhau, có khi còn lôi cả tông chi, họ hàng đối thủ ra mà chửi. (31) Bởi vì, như người ta thường nói, xem văn, biết người, chúng ta chỉ cần xem cung cách người Việt Nam mình (dĩ nhiên là người ở hải ngoại, chớ trong nước hiện nay thì làm gì có tự do ngôn luận mà đòi cầm bút) viết lách ra làm sao thì cũng có thể thấy được không những là trình độ học vấn mà còn cả đạo đức làm người của họ nữa. Kiến thức và đạo đức vẫn là hai điều kiện không thể thiếu của một người cầm bút trong ý nghĩa là làm văn hoá, dù ở bất cứ nơi đâu và trong bất cứ thời đại nào.

f. Một số đáng kể những người Việt lưu vong, do bất đắc dĩ phải tiếp xúc lâu dài với môi trường mới đầy những luận điệu tuyên truyền xảo trá tại quê nhà trước khi ra hải ngoại, đã bị nhiễm những tánh xấu của Cộng sản hồi nào không hay. Một trong các tánh đó là óc tự hào dân tộc thái quá đến độ cuồng tín, bất chấp sự thực là khả năng của mình không có là bao nhiêu. Chẳng hạn, khi có ai nêu lên một sự thực (đau lòng) rằng trong cuộc chiến tranh vừa qua, Miền Nam Việt Nam không có tài nguyên nào đáng kể để đánh Cộng sản mà chỉ dựa vào viện trợ Mỹ cấp cho mình do nhu cầu Chiến Tranh Việt Nam mà Mỹ là kẻ chủ chốt thì lập tức thế nào cũng có một vài người giận dữ phản đối, cho nhận xét đó là không yêu nước và sai sự thực. Họ lý luận rằng ta có nhân sự, và nhân sự đó chính là vốn quý của ôta.ọ Nghe như âm hưởng đâu đây của một bài học chính trị căn bản mà Cộng sản đã đem ra dạy cho dân chúng Miền Nam Việt Nam sau ngày giải phóng: ôÐất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng…(32) Họ quên rằng nếu ta thiệt sự có khả năng (vật chất) thì cho dù Mỹ có bỏ rơi ta bằng cách cúp viện trợ thì cũng mặc xác họ, mắc mớ gì mà ta phải thua chạy vất vả đến như vậy? Chỉ vì quá tự hào với tiềm năng vu vơ của mình đến độ kiêu căng chưa từng thấy mà Cộng sản đã xô đẩy dân tộc Việt Nam đến chỗ nghèo hèn cùng cực như hiện nay.
g. Người ở hải ngoại, nhứt là những người đã lớn tuổi, dẫu sao khi rời bỏ đất nước ra đi cũng đã mang theo một số tánh xấu căn bản cuả dân tộc, để rồi khi sang đây cứ thế mà phát huy: chia rẻ, khích bác lẫn nhau, thích làm lãnh tụ, không lo viết lách cho ra hồn mà chỉ lo chửi bới, loè bịp bạn bè nơi xứ lạ (bằng nhà lầu, xe hơi trả góp), loè bịp người trong nước đang nghèo túng (bằng những chuyến ôáo gấm về làngọ vung tiền qua cửa sổ)… Một số, nhờ vào lệnh cấm vận kinh tế trước đây của Mỹ chống Cộng sản Việt Nam, đã dùng những chuyến du lịch về thăm quê nhà của mình để buôn bán hay chuyển tiền lậu, không ít thì nhiều cũng làm giàu cho cán bộ, viên chức Cộng sản trong nước.
Có người, vì quá tha thiết với chuyện về Việt Nam, đã không dám tỏ thái độ nào với những vi phạm nhân quyền hay bách hại tôn giáo của Cộng sản trong nước, lơ là trong các sinh hoạt chống Cộng ở hải ngoại, miễn sao khỏi bị Cộng sản nằm vùng ghi sổ đen rồi trả thù khi họ lơn tơn xách gói về Việt Nam mà thôi. Lại có kẻ ráng sức bình sanh làm ra các sản phẩm văn nghệ sao cho thiệt hợp gu với Cộng sản bên nhà, với hy vọng nới rộng thị trường làm ăn, buôn bán với Cộng sản sau này, cho dù, để làm chuyện đó, họ đã phải nhẫn tâm phản bội tình chiến hữu năm xưa và chà đạp lên sự thực, trong đó có sự thực về cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua. (33)
Sự hoành hành của các thói xấu kinh niên này tưởng cũng đủ để giải thích tại sao Việt Nam ta ngày nay đang rơi vào hố sâu của sự nghèo nàn lạc hậu, chia rẻ và nghi kỵ lẫn nhau đời đời không nhạt phai, cho dù chúng ta có trốn chạy đến góc biển, chân trời nào đi nữa. Và nếu đà nầy cứ thế tiếp diễn, dân tộc Việt Nam sẽ tự mình đi vào chỗ diệt vong bên cạnh ông láng giềng Trung Hoa khổng lồ đang ngày càng bành trướng thế lực sang các lân bang nhỏ bé hơn như Hàn Quốc, Việt Nam, Lào, Căm-Bốt, Thái Lan, Miến Ðiện và Nê-pan.
Khi cảnh giác mọi người về những thói hư, tật xấu này của người Việt Nam, người viết không hề có ý định bôi lọ dân tộc mình —như những thiên tài chụp mũ trong cộng đồng mình vẫn nghĩ— mà chỉ muốn gióng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả những ai đang ngủ mê trong giấc mộng vàng son rằng người Việt chúng ta quá tài hoa, quá đức độ, để rồi lại uất ức, tức tưởi sao vận nước —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam trước đây thường ca cẩm là “đã đến rồi” —(34) vẫn cứ còn lao đao ghê gớm, dân tộc mình vẫn còn trầm luân, khổ ải như vậy. Sự thật thì người mình cũng chẳng có tài cán là bao so với các dân tộc bạn như Trung Hoa, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, và nhứt là Nhựt Bản. Vài ba cái thành công lẻ tẻ trên đường học vấn hay trong kinh doanh nhỏ mà mình luôn hãnh diện kia không nói lên được cái gì đáng chú ý. (35) Ðó là chưa nói tới sự kiện là hầu hết những kẻ thành công này —hiện không còn mang quốc tịch Việt Nam nữa cho dẫu khi về thăm quê hương họ có thiệt sự được Cộng sản ban cho quy chế song tịch (Việt-Mỹ đề huề)— sau cùng cũng chỉ dốc tâm phục vụ cho xứ sở mới của họ chớ không mấy khi cho đất nước Việt Nam. Chỉ có những thói hư, tật xấu có tính cách tổ tông truyền đó là còn ở mãi trong ta như là một di sản dân tộc không thể tách rời, và chính vì thế mà nó đã tác hại tới tương lai dân tộc Việt Nam rất nhiều. (36)

Dám xin các bậc thức giả và quý vị có chút công tâm hãy giúp soi sáng đồng hương về những gì tốt đẹp mình đáng nên hãnh diện và những gì chẳng hay ho mình nên biết tự lấy làm xấu hổ mà sớm từ bỏ. Thiết tưởng, bên cạnh lòng tự hào về dân tộc, chúng ta cần phải nhìn ra những nhược điểm, những thói hư, tật xấu của mình. Thái độ vô tư, khách quan trong việc phê phán, đánh giá là cần thiết để nhận diện lại mình ngỏ hầu đưa đến một phản tỉnh chân thành. Bởi vì có nhìn rõ được mình và có tự biết mình chúng ta mới tự sửa đổi được để tiến lên Chân, Thiện, Mỹ. Trên thực tế, phải tu thân trước đã rồi mới mong tính tới chuyện tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. (37)

Ðức Khổng Tử có nói:Người quân tử hễ biết điều lỗi thì sửa đổi nhanh như gió. Thiệt là xót xa khi toàn bộ vận mệnh đất nước Việt Nam ngày nay lại tuỳ thuộc vào ý thức về câu nói trên, tức là vào thành tâm, thiện chí sửa đổi bước đường sai trái mà, vì bệnh ngoan cố kéo dài từ hơn nửa thế kỷ qua, những người Cộng sản đã dùng bạo lực cưỡng ép dân tộc phải đi theo. Người viết bài này ước mong rằng người Việt chúng ta khắp nơi sẽ sớm tìm dịp thuận tiện để nhìn lại mình trong gương, sửa đổi bớt những điều sai trái kia, bớt tự hào xằng bậy đi, bớt kiêu căng đi, bớt nghi kỵ đi, bớt chấp nhứt đi, bớt chửi bới nhau đi, để rồi cùng nhau bắt tay tìm một lối ra hợp lý cho đất nước, ngỏ hầu đem lại hạnh phúc, ấm no cho hằng triệu đồng bào giờ đây còn “điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm.” (38) Chỉ có lúc đó Việt Nam mình mới có hy vọng tiến lên theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại trong thiên niên kỷ tới.

Ghi chú:

(1)Nếu quả dân tộc Việt Nam ta có đầy đủ những đức tính quí báu hơn hẳn người gấp bội như yêu nước, yêu người, anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang, cần cù chịu khó vượt bực, thông minh, tài trí, lanh lợi, kiên trì… thì sao lịch sử lại lắm tang thương và đến nay tình trạng sa đọa, phân hoá hầu như không thể nào chữa trị được? Và đối chiếu với thế giới, thực trạng đất nước càng bi đát, thua sút hẳn một đôi dân tộc mà lịch sử không lắm oai hùng như Việt Nam. (Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Tinh Thần Việt Nam, Mekong-Tỵnạn, 1991.
(2)Nguyễn Gia Kiểng, một thành viên cuả Nhóm Thông Luận tại Paris, Pháp Quốc, trong một bài báo nhan đề Phải chăng nhân vật Nguyễn Huệ qua lịch sử đã được tôn vinh quá lố? đăng trên Ngày Nay Minnesota ngày 31 tháng Mười, 1997, đã đặt lại vấn đề công lao và thành tích của Vua Quang Trung trong lịch sử, tỏ dấu hoài nghi rằng sử sách Việt Nam, nhứt là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, đã thổi phồng quá lố uy danh và đảm lược cuả Quang Trung Ðại Ðế, một trong những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhứt và được tôn thờ nhứt qua bao triều đại và chế độ chính trị tại Việt Nam.
(3)Cựu Thiếu Tướng Ðỗ Mậu cuả Việt Nam Cộng Hoà, người giúp phe quân nhân lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963, viết quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, một hồi ký cho hay tại sao ông phản bội vị đỡ đầu tinh thần trước đây của mình là Tổng Thống Diệm để đứng về phe đảo chánh do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Phe đảo chánh đã giết vị tổng thống và bào đệ của ông rồi lên cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam. Các Tướng Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi và, gần đây nhứt, Tôn Thất Ðính cũng viết hồi ký về cuộc đời binh nghiệp và những đóng góp của mình vào đất nước mà các vị đó đã giúp cho bại trận.
(4)Nhiều người, sau khi từ Việt Nam trở về, đã giúp quảng cáo cho du lịch Việt Nam. Có người đã viết cả những bài báo dài khen ngợi những đổi mới tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, với ngụ ý rằng Việt kiều hải ngoại nên thử về thăm đất nước một phen. Tất cả những việc làm này đều nhân danh tổ quốc và dân tộc.
(5)Xin xem Việt Nam Văn Hoá Sử Cương của Ðào Duy Anh và Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
(6)Ðối với người Mỹ, các công trình sau khi tốt nghiệp đại học thiệt đáng kể, vì họ không dừng lại ở mảnh bằng kiếm được mà đánh giá cao những phát minh, nghiên cứu hoặc sáng tác cuả người mang bằng cấp đó. Sinh viên các nước khác đến du học tại xứ này lấy được bằng cấp xong thường về xứ làm quan to, và coi như thoả mãn với thành tựu khoa bảng của mình.
(7)Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong một bài giảng nhan đề Thập Ðại Bịnh đăng trên Tập san Dấn Thân, tháng 5 & 6, 1999, gọi đó là bệnh phô trương chiến thắng. Thập Ðại Bịnh là 10 thói hư tật xấu của người Việt Nam mà theo tác giả thì nay đã biến thành những căn bệnh hầu như hết thuốc chữa.
(8)Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đó là bệnh cá nhân chủ nghĩa. (bđd).
(9)Theo Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Cộng Sản Việt Nam chủ trương toàn dân phải kế thừa có phát triển nền văn minh rực rỡ của Việt Nam mà tiền nhân đã để lại. Phê phán chủ trương này, tác giả viết: Chủ trương rất đẹp, nhưng họ [Cộng sản] lại tự hào chỉ có Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản, chỉ có nền văn học, văn nghệ ôhiện thực xã hội chủ nghĩaọ mới phát triển được truyền thống dân tộc một cách trung thực và tốt đẹp, ngoài ra không một ai khác. (sđd).
(10)Cựu tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Tướng Lê Quang Lưỡng, trong một bài viết đăng trên Ðặc san Hoa Dù Denver, 30 tháng Tư năm 1998, đặt nghi vấn về ý đồ của vị tổng tư lệnh quân đội, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, khi ông ra lệnh xé lẻ đại đơn vị vũ bão hàng đầu này của quân lực ra từng lữ đoàn riêng rẻ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tại Việt Nam. Trước đó, Ông Thiệu cũng đã ra lệnh buộc một đại đơn vị vũ bão hàng đầu khác, Sư Ðoàn Thuỷ Quân Lục Chiến, phải cấp tốc cùng với Biệt Ðộng Quân và bộ binh rút lui khỏi Vùng I Chiến Thuật, làm cho sư đoàn này bị thiệt hại rất nặng vì phải hứng chịu toàn bộ gánh nặng của một cuộc rút quân không có chuẩn bị. Nhiều cấp chỉ huy TQLC từng vào sinh, ra tử để tái chiếm và giữ vững từng tấc đất của vùng giới tuyến khỏi tay Cộng sản trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, 1972, đã uất ức tự sát khi bị địch bao vây và phục kích.
[Ðiều cần ghi nhận là Miền Nam Việt Nam đã không sụp đổ chỉ vì những hành động có tính cách không ăn được thì đạp đổ đó của cựu Tổng Thống Thiệu, mà vì chúng ta đã bị đồng minh Mỹ bỏ rơi. Một khi Mỹ đã bỏ rơi rồi, không ai —kể cả người anh hùng tận trung báo quốc Nguyễn Khoa Nam— có thể giữ vững Miền Nam hay xoay chuyển tình thế trong giờ phút đó, vì chúng ta đã quá tuỳ thuộc vào viện trợ Mỹ. Vận nước đã đến hồi như vậy, cho nên mình cũng khó trách cứ riêng ai được.]
(11)Nhiều người vẫn nghĩ rằng Tổng Thống Thiệu đã chơi khăm Tướng Minh Lớn cho bỏ ghét, vì giữa khi cuộc chiến đang khốc liệt và tinh thần quân dân Việt Nam Cộng Hoà có lúc đang lên cao, vị cựu lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm và cũng là lãnh tụ của cái gọi là thành phần thứ ba tại Miền Nam Việt Nam (mà Cộng Sản ưa thích) lại hô hào một giải pháp hoà bình, với chủ trương rằng Việt Nam Cộng Hoà nên đơn phương ngưng chiến đấu mà tiếp tục thương thuyết với Việt Cộng là phía luôn luôn áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa đàm trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Dĩ nhiên là Tướng Minh đã quá tin vào phe Cộng Sản nên mới chịu nhận trách nhiệm lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà sau khi một trong những phòng tuyến cuối cùng của phe chính phủ là Xuân Lộc, cách Sàigòn 70 cây số về hướng Ðông Bắc, đã mất — hay nói cho đúng hơn là sau khi quân Cộng Sản, mệt quá, đã bỏ không đánh Xuân Lộc nữa mà đi vòng về phía Sàigòn.
(12)Xin xem When Hell Was In Session (Rớt Xuống Âm Ty) cuả Jeremiah A. Denton, một Ðại tá Hải Quân Mỹ từng bị Cộng Sản Bắc Việt bắt giam tại Nhà tù Hoả Lò Hà Nội sau khi phi cơ cuả ông bị bắn rơi trên vùng trời Bắc Việt trong Chiến Tranh Việt Nam. Nhà xuất bản Traditional Press, Alabama.
(13)Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đây là bệnh bè phái chia rẽ. (bđd).
(14)Thành tựu lớn nhứt về kiến trúc của Việt Nam cổ xưa là Thành Cổ Loa thời An Dương Vương Thục Phán mà nay đã bị thời gian với bao lớp sóng phế hưng và binh lửa tàn phá. Các tài liệu của Cộng Sản Việt Nam mô tả thành xây trên một khu đất cao và rộng, diện tích 92 hec-ta, nằm trên tả ngạn sông Hoàng Giang, gồm ba vòng thành theo hình xoáy trôn ốc. Chu vi vòng ngoài 8km, vòng giữa 6,8km, vòng ba là 1,6km… Bề rộng chân luỹ 20m, rộng 4m, cao 12m. Giữa hai vòng thành, nơi xa nhất 400m, giữa các vòng thành có hào sâu có thể lưu thông bằng thuyền. Mỗi luỹ có nhiều lối, nhiều ngõ thông nhau…
(15)Theo Trần Trọng Kim, người Việt Nam cũng có khi quỉ quyệt và hay bài bác nhạo chế. (sđd).
(16)Trong Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975 (Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ), tác giả Nguyễn Ðức Phương, khi đề cập đến Trận An Lộc, đã không hề nhắc nhở tới vai trò của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù là một đơn vị vừa vô cùng thiện chiến vừa đầy tinh thần cảm tử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Nếu Biệt Cách Dù không nhảy vào giải cứu An Lộc thì làm sao có được hai câu thơ bất hủ vinh danh: An Lộc địa sử ghi chiến tích; Biệt Cách Dù vị quốc vong thân? Nên nhớ là để soạn nên chương này, tác giả đã tham khảo tất cả tới 32 quyển sách, báo được liệt kê trong một thư mục dà ở cuối chương. Các hồi ký hay tường thuật của phe ta về những trận đánh lớn khác —như trận Quảng Trị chẳng hạn— cũng vấp phải lỗi lầm tương tự tuỳ theo người viết thuộc màu áo, màu mũ nào.
(17) Thiệt ra, từ lâu đã có Thuyết Việt Nho, một công trình nghiên cứu hết sức khoa học và nghiêm túc do Giáo sư Kim Ðịnh khởi xướng và thuyết minh qua 14 tác phẩm mà ông đã viết. Ðại khái, tác giả cho rằng văn minh và văn hoá Việt Nam có trước hay ít ra cũng đồng thời với văn minh và văn hoá Trung Hoa, bởi vì giòng giống Việt (Bách Việt) từ phương Bắc đã tiến vào Trung Hoa trước để lập nên các triều đại cuả Vua Phục Hi, Thần Nông và Huỳnh Ðế. Sau đó Hoa tộc (tức Hán tộc) tràn đến. Và sau trận đánh tại Trác Lộc giữa Hoàng Ðế (lãnh đạo Hoa tộc) và Si Vưu (lãnh đạo Viêm Việt tộc), Si Vưu chết nên giống Viêm Việt lùi bước dần về phương Nam để trở thành người Việt Nam ngày nay. Trong quyển Nguồn Gốc Văn Hoá Việt Nam, Giáo sư Kim Ðịnh vạch rõ rằng Việt Nho chủ trương nhân chủ, dân quyền, bình quyền, bình quyền nam nữ, quân bình tình lý hay là văn võ song hành.
(18) Sử chép rằng đời Nhà Trần, sau những trận đánh Chiêm Thành, quan quân Ðại Việt thường bắt đem về nước các cung nga, vũ nữ cuả Chiêm Thành. Các đặc sứ văn hoá này đã truyền bá nghệ thuật Chiêm Thành tại Việt Nam qua các vũ điệu cung đình mà họ trình diễn, làm say mê ngây ngất triều đình ta và làm cho ta phải lật đật bắt chước.
(19)Vào đúng lúc có Cuộc Ðấu Xảo Ba-lê, Phan Châu Trinh đã gởi cho Vua Khải Ðịnh một bức thơ dài, đại khái ông hài tội nhà vua là chỉ lo sống xa hoa, ưa xiểm nịnh và chuộng sự quỳ lạy cho rõ mình là một đấng quân vương mà không hề để ý đến phúc lợi của dân tộc Việt Nam lúc đó đang nằm dưới ách đô hộ cuả thực dân Pháp. Bức thơ có tác dụng như một gáo nước lạnh tạt vào mặt một vị hoàng đế, mà vào thời đó nếu không phải là một nhà Tây học được Hội Nhân Quyền Pháp hậu thuẫn triệt để như Phan Châu Trinh thì không một sĩ phu Việt Nam đương thời nào dám dỡn mặt.
(20)Nhiều người vẫn tin rằng dân tộc Việt Nam mình đặc biệt có khả năng xâm thực và làm hư hỏng bất cứ học thuyết đạo đức hay ý thức hệ chính trị nào được du nhập vào Việt Nam, cho dù đó là đạo lý Khổng Mạnh, học thuyết dân chủ Tây phương hay ý thức hệ Mác-xít Lê-nin-nít!
(21)Xin xem Vì sao tôi bỏ Quân Ðoàn I cuả cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, đăng trong Tạp chí Sóng Thần 1999, Kỷ Niệm 45 Năm Thành Lập Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà.
(22)Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, nghìn năm chưa dễ đã ai quên. Thơ Thế Lữ.
(23)Hai triết gia vô thần Ðức của thế kỷ 19 là Feuerbach vả Nietzsche lần lượt rao giảng tin dữ Thượng Ðế đã chết, và mọi giá trị truyền thống của con người theo đó cũng chết luôn. Hễ đã không có Thượng Ðế thì cuộc đời chẳng hề có mục đích và ý nghĩa gì, và con người được phép làm mọi sự mà y muốn.
(24)Ai cũng phải nhìn nhận rằng, qua cuộc xung đột tại Việt Nam, Cộng Sản Việt Nam đã chứng tỏ họ thuộc loại tàn ác nhứt, nhì thế giới, với thành tích thủ tiêu thiệt lẹ đối thủ theo phương châm thà giết lầm hơn bỏ sót, pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư (chỉ vì các khu này tình cờ nằm gần các căn cứ quân sự Mỹ hay Việt Nam Cộng Hoà), bắn giết dân lành vô tội ngay trong lúc họ đang chạy trốn Thần Chiến Tranh do chính họ thả ra, tạo nên những Ðại Lộ Kinh Hoàng và Quốc Lộ Máu vang danh trong lịch sử. Nhưng vì sao Ông Trời lại để cho họ chiến thắng? Tại sao Ông Trời lại bắt những người cầm súng bảo vệ dân lành và tự do cho dân tộc như các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải thua, phải chết thảm? Nếu còn phải đợi tới “ngày phán xét cuối cùng” lúc đó Ông Tròi mới chịu ra tay trừ bạo thì ai còn biết Ông Trời ở đâu?
(25) Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu, nghĩa là Lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng không ai có thể thoát ra được. ý nói con người dù có thể thoát được luật pháp trần gian (nhờ cướp được chính quyền nên khỏi bị thế gian trừng trị) nhưng không thể thoát khỏi lưới Trời, bởi vì Thượng Ðế chí công và đầy quyền năng sẽ trừng phạt những kẻ gian ác, cho dù kẻ đó hiện đang cầm quyền sinh sát trong tay.
(26) Một giáo sư trường Cao Ðẳng Sư Phạm Sàigòn đã tâm sự như vậy với các giáo sinh của mình về tình hình trường trại và trình độ học vấn của học sinh Miền Bắc Việt Nam từng là học sinh của bà trước đây.
(27) Người Việt Nam tại quê nhà hiện nay, có lẽ vì quá thiếu thốn nhưng lại ham hưởng thụ vì cuộc đời tuyệt vọng, luôn luôn đánh giá Việt kiều hải ngoại về thăm quê hương qua cách chi tiền rộng hay hẹp của mấy người này. Thương thay cho những Việt kiều nào tiền thì không có là bao mà tình yêu quê hương đất nước thì dạt dào như biển rộng, sông dài và đại dương bát ngát, chi tiền nhỏ giọt như xê-rum phòng mổ nên mới bị người thương xỉa xói là đồ Việt kiều kẹo kéo!
(28) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân viết về khả năng hội nhập các nền văn hoá nước ngoài của dân tộc Việt Nam như sau: “Cái cốt tuỷ, tinh hoa cuả các thứ du nhập hầu như không có đất tốt để thị hiện mà chỉ có cái phần đuôi cặn bã của những thứ đó mới tung hoành ngang dọc trên mảnh đất này [Việt Nam]. Tóm lại, chúng ta chạy theo cái đuôi cuả mọi nền văn hoá bên ngoài mà không thực sự nắm bắt được cái tinh lý ảo diệu của các luồng tư tưởng ngoại lai.” (sđd).
(29) Tôi làm tôi mất nước, bút ký cuả Lê Văn Phúc. Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ.
(30) Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, trong một bài nói chuyện trước các chiến hữu Không Quân của ông cách nay vài năm tại Texas, đã hô hào một cuộc hợp tác chính trị với Cộng Sản Việt Nam như là một cách thế để người Việt trong và ngoài nước cùng nhau bắt tay kiến tạo quê hương. Lời hô hào của vị cựu tướng Không Quân đã lập tức bị những người Việt chống Cộng tại khắp nơi trên thế giới phản đối kịch liệt, cho là đón gió trở cờ. Dường như thời gian gần đây cựu Tướng Kỳ đã có những tiếp xúc không chính thức với Hà Nội để mưu cầu một chỗ đứng chính trị nào đó nơi quê nhà, vì vị cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, người từng đem máy bay ra oanh tạc Bắc Việt hồi 1965, coi như không làm nên được chuyện gì kể từ khi qua sống lưu vong bên Mỹ. Có tin là một cựu tướng lãnh khác cuả Miền Nam Việt Nam, Nguyễn Khánh, cũng đang thực hiện những cuộc phiêu lưu chính trị tương tự. Cũng như ông Kỳ, vị cựu tướng lãnh này vẫn tin rằng một ngày nào đó Cộng Sản sẽ phải cần tới ông. Riêng cựu Tổng Thống Dương Văn Minh thì đã công bố kế hoạch về sinh sống tại Việt Nam với Cộng Sản. Vị cựu tướng bốn sao từng có công sát hại một trong những địch thủ lợi hại nhứt của Cộng sản là Tổng Thống Diệm của Miền Nam Việt Nam trong một cuộc đảo chánh hồi năm 1963, nghĩ rằng mình đã lại có công đưa Việt Nam Cộng Hoà vào chỗ đầu hàng không điều kiện quân Cộng Sản Bắc Việt hồi tháng Tư năm 1975, tiết kiệm được nhiều xương máu cho cả đôi bên trong cuộc chiến.
Bà Hạnh Phước, Hoa Hậu Phu Nhơn Liệt Quốc Trong Vũ Trụ, 1995 (Mrs. All Nations Universal, 1995), Giám Ðốc Thẩm Mỹ Viện Hạnh Phước tại Houston, Texas, vì lý do cạnh tranh nghề nghiệp, đã bị một tờ báo Việt ngữ điạ phương chửi bới liên tục. Vị chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo trịnh trọng tuyên bố: “Chừng nào Bà Hạnh Phước còn thì tờ báo chúng tôi vẫn còn,” ý nói tờ báo này được sinh ra với sứ mạng chửi Bà Hạnh Phước! Thiệt là: “Truyện Kiều còn thì tiếng Việt hãy còn” (Phạm Quỳnh), và “Tôi chửi bới, vậy tôi hiện hữu” (kiểu Descartes).
(32) Tất cả những trại “học tập cải tạo” tại Miền Nam Việt Nam đều có một giáo trình 10 bài học chính trị cơ bản cho sĩ quan, viên chức “ngụy” (tức chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũ), bắt đầu bằng Bài Số 1 “Ðất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng”. Các bài còn lại là về cuộc chiến đấu chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính sách “khoan hồng nhân đạo” của Chính phủ Cách mạng (Cộng sản) dành cho “nguỵ quân, nguỵ quyền”… Trên lý thuyết, “cải tạo viên” học xong 10 bài này thì coi như mãn khoá và được trả về nguyên quán. Nhưng vì 10 bài này có xào tới, nấu lui cũng chỉ lâu khoảng hai tháng cho nên không có ai được về, mà tất cả đều phải ở lại tiếp tục “cải tạo lao động” cho đến khi “thật sự tiến bộ”. “Cải tạo lao động” tức là đi lao động khổ sai tại đồng ruộng hay núi rừng. Muốn được coi là thật sự tiến bộ, cải tạo viên phải ở lại trại tập trung từ ba đến năm hay mười năm hay lâu hơn nữa, thường là tuỳ ở sức nặng của món “nợ máu” đối với nhân dân (tức là Cộng sản) mà “cải tạo viên” đã vay trong cuộc chiến.
Xin xem Paris By Night 40, chủ đề Mẹ, cuả Nhà Thuý Nga Paris. Giám đốc sản xuất là Tô Văn Lai; biên tập & giới thiệu chương trình là Nguyễn Ngọc Ngạn.
(34) Ðoạn cuối bản quốc thiều nước Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam [Cộng Sản Nam Việt Nam] trước ngày bị chính đàn anh Cộng Sản Bắc Việt yêu dấu của họ thủ tiêu: Vận nước đã đến rồi, nguyện hy sinh đến cùng. Dựng xây non nước sáng tươi muôn đời… Giải Phóng Miền Nam Hành Khúc.
(35) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: Chúng ta có thể có một đôi cá nhân thông minh,xuất sắc, nhưng để tạo nên một ôcái tiếngọ chứ trên thực tế không có một đóng góp nào đáng giá. (sđd).
(36) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: “Kể không hết những thói hư tật xấu của người Việt Nam. Ðến nay, những thói xấu đó càng trở nên lộ liễu khiến cả thế giới phát sợ.” (sđd). Trên thực tế, tại hải ngoại đang có hiện tượng chối phăng nguồn gốc Việt Nam khi nào có thể được, điễn hình là một số người trong giới ca sĩ chuộng sĩ diện. Ca sĩ hát tiếng Việt Nam gì mà hễ được hỏi tới nguồn gốc thì cứ khai mình là người Tàu! Vì sao được sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, nói tiếng Việt Nam từ thuở mới lọt lòng mẹ, và nhờ có người Việt Nam đổ máu ra trong chiến tranh mới được quốc tế cho đi tỵ nạn mà lại không dám nhận mình là người Việt Nam? Té ra là vì sợ. Mà điều gì làm cho mấy người này phải sợ? Hỏi tức là trả lời.
(37) Khổng Tử: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nghĩa là: Trước hết phải tu dưỡng tánh tình để trở thành người có đạo đức. Sau đó mới tính tới chuyện quản lý gia đình. Kế đó mới đem tài năng ra mà trị nước. Và sau cùng, khi đất nước đã thịnh vượng, ta mới tính đến chuyên mang lại an lạc, thanh bình cho tất cả mọi người trên thế gìan.
(38) Lời nhạc trong Chuyến Ðò Vĩ Tuyến của Lam Phương.

Bài II

Nếu Nguyễn Hồi Thủ, người dịch “Người Trung Quốc Xấu Xí” của Bá Dương đã gióng trước, “Có thể giữ được lòng bình an nếu đừng đọc cuốn sách nầy”… Quả thật là như vậy, vì chỉ đọc bài giới thiệu của Phan Thanh Tâm thôi, chúng ta đã lậm phải ngay điều xa xót với câu hỏi cay đắng: Chẳng lẽ người Việt cũng “xấu” đến độ đáng sợ như thế sao? Câu trả lời không thể khả quan hơn vì như Saroyan Vann đã tường trình quá đầy đủ và quá hữu lý (ở phần I), mà chúng ta dẫu đào cái hố sâu bao nhiêu, tiếng vọng của lời tố giác “Vua Midi mọc tai lừa!!” cũng không thể lấp liếm được. Vâng, người Việt Nam đã trở nên thậm tệ dị dạng, và biến tướng đến độ thảm thương – Ðã đến lúc chúng ta phải chập nhận sự thật, dẫu khắc nghiệt đến bao nhiêu.
Có thể tạm bỏ qua một bên sự kiện tranh chấp quyền lực chính trị bằng biện pháp quân sự giữa hai phe Quốc-Cọng, mà lần khởi sự và buổi kết thúc (ắt phải có giữa hai phe lâm chiến) đã diễn ra cách đây hơn nửa kỷ, quá 25 năm. Nói như thế không phải để ‘chạy tội”, đánh tráo trách nhiệm cho tập đoàn người cộng sản ở Hà Nội về tình trạng sa đọa của Việt Nam hiện tại. Nhưng, bởi chúng ta cần trung trực, khách quan hơn để nhìn vấn đề từ nguồn cội, mà tác động đích thực, quyết định trực tiếp đến vận mệnh, tương lai đất nước, hầu định hình, định tính lại diện mạo, bản sắc người Việt Nam. Chúng ta nói về diễn tiến nguy hại, hậu quả lâu dài khi – nền giáo dục nhân bản và dân tộc mà người Việt tối cần thiết dần bị hũy hoại và tiêu diệt.- Ðầu mối tội của người cộng sản là nơi đây.
Chẳng đợi đến năm 1883, 1884, hai Hòa Ước Quý Mùi và Giáp Tuất hợp thức hóa chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, giới sĩ phu mới có phản ứng không chịu khuất phục, nhưng ngay sau khi quân Pháp đánh chiếm Ðà Nẵng, 1858; thành Chí Hoà, ba tỉnh Miền Tây Nam Bộ, 1861, từ Nam ra Bắc, Trương Ðịnh, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Thuyết, Phan Ðình Phùng, Cao Thắng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật…. đã thống lãnh quân binh, phối hợp với những vị vua minh duệ Duy Tân, Hàm Nghi liên lũy chống Tây xâm, giúp vua, cứu dân, giữ nước. Trí thức quan lại cũng không thiếu trí tuệ viễn kiến hoặc dũng khí bản lãnh để thúc dục triều đình cải cách, hoặc cùng đành tiết tháo hy sinh, tỏ lòng tận trung báo quốc, trường hợp của Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu. Và đỉnh cao trung dũng Kẻ Sĩ Việt Nam được đánh dấu bởi cái chết bi tráng của mười ba Liệt Sĩ Quốc Dân Ðảng nơi pháp trường Yên Báy, 17 tháng 6, 1930. Thế nhưng, năm mươi năm sau, hơn nửa thế kỷ được thụ lãnh “học thuật” Tây phương, nơi phương tây hàng đầu của tổ chức và kỹ thuật cao, phía Tây- Âu với Mỹ, Pháp, phía Ðông-Âu với Nga, Ðức – cuối cùng, tiếng than xé cật đã vang lên vô vọng – Kẻ sĩ nay ở phương nào? Kẻ sĩ nào thấy đâu?! Tình trạng bi thảm nầy hẳn phải có một đâu mối. Ðầu mối tiên khởi và độc nhất: Người Việt ở thế kỷ qua đã hẳn thiếu một nền QUỐC HỌC. Và đảng cộng sản ở Hà Nội là thủ phạm hàng đầu của “sự nghiệp tai họa”- thay thế nền quốc học khẩn thiết nầy bằng một kế sách mạo danh xã hội, mót nhặt từ những tay sát nhân siêu đẳng. Chúng ta hãy xem thuật “dạy người” của cán bộ cọng sản đệ tam quốc tế.
Do quá khốn đốn, quẩn bách trong cuộc sống, nên con người số đông luôn cần phép lạ và ân huệ mà thực tại trần thế lại không thể nào đáp ứng được, nếu không muốn nói còn tạo nên nguy biến trầm trọng hơn. Thế nên, các tôn giáo đã được các bậc đại trí, từ nhân khai sáng và mãi tồn tại cùng nỗi khổ con người. Chúng ta có thể nói chắc như thế mà không sợ sai lầm. Nhưng người cộng sản lại ngang ngược phủ nhận nhu cầu sinh tử nầy, họ khinh miệt đánh giá tôn giáo như là một hình thái tồi tệ tinh thần, loại “thuốc phiện của nhân dân”, và quyết tâm trị liệu cơn say thuốc nầy bằng biện pháp bạo lực. Sau khi thanh toán “ông trời” – không đáng một chữ viết hoa, và cưỡng ép người dân vào ngỏ cụt lịch sử lầy lội đẫm máu (phần I), người cộng sản (cộng sản Á Châu vốn là kẻ theo học xuất sắc, cộng sản Việt Nam lại là “đỉnh cao trí tuệ siêu việt” của quá trình thụ huấn khốc hại nầy) tra vào tay nhân dân một “ân huệ” độc địa nhưng cũng thích hợp vớI tính ác tự thân của người – quyền giết người – được biện hộ vì mục đích, yêu cầu của chủ nghĩa và chế độ. Và giới gọi là “kẻ sĩ” thêm một lần được “vận động cách mạng”:
Từ, Ðường vinh quang xây xác quân thù… Tiến Quân Ca của Văn Cao”, đến

Giết! Giết! Giết!…
Bàn tay không phút nghỉ
Ðể ruộng đồng thêm tốt
Lúa thêm xanh
Chế Lan Viên

Trong hơn năm mươi năm, cán bộ cộng sản đã cưỡng ép, thực tập buộc người dân nhiễm thói quen – một bản năng thứ hai – sống cùng cảnh giới của sự ác và hóa thân nên tính ác. Quá trình tàn nhẫn nầy không loại trừ đến cả tình thương, trái tim người mẹ – tất cả đồng bị “chính trị hóa”:

Bầm thương con nên bầm yêu đồng chí
Bầm quý con nên bầm mến anh em
Tố Hữu

Hoặc giây phút linh thiêng của cuộc tồn sinh – khi người sản phụ lâm bồn – được so sánh, đánh giá như động tác bắn giết một loại quân thù tàn tệ

Tao đánh mầy hân hoan như sinh đẻ
Và linh thiêng như xây dựng kỳ đài
Chế Lan Viên

Ðể cuối cùng hoàn tất nên “con người xã hội chủ nghĩa” với nỗi ngu muội mê thiếp theo hình ảnh của một “lãnh tụ tôn giáo mới”

Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương ông thương mười!!
Tố Hữu

“ÔNG” chính là “Stalin, tên giết người” ghê tởm nhất của lịch sử nhân loại với thành tích 20 triệu người Nga và những dân tộc thống thuộc đế quốc sô-viết, chết dưới tay y trong 29 năm cầm quyền. Hoặc, một mẫu mực khác gần gũi, quen thuộc hơn, Mao Trạch Ðông với “tính sáng tạo vô sản”, dùng xe hốt rác để dọn xác người, chỉ một thành phố Nam Kinh sau một lần Hồng Vệ Binh xuống đường biễu dương lực lượng năm 1965. Trước những đỉnh cao thắng lợi nầy, ba ngàn người Huế bị chôn sống trong Tết Mậu Thân, 1968, hoặc 800 bộ đội miền Bắc của sư đoàn 308 bị tan xác bởi một pass B52 nơi mặt trận Khe Sanh cuối năm 1967, (do thực hiện âm mưu thí quân, đánh lạc hướng Tướng Westmoreland, để đoạt thắng lợi trong lần tấn công đầu năm 1968) không hề làm Võ Nguyên Giáp chạnh lòng, nên ba mươi năm sau, khi nhắc lại với người Mỹ, y vẫn hân hoan giương giương tự đắc về một “chiến thắng Khe Sanh, Mậu Thân 1968″.
Vâng, khi giết người đã là một “sự nghiệp”, máu người là “chất men vinh quang”, xác chết của đồng bào mình là món hàng phải trả giá bằng những tờ giấy bạc mới được phép đem chôn (Xác người chết vượt biên trôi vào bãi biển Vũng Tàu nhân ngày giỗ Nguyên Hồng, Thơ Trần Mạnh Hảo) – chữ “xấu xí” có còn đủ nghĩa để gọi đến “người Việt Nam” nữa hay không. Tuy nhiên, trong khi đó, vẫn còn một số người không nhỏ – Lẽ tất nhiên cũng là”người Việt Nam ta” tung hô, ngợi ca và cố công bắt chước những kẻ “xấu xí cách mạng vô sản tiên tiến” kia.
Và về phía cộng hòa, trách nhiệm dạy người được trao gởi vào tay những viên cai, đội mà cùng đích “võ nghiệp” không gì hơn là một vài mẫu kim loại hình ngôi sao được đeo lên cổ áo, để có “uy tín” chiếm giữ nhiệm vụ “đặc trách văn hóa”, nên thành “thần tượng tuổi trẻ” với kỹ thuật cao giải tử vi, chọn gà chọi và đánh bài mạt chược. Bài viết của Phan Thanh Tâm sau đây e rằng không đủ vào đâu.

Vạch Áo Cho Mọi Người Cùng Xem
PHAN THANH TÂM

Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại và nhất định không có chuyện vạch áo cho người xem lưng. Ðó là phương châm của phe ta. Tại sao vậy? Tự cho là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên, và có quá khứ hơn bốn ngàn năm văn hiến nên người mình lúc nào cũng tốt, cũng bãnh, cũng anh hùng, xuất chúng. Hễ nói tới người ngoại quốc thì xách mé, trịch thượng; gọi họ bằng thằng, bằng con. Và nước VN phải là minh châu trời đông, là bó đuốc soi đường. Tuy nhiên gần đây, có dư luận lên tiếng là phải xét lại cái ý tưởng tự tôn, tự đại, ngông cuồng đó. Họ cho rằng cứ hót ca và, nâng bi dân tộc mình một cách lộ liễu như vậy hoài thì ta sẽ mãi mãi ngất ngư như con gà mắc dây thun. Chắc hẳn phải có vấn đề, có trục trặc đâu đó vì tài khôn như vậy mà chưa ra cái con gì cả trong khi các nước lân bang ở Ðông-Nam Á nay đã là con cọp, con beo, con sư từ rồi.
Cái hay ở chỗ, người tạo ra dư luận là một nhà thơ hồi nhỏ ở Saigon, du học ở Nhật năm 1966, định cư ở Pháp năm 1969, trong khi sang Tàu, vớ đựơc một cuốn sách khiến ông ‘thích thú quá cỡ” và ông nghĩ rằng “bất cứ người VN nào khác đọc được, bảo đảm cũng sẽ thích thú” như ông. Ông tin rằng quyển sách sẽ “giúp nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hóa của mình trong giai đoạn hiện nay”. Vì thiện ý, ông bỏ công ra dịch và mong có nhiều người đọc. Nhà xuất bàn Chân Mây Cuối TrờI phát hành bản dịch lấn đầu tiên tại Paris năm 1998. Cuốn sách được đón tiếp nồng hậu. Giới báo chí đua nhau nói về nó. Nhà xuất bản Văn Nghệ ở quận Cam, thủ đô của người tị nạn, hưởng ứng in lại và quyển sách được coi là bán chạy trong năm 1999.
Nhà báo Lê Ðình Ðiểu, trước khi qua đời, trong khi nằm trên giường bệnh, viết bài điểm sách đăng trên Thế Kỷ 21 số tháng 4/99: “Ðọc Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương, người VN nào cũng liên tưởng đến việc đây là chuyện của mình. Có lẽ chỉ thay cái tựa là Người Việt Nam Xãu Xí cuốn sách cũng vẫn có ý nghĩa. Phải chăng đó là lý do nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ bỏ thì giờ, công sức ra dịch cuốn sách sang Việt ngữ?” Trả lời câu hỏi của nhà phê bình văn học Ðặng Tiến, đăng trong Việt Mercury, dịch giả, tên thật là Nguyễn Khôi Minh, sinh năm 1945 tại Hà Bắc nói, sự đời là thuốc đắng đả tật. Có chướng tai cũng phải nói. Ông tâm sự, “không đọc quyển sách này có khi đở phải nghĩ ngơị lôi thôi; còn chẳng may đọc có thể sẽ bị đau khổ nhiều hơn là thích thú”.
Trong bàì phỏng vấn hồi tháng 10/99 này, khi đề cập về những cuốn sách như Người Việt Ðáng Yêu, Người Việt Cao Qúi, dịch giả, đã có bảy tập thơ xuất bản ở ngoại quốc từ năm 1968, cho biết, “Ðó là chuyện ngược đời. Ở những nước tiên tiến giàu mạnh, chưa có nước nào bốc thơm dân tộc mình một cách lố bịch như thế cả. Người Mỹ, người Nhật, người Pháp, người Ðại Hàn đều chỉ có những sách nói lên khuyết điểm, những cái tồi dở của dân tộc, đất nước mình. Bây giờ đến lượt người Trung Quốc. Cuốn Người Trung Quốc Xấu Xí xuất bản ban đầu ở Ðài Loan; sau đó được tái bản ở lục địa. Họ đã biết nghĩ, tuy là môt nước lớn, văn hóa lâu đời, nhưng nếu cứ mãi ra rã về những cái vĩ đại thì theo nhá báo Bá Dương, tác giả cuốn sách, Trung Hoa sẽ đi đến chỗ diệt vong mà thôi”.
Nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ, trong phần lời người dịch viết, ngay sau khi từ Trung Quốc về đến VN, ông đã đưa bản sao cho một người bạn ở Hà Nội và động viên người này dịch ra tiếng Việt. Nước Trung Hoa Cọng Sản đã chấp nhận cuốn sách. Người Âu Mỹ cũng thế, thì không có lý do gì người VN lại không thể được đọc nó, cho dù không phải để học hỏi, mà có thể vì hiếu kỳ, thông tin về một nước láng giềng. Hơn năm năm, ông đã hy vọng là cuốn sách sẽ xuất hiện tại VN; nhưng cho đến nay, người trong nước vẫn chưa được đọc. Theo dịch giả, cuốn sách sẽ rất có ích cho tất cả các cộng đồng có liên quan it nhiều đến văn hóa Trung Quốc. Chủ đích của tác giả Bá Dương là nếu muốn phục hưng dân tộc, phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết điểm, sai trái của mình.

Ðọc người rồi ngẫm đến ta

Tác giả Bá Dương, là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và là sử gia, sinh năm 1920, chạy sang Ðài Loan năm 1949, ở tù 10 năm vì các bài viết bị xem là phạm thượng. Ra tù ông đi diễn thuyết về hiện tượng Người Trung Quốc Xấu Xí. Cuốn sách gồm những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông. Có người cho rằng nếu không đọc được sách của Ba Dương là một sự thiệt thòi lớn. Sách hấp dẫn, hơn chuyện chưởng của Kim Dung, vì nó khiến thiên hạ phải: đọc người rồi ngẫm đến ta. Thấy sao nó giống dữ vậy cà. Giống dễ sợ. Theo ông, văn hóa Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết, càng lâu càng thối, thành một vại tương rồi. Ðặc tính rõ nhất của người Trung Quốc là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Có nhiều nơi, nếu người Trung Quốc đến ở là những người khác dọn đi.
Bất kỳ ở chân trời góc biển nào hễ có người Trung Quốc là có cắn xé nhau. Mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ổ dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi. Người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được. Mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đòan kết. Bất cư xã hội người Hoa nào it nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Họ chưa biết tầm quan trọng của sự hợp tác; nhưng họ có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đòan kết, hay ho đến Thượng Ðế cũng có thể khóc được. Những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: chết cũng không chịu nhận lỗi. Họ thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hay tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định.
Người Trung Quốc sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hữu, trung lập, độc lập, thiên tả, trung, trung thiên hữu, hưũ thiên trung vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò.Người này đối vớI kẻ nọ đều mang mối cựu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Ðối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ, hăm dọa người Trung Quốc lại không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Người Tây Phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết. Sống trường kỳ trong cái hũ tương lâu ngày quá tự nhiên sinh ra tâm lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ; không có can đảm dám khen người khác, chỉ có dũng khí dùng để đả kích kẻ khác; chửi bới sau lưng; yêu thì sợ chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Họ vĩnh viễn không thể nào so sánh được với ngươi Do Thái, chỉ cần so sánh với người Nhật, ngươi Ðại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn năm ánh sáng rồi.
Người Trung Quốc sợ sệt đủ moị thứ trên đờì. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan không bao giờ bị tiêu diệt, và đã biến dân tộcTrung Quốc thành một dân tộc hèn mọn. Sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy củu giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng. Trong 4000 năm, từ Khổng Tử trở đi, không còn có một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Cái hũ tương văn hóa, cái hũ tương thối làm cho người Trung Quốc xấu xí, không thể dùng tư duy của mình giải quyết, phải bắt chước, phải dùng cái tư duy của kẻ khác; lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc,bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo âu.Trung Quốc diện tích rộng thế, lâu đời thế mà người Trung Quốc lại có một tâm điạ thật hẹp hòi, không muốn ai hơn mình. Phải chăng Thượng Ðế đã phú cho chúng ta có một nội tâm xấu xa?
Trên đây là những đọan trích các ý tưởng tản mạn trong sách của nhà báo Bá Dương. Ai cũng biết, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hơn một ngàn năm đô hộ, lại sống sát nách một kẻ như thế, chẳng lẽ ta gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn? Họ sao ta vậy hay ta tệ hơn thì chẳng có gì lạ cả. Lại nữa, mỗi dân tộc có mỗi bệnh trạng xã hội. Bệnh trạng của ta cọng thêm bệnh trạng của anh bạn láng giềng thì chắc phải hết thuốc chữa; hèn gì nước ta lúc nào cũng loay hoay như gà mắc đẻ, lệt bệt đì sau thiên hạ. Nếu văn hóa Trung Hoa đã biến thành một cái hũ tương thối thì văn hóa ta là cái hũ gì? Hũ vàng hay là hũ mắm thối? Còn Người VN ra sao? Thử nhìn thoáng vào gương xem.

Mẫu người Việt Nam

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có đoạn tả tính tình người VN trước năm 1930 như sau: Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người VN có cả các tính tốt và các tính xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng có hay tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình nhưng mà đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật. Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang, và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỉ, sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn. Ðàn bà thì hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quí là tiết, nghĩa, cần, kiệm.
Với mẫu người nói trên và nếu cho rằng, văn hóa là sinh hoạt, ta không hiểu văn hóa ta là văn hóa gì, lại có thể sản sinh một tay gian hùng nhưng rất thành công như Trần Thủ Ðộ. Việt Nam Sử Lược của học gỉả Trần Trọng Kim cho biết, vì cốt gây dựng cơ nghiệp cho nhà Trần, dù tàn bạo đến đâu Trần Thủ Ðộ cũng làm cho được. Ông đã chôn sống cả giòng họ Lý. Trước đó, Trần Thủ Ðộ nói với vua Lý Huệ Tông, tuy đã bỏ ngôi vua, xuất gia đi tu, môt câu để đời “nhổ cỏ thì phải nhổ cả rể cái”. Trong khi đó, Nguyễn Trãi, đại công thần của vua Lê Lợi, thảo ra Bình Ngô Ðại Cáo, môt bản văn chương giá trị, và là tác gỉả câu đầy tình người “Thương người như thể thương thân”, trong tập Gia Huấn Ca, thì lại bị giết cả họ vì bị kết tội là dùng người thiếp đẹp và giỏi thơ, Nguyễn Thị Lộ, để mưu hại nhà vua.

Cụ Hoàng Văn Chí, trong cuốn từ Thực Dân đến Cọng Sản cho biết, vào những năm 1954 và 1956, khi Cọng Sản Việt Nam đem chiến thuật “Cải Cách Ruộng Ðất” của Mao Trạch Ðông, áp dụng tại Bắc Việt, mới thấy người mình sao lại có đầu óc nô lệ dữ vậy. Ðúng như cụ Trần Trọng Kim phê bình: “từ tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở”. Mà theo Bá Dương, Trung Quốc hiện tại còn là một nước dã man nguyên thủy, thì việc Cọng Sản Việt Nam đưa ra phương châm: “thà giết mười người vô tội còn hơn để thoát một kẻ thù” trong khi phát động chiến dịch long trời lỡ đất nói trên cũng là điều hiển nhiên thôi. Ở các nước văn minh thì khác. Nguyên tắc luật pháp của họ là: thà tha lầm hơn bắt lầm.
Mặc khác, trên sân khấu chính trị nước ta có một “diễn viên kỳ tài”, chữ của nhà văn Vũ Thư Hiên khi nói về Hồ Chí Minh, một người làm cách mạng chuyên nghiệp, được huấn luyện tại Nga, tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Ông tiến, ông thoái, khi hai bước, khi ba bước, khi khóc, khi cười, biến ảo khôn lường. Cả thế giới đêu nghe danh ông. Cho đến nay chưa ai biết rõ con đường bác đi. Theo giáo sư Nga Anatoli Sokolov, chuyên viên Liên Sô về Việt Nam Học, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông Phương ở Mạc Tư Khoa, trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, ông có trên 150 bí danh. Ðể cho “chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới” ông sẵn sàng mua chiến thắng đó “dẫu phải đốt sạch cả dãy Trường Sơn” hay phải “đánh Mỹ đến người VN cuối cùng”.Không hiểu khí thiêng sông núi VN thế nào mà lại có thể hun đúc một con người kỳ bí như vậy? Ông đã gây ra bao cuộc bể dâu, chết chóc.
Hồi thập niên 60, có bài Tâm Ca Số Năm của Phạm Duy mang tên Ðể Lại Cho Em nói lên thực tế của đất nước: “bây giờ chỉ còn là một mảnh đất bị chia cắt, cày xới lên bởi bom đạn. Hận thù nhân danh chủ nghĩa, bạo tàn vênh vang bề thế”; và “Ðường về tương lai nghẽn lối”. Thế hệ đàn anh chỉ đề lại “những giả dối, đê hèn, và vụng dại”. Bài hát lưu hành ở miền Nam rồi rơi vào quên lãng, bị át bởi tiếng xe tăng, máy bay, hỏa tiển, AK, M16. Vũ khí này được cung cấp bởi các nước đồng minh của hai miền Nam Bắc. Ðó là hệ quả của việc tìm đường cứu nước của bậc tiền bối. Kè đi Tàu, đi Nga, ngưòi đi Tây, đi Nhật, đi Mỹ. Ai cũng cho là thuốc mình mang về là thuốc tiên; nhưng vì muốn độc quyền trị nước nên VN thành chỗ thử lửa của cuộc chiến tranh lạnh.
Trong ba mươi năm nội chiến từng ngày, nửa nước từ con sông Bến Hải trở ra bắc theo Nga, theo Tàu; nửa bên này chống lại bằng dựa vào Tây, vào Mỹ. Cuối cùng miền Nam sụm vì hết điểm tựa. Hoa Kỳ rút lời cam kết, ngưng viện trợ. Chỉ nội hai tháng Ba và Tư năm 1975, cả một chế độ tan tành. Khôn sống, mống chết. Tướng tá cao chạy xa bay, tìm đường thoát thân. Trong lúc trời đất nổi cơn gió bụi mới thấy nhân tài, khôn lanh thì nhiều như lá mùa thu, còn tuấn kiệt thì như sao mai buổi sớm. Có bao nhiêu người đứng lại chịu chết, chịu tù, chịu nhục, chịu chia xẽ với thuộc cấp? Anh hùng tất phải hiếm. Ðiều đó dễ hiểu. Nhưng đâu rồi câu hát “Dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao”?
Ngày 30/4/1975 là ngày phơi bày rõ ràng bộ mặt của cấp lãnh đạo hai miền: miền Nam hèn kém, miền Bắc độc ác, xảo trá, đê tiện, đầu óc nô lệ. Sau khi chiếm Sàigòn, người Cọng Sản tìm cách tiêu diệt các thành phần tinh nhuệ bằng học tập cải tạo và vơ vét tài sản của miền Nam một cách có hệ thống bằng hai chữ quản lý. Họ lại đốt sách baó và cấm lưu trữ các sản phẩm văn hóa cũ như thời Tần Thủy Hoàng. Họ cố xoá bỏ căn cước của dân miền Nam. Dân miền naỳ không thấy được giải phóng mà thấy mình là dân bị trị, bị người anh em làm nhục, trả thù vì thế mới có chuyện người Việt dù chết vẫn tìm cách lao đầu ra biển, làm mồi cho hải tặc, cho sóng dữ. Ðến ngay “cả cái cột đèn nếu biết đi cũng còn muốn bỏ nước ra đi”? Dân tộc VN, có quá khứ dài lâu; anh em như thể chân tay, sao lại không thể sống chung với nhau, mà lại đi ra xứ người sống với thiên hạ?

Con Rồng Cháu Tiên?

Sau thế chiến thứ hai, chỉ trong vòng 20 năm, hai nước chiến bại, Ðức và Nhật đã phục hưng nhanh chóng, trở thành cường quốc kinh tế. Ông Bá Dương đã ví họ, “chẳng khác nào, một anh khổng lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục xuống đất, một lúc sau từ từ hồi tỉnh, đứng dậy phủi quần aó bước đi, vẫn đường đường là một hảo hán”. Còn nước ta, Việt Nam là một nước nghèo. Ðời sống nói chung so với các nủớc ở Ðông Nam Á hãy còn thấp. Tuy theo tin báo, hiện đã có 39.000 thuê bao Internet nhưng nhà nước lại tăng cường tốc độ các bức tường lửa (fire wall) để ngăn dân chúng vào Net. Người dân chưa được tự do xử dụng máy in, một phát minh từ thế kỷ 15 của ông Johann Gutenberg. Mọi ấn phẩm đều phải có giấy phép của chính quyền. Ở thời đại tin học mà còn phải làm báo chui, báo lậu như tờ Thao Thức của một số sinh viên thì phải kể là chuyện hiếm hoi trên thế giới.
Tháng 5/1999, nhà văn Dương Thu Hương, từ trong nước đã gửi lén ra hải ngoại một đoản văn. Theo cô: sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỷ, trên dãi đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào nam, từ nam ra bắc, và Chiến tranh không làm cho các công dân chín chắn hơn, khôn ngoan hơn, xử dụng quyền công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn, dễ thỏa hiệp hơn với sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác. Tại sao vậy? Ông Nguyễn Gia Kiểng, thuộc nhóm Thông Luận trong bài Vết Thương 30/4/1999 cho rằng: Ðó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Ðó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mõi, đã mất ý chí và lòng tự hào. Ðảng Cọng Sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc VN. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy.

Còn hải ngoại, được coi như là một VNCH nối dài thì thế nào?.Tờ báo Hợp Lưu số 49 viết: “có nước nào trên thế giới chỉ bé tí bằng lỗ chân lông như Bolsa tiểu quốc, thế mà cái gì cũng thặng dư lạm phát. Báo chí thì rợp trời kín đất như lá mùa thu. Văn bút thì chúng tôi có đến nhị vị chủ tịch (dù bây giờ chả còn ai trên thế giới công nhận, nhưng mặc xác thế giới, chúng tôi cứ là văn bút, cứ là chủ tịch, làm gì nhau?), cộng đồng cũng đương kim hai ngài tổng thống (dù thật thà mà nói, trông mặt các ngài, con nít sẽ khóc thét như gặp ma, người lớn sẽ nôn nao ruột gan muốn ói), và chính phủ lưu vong cùng đảng phái yêu nước, nói không phải khoe, trung bình mỗi tháng mọc thêm chừng mươi cái, nhanh, nhiều như nấm dại mùa đông”. Sang đây, mất tất cả, thiên hạ mơ có quyền lực. Ông nào cũng tự cho mình có sứ mệnh, như “ai bao năm từng lê gót nơi quê người” của thuở nào. Vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật, đâu là giả.

Năm 1958 hai tác giả William J.Lederer và Eugene Burdick cho phát hành cuốn The Ugly American (Người Mỹ Xãu Xí), nói về thói hư, vụng về, ngu dốt, tham nhũng, dốc tướng, của các chính khách Mỹ. Cuốn sách gây xôn xao trong chính trường Hoa Kỳ, bán rất chạy. Hơn sáu triệu ấn bản được bán ra. Tổng Thống Mỹ Eisenhower phải cho thành lập một ủy ban gồm chín nhân vật có uy tín để duyệt xét lại các chương trình viện trợ quân sự. Thựơng viện Hoa Kỳ cùng lập một nhóm nghiên cưú cuốn sách và gửi cho mỗi Nghị sĩ mỗi người một cuốn. Ông Bá Dương viết, họ có năng lực sưả sai, tự điều chỉnh mình. Thay ví lấy tay che đít, họ nói toáng lên cho mọi người biết “tôi có bệnh trĩ đây”. Họ có được cái trí tuệ và dũng cảm, tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thỏa đáng những lỗi lầm.

Nước Việt Nam cứ lẩn quẩn trong vòng chậm tiến, cũng hoang mang lúng túng chẳng kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ là vì ta không biết mình biết ta. Ta cần có một cuốn Người Việt Xãu Xí để “nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột”, rồi tìm ăn những thứ có chất dinh dưỡng tốt, giúp ta có thể tự phản tỉnh. Bỏ chuyện tự kiêu hảo, giấy rách giữ lấy lề hay đói cho sạch rách cho thơm, thẳng thắng nói lên những tệ hại của dân tộc mình, để cùng nhau cải tiến. Trước thềm năm mới cũng là trước thềm thế kỷ và thiên niên kỷ mới, nhân loại đang tiến nhanh tiến mạnh trong cuộc cách mạng thông tin, chúng ta phải lẹ lẹ lên. Chậm thì chết. Trong khi chờ đợi có cuốn sách như vậy, chúng ta hãy hè nhau vạch áo cho mọi người cùng xem, nếu không, thay vì Con Rồng Cháu Tiên lại trở thành con khùng cháu điên mất. Phải không quí vị?

* * *

Hãy Biểu Dương Cùng Tận -Đoản Văn- PHAN NHẬT NAM

:::Phan Nhật Nam:::
Hãy Biểu Dương Cùng Tận
Biểu dương, hãy biểu dương cùng tận
Vinh hiển lầm than một kiếp người.
(Tô Thùy Yên)

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, học qua Pétrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội Miền Nam trước 1975. Tô Thùy Yên lập gia đình với vợ chánh là bà Huỳnh Diệu Bích. Còn có thời gian chung sống và có mấy con với nhà văn nữ Nguyễn Thị Thụy Vũ. Sau 1975 Tô Thùy Yên ở tù gần 13 năm. Cùng bà Hùynh Diệu Bích sang Mỹ theo diện cựu tù nhân chính trị. Hiện đang cư ngụ tại Houston

Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng Tạo. Một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ Tự Do” trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960. Cả hai tập thơ Tuyển Tập Thơ Thùy Yên (1995) và Thắp Tạ (2004) đều được xuất bản ở Hoa Kỳ sau khi ông đi tỵ nạn chính trị tại quốc gia này vào năm 1993.

Dẫn Nhập

7 tháng 9, 1981 nơi Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hóa, Việt Nam

Cửa thứ nhất khu kỹ luật mở ra.. Anh ngó trân trân lên khối sắt sơn xanh không cảm giác, vô hồn bước vào khoảng sân vắng tanh, lau sậy khô teo, vàng úa, xao xác hỗn loạn. Viên cán bộ kỹ luật và gã tù hình sự phải vạch lối đi qua để dẫn anh tới trước tấm cửa bên ngoài dãy buồng giam. Thanh sắt chắn ngang khung cửa gỗ thứ hai được kéo ra, rút bỏ xuống.. Âm rền rĩ siết lê gay gắt, gào chìm rờn rợn. Đi tiếp vào căn phòng tối lạnh, chiếc bàn gỗ xiêu vẹo dựa vách tường trên có chiếc chén nhựa bẩn, cơm, khoai, sắn đọng khô nâu quanh vành chén (có lẻ từ lâu không được dùng đến), anh nhìn quanh, dãy buồng kỹ luật tối im chập choạng, kín như khối nhà mồ chất chứa xương cốt của những người chết để lâu không chôn cất. Tử khí ẩm ẩm tanh tanh. Cuối cùng, anh bước vào căn buồng hẹp sau cánh cửa thứ ba (đúng nghĩa chỉ là chiếc hộp dựng đứng), đặt chân vào khoen cùm hình chữ U. Bên ngoài, tiếng động ổ khóa khóa lục cục, xong thanh sắt giữ chân cùm chuyển động, day day chạy ngang cổ chân anh. Căn phòng hoàn toàn chìm đẫm vũng tối sau loạt động âm do những tấm cửa đóng lại. Không biết bây giờ là mấy giờ? Hôm nay thứ mấy?! Anh quên ngay ý nhiệm thời gian, ngày, tháng vừa tách rời. Nơi nầy năm trước, 1979 anh đã một lần vào, và khoảng một năm sau anh được cho ra, trở về trại chung với đồng ngũ. Nhưng lúc ấy thân thể anh bền bỉ, rắn chắc; trí tuệ mạnh mẽ cương nghị.. và nhất là chung quanh, bên ngoài, ở cạnh những bức tường phòng giam nầy còn có một tập thể bạn tù Miền Nam – Những người bạn anh mà có thể phân biệt cụ thể, chính xác từng âm nói của mỗi người.. Cách phát âm của Phan Văn Giỏi (với âm sắc Quảng Nam được nhấn mạnh) đang múc nước ở khu nhà bếp (sát tường buồng kiên giam).. nhớ nghe không..Nhớ uống cà phê.. nghe Phượng (“Cà-phê phượng”- biệt danh các bạn đặt cho, do anh uống cà phê pha chế bằng những hạt phượng rang cháy). Trước kia, năm ngàn người của lần chuyển trại đến đây (tháng Tám, năm 1978) đã chiếm dụng toàn thể bốn dãy nhà giam chính của khu giam giữ; nay chỉ còn hai-mươi-hai người ở gọn đúng vào một chiếc buồng (của dãy nhà cuối cùng) luôn khóa kín sau giờ lao động. Đúng hai mươi-hai người. Anh là người cuối cùng của nhóm người khốn khổ còn lại nơi Miền Bắc nầy. Chung quanh anh nay không còn ai. Chung quanh anh nay không có người. Có ai chia sẻ với mình đây?! Anh cố gắng nghĩ đến điều xót xa nầy nhưng không nổi. Hình như ý nghĩ cũng gây đau. Anh sờ tay lên bức tường.. Động tác vô nghĩa nhưng để chứng tỏ mình đang còn sống, biết suy tính. Là con người biết xê dịch bàn tay.. Có ai chia sẻ với mình không? Ý nghĩ được kết thúc như thể hoàn thành xong lần cố gắng.

.. Ta ngồi dậy
và như một thói tật,
Gõ gõ hỏi han
Hai bên tường tả hữu.
Có ai không?
Không có ai sao?
Ta khắc khoải chờ nghe
Những tiếng động của người
Tiếng động nào bất kể
..
Ta phải cố quên quên bằng mọi cách
Nỗi điêu đứng sống còn
Trong hằng hằng tĩnh chết..

(Thức giấc trong biệt giam, Thơ Tuyển – Hoa Kỳ, Thu 1996; trang168)

Năm 1992, nơi khu vườn của Như Phong ở Nhị Bình, Hốc Môn, Gia Định, trước ngày ra khỏi nước, anh nói cùng Tô Thùy Yên: Cám ơn Bạn đã viết những giòng Thơ chính xác, với ý nghĩa Thơ là Sức Nâng Đỡ. Anh nói không quá lời, e rằng bày tỏ chưa đủ ý, chưa diễn tả được hết lòng tin cậy đối với Thơ. Đối với Bạn. Lời kẻ chết là lời thiêng. Lời kẻ kinh qua cơn khốn cùng là lời thật. Người Viết Thơ Tô Thùy Yên là người làm chứng thuần thành nhất – Làm chứng về Sự Khổ – Cảnh Chết.

* * *

Phần Một
Thơ là cớ chứng thật nhất

16 tháng Ba, năm 1996 nơi phi cảng New York, Nước Mỹ

Anh đến đây từ Houston (Texas), trên đường đi lên một nơi thuộc vùng bắc lục địa Bắc Mỹ. Một nơi nào đó. Anh không cố ý tìm hiểu chốn ấy ở đâu, như thế nào, dẫu đã là người chuyên nghiệp xử dụng bản đồ, tìm hiểu địa hình trong nhiệm vụ quân sự ở những năm tháng cách đây không mấy xa. Người bạn dặn, cứ theo chỉ dẫn trong vé máy bay mà đi.. Sẽ đến nơi đây, tiếp tới nơi kia. Trời đang mùa xuân nhưng ẩm ướt, giá rét. Tuyết đóng dày đẩy ùn ra hai bêân hệ thống những đường băng phụ thành đống khối lớn. Anh ngó mông ra phi đạo mù mù. Anh nhìn quanh quẩn khối người đông đảo di chuyển, thúc hối, nhưng rì rầm yên nặng.. À đây là New York, chỗ nầy có bức tượng Nữ Thần Tự Do. Tượng đó ở đâu? (Anh đảo mắt qua lại như thể đang cố ý tìm kiếm một điều gì đã rành rẽ, một người thân quen).. Chắc đâu đó ngoài khu bến tàu, tượng ấy đâu ở phi trường. (Anh cười thành tiếng chứng tỏ đã hiểu biết về một nơi chốn, một tình thế). Tượng nhìn ra cửa biển vào New York mà, thành phố nầy to nhất nước Mỹ đấy. To nhất thế giới nữa..” Anh tự hỏi, xong trả lời, buộc trí não phải bận rộn; cũng như để chứng tỏ không bị khuất lấp bởi hoạt động lôi cuốn ầm ầm chuyển dịch đang vây bọc. Không ai biết mình là ai cả? Và mình đi đâu đây? Cuối cùng, anh mở Tập Thơ Tuyển, viết lên phần trống những tờ giấy sau trang bìa.

Tôi đọc Thơ ông,
Tận trống trải..
Trống vơ, trống vốc.
Khi đến New York vừa rời Houston.

Phi trường xuống,
Không một ai.
Thật.
Không một ai.
Chỉ Tập Thơ ấm sâu trong ngực.

Và anh sống lại. Sống đầy đủ. Sống cùng tận nỗi bàng hoàng xa xót khi đọc qua những chữ nghĩa bình thản đến lạ lùng – Những chữ nghĩa nói về một cuộc sống-chết mà bản thân anh (cũ#ng của nhiều người) hằng mang nặng, nhưng không khả năng xóa mờ, vất bỏ. Mà vất bỏ nơi đâu? Xóa bỏ xong thì trí nhớ anh còn những gì?

Quán chật xanh lên rừng lính ướt
Mặt bơ phờ dính gió bao la
Khí ẩm mù bay, mùi thuốc khét
Chuyện tình cờ nhúm ấm cây mưa
….
Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên
Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên.
(Qua Sông; sđd, trang25)

Vào buổi chiều mù tối nơi chốn xa lạ hôm nay, qua những giòng thơ, cảnh sống tàn nhẫn tội nghiệp một cách bình thường trong chiến tranh kia thoắt trở lại tận đầy đủ.. Và anh nghe ra tiếng cười, giọng nói của những người lính; âm âm báng súng, giây đeo đạn, nón sắt.. va chạm lục cục trên mặt đất, nơi thành bàn, dưới chiếc ghế gỗ của một chòi quán ẩm ướt nào đó ở Long Sơn, Long Định vùng quê Long An ngày mới ra đơn vị, 1963; hoặc nơi Bồng Sơn, Lại Giang, Bình Định cuối năm sáu-mươi sáu, sau kỳ sinh nhật hai mươi-ba tuổi. Có thể anh không nhớ đủ hết tên họ, nét mặt những người đã cùng sống, kẻ đã chết thuộc những đơn vị nhảy dù mà anh hằng dự phần, có mặt. Nhưng lạ thay, anh nhớ chính xác mỗi chi tiết nhỏ nhặt của tiếng động, mùi nước bùn ẩm ướt thấm qua lớp áo trận, từng khuôn mặt của những người lính (quen và lạ) dồn chật trong chiếc quán nhỏ, lần dừng quân ngày mưa năm xưa. Và anh nghe lại giọng chậm, đục của hạ sĩ Ty vác súng trung liên khi mở lời xin anh điếu thuốc giải khuây cùng sắc mắt vô hồn, buồn phiền của những người lính địa phương quân đồn Long Sơn khi họ thoáng nghe, nhìn lướt qua trao đổi thân mật, gần gũi của thầy trò anh.. Sinh hoạt ngắn ngủi, nhỏ nhặt mà họ không thể có do phải ở lại đây giữ trách nhiệm ngặt nghèo giữa vũng tối sũng nước của vùng ruộng đồng hoang vắng, nơi chiếc đồn đang im im bốc khói cháy ngầm khi đơn vị nhảy dù cứu viện rút đi.. Hỏi chủ quán còn chai bia nào không, mời luôn mấy anh nầy. Anh đưa bao thuốc cho Ty, chỉ về phía những người lính địa phương.. Dạ, cám ơn, cám ơn thiếu úy,

Thiệt tình tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen
Hề chi, ta uống cho say đã
Nào có ra gì một cái tên.
…..
Người thuở trước tìm vàng khẩn đất
Tiêu xác thân, để lại oan hồn.
Ngày nay ta bạn đến đây nữa,
Đất thì không khẩn, vàng không tìm.
(Anh Hùng Tận; sđd, trg 28)

Tuy nhiên, hoạt cảnh lặng lẽ kể trên dẫu sao cũng là lần “ bình an, hạnh phúc”, khi chiến tranh chưa nặng độ (đầu thập niên 60), và lần dừng quân còn có một chái quán lợp lá dừa, chai bia, điếu thuốc của vùng thôn quê Miền Nam – vùng đầt trù phú với sức sống ứ tràn trong mạch nước dầm dề phù sa. Vì tiếp liền theo sau đó, chiến tranh mở rộng, giăng dầy, chụp xuống chiếc cánh âm u tai họa.. Và Thơ không chỉ là lời miêu tả cảnh Khổ, nhưng chạm đến mối Đau khi con người bị ném vào lần tận tàn sát, thực hiện cuộc tận diệt.

Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ
Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma
…..
Ta ngó thấy nhà cửa trốc nốc
Từng ngôi như mặt đất đang gào..

Nhưng cũng không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên, nhà cửa tang hoang, tiêu hủy mà đã đến lúc, đôi tượng hứng chịu tai ương – Con người trong chiến tranh – Người lính của hai bên lâm chiến, kẻ thụ nạn của một cuộc tương tranh tàn tệ, phải đối diện (thực sự đối diện) câu hỏi sững sờ vì mức độ phi lý, phi nghĩa, tận vô ích, và cực độ phí phạm của nhiệm vụ họ phải nhận lãnh..

Vì sao ngươi tới đây?
Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói
..
Vì sao ta tới đây?
Lòng xót xa thân xác mõi mòn.
Câu trả lời không có. Nếu có chăng cũng chỉ tăng thêm cường độ cay đắng của một vấn đề đã hư hoại, độc địa từ khởi đầu.
Ví dầu ngươi bắn rụng ta
Như tiếng thét
Xé hư không bặt im
Chuyện cũng thành vô ích.
Ví dầu ngươi gục
Nào có chi đáng kể.

Bi thảm hơn hẳn những nhân vật trong kịch và tiểu thuyết “phi lý” của Samuel Beckett – Trong đó, con người còn khả năng luận lý (cho dù luận về một điều “phi lý”); hoặc còn có điều chờ đợi (dẫu là một điều không tưởng).. Đấy, đời sống cứ qua đi.. Cũng vậy, chẳng có quan hệ gì nếu tôi đã sinh ra đời hay không, tôi đã chết đi hay đang lâm tử.. (Malone meurt; Minuit, Paris, Fr. 1952); hoặc trong kịch En attendant Godot; Minuit, Paris, Fr. 1953, hai nhân vật Estragon và Gladimir, sau một loạt đối thoại không mạch lạc, rối mù về những bàn tay, bàn chân, cái bàn, chiếc ghế.. xoay qua đối tượng gọi là Godot – Bất ngờ xuất hiện như một đồ vật cốt làm đầy cho câu chuyện vô nghĩa, của lần chờ đợi (không biết đợi cái gì).. Bởi: Godot khi là một nguồn động lực bắt con người phải chờ đợi, phải nói đến..Nhưng cũng chính là con người với sự chờ mong (vô vọng, vô nghĩa) của chính họ. Godot chỉ là điều tưởng tượng. Ở Việt Nam, trong chiến tranh, qua Thơ Tô Thùy Yên, diễn tiến sống-chết cụ thể với chính thịt xương con người, qua từng giờ khắc chịu đựng, bày ra như một điều hài hước. Bi kịch và hài tính đã nhập lại thành một khi cùng đối diện với sự chết. Kết thúc bởi sự chết.

Ta phá lên cười, ta phá lên cười
Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ
Ở cõi âm nào người vốn không tin,
Hỏi nhau chơi thỏa chút tính bông đùa:
Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho Tổ Quốc Việt Nam- một tổ quốc..?
Các việc ngươi làm,
Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm
Các việc ta làm
Ta xét thấy chẳng ra chi
Nên người hăng điên, còn ta ảm đạm
Khi cùng làm những việc như nhau.
Và kết luận cuối cùng không thểâ khác,
..Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
Có cùng gom góp lại,
Mặt đất nầy đổi khác được bao nhiêu?
Người há chẳng thấy sao
Phá Tam giang, phá Tam Giang ngày nầy đâu đã cạn?
(Chiều trên Phá Tam Giang; sđd, trg 74)
Cuộc máu lửa, súng đạn chấm dứt với ngày 30 tháng Tư, 1975, Thi Sĩ kẻ thụ nạn khốc liệt nhất trong mọi tầng lớp xã hội Miền Nam-cùng một lúc thực hiện hai chức năng, nạn nhân lẫn chứng nhân của lần xĩ nhục, đọa đày Con Người – Sinh vật nhận biết đau trong trái tim, trên xác thân.
Thức dậy, những ai còn sống đó,
Nhìn ra nhớ lấy phút giây này.
Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay
…….
Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc,
Đèn bão mờ soi chẳng thấy ai.
Ta gọi rụng rời ta thất lạc.
Ta còn chẳng đủ nửa ta đây.
…….
Dường như ta chợt khóc đau đớn.
Lệ nóng cường toan cháy ruột gan
Lệ chảy không ra ngoài khóe mắt.
Nghẹn ngào đến cả tiếng than van.
(Tàu Đêm; sđd 117)

Người phải sống và Thơ phải viết bởi lần đau không chỉ riêng đối với một cá nhân, nhiều giới người, hoặc giai cấp cầm quyền chính trị, hay một tầng lớp xã hội.. mà toàn bộ lịch sử – đời sống bị xáo tung, ngụy trá, mạo danh, miệt thị và hủy hoại. Không chỉ nơi Miền Nam, không riêng của Việt Nam, mà chung cho cả địa cầu, lần con người tận diệt.

Mà thôi hãy nuốt lệ còn nghẹn
Tỉnh thức, lòng ơi nhìn tận tường
Thời đại đang đi từng mảng lớn
Rào rào những cụm khói miên man
…..
Người bạn đường kia chắc vẫn thức
Mong tàu đi đến chỗ đêm tan
Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời những rỉ han
Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người, hãy thức, thức cùng nhau.
(Tàu Đêm; sđd 117)

Thi Sĩ phải sống để đi cho hết cuộc hành trình tưởng như không hề có thật- Hành trình băng qua thống khổ máu lệ cường toan – Khóc không nỗi, nói không nên lời, chỉ biết cúi đầu im lặng trước bi thương chập chùng oan nghiệp mà phận người phải gánh nặng từ một thuở bắt đầu vòng sinh-diệt.. Cũng để tận thấm hiểu nghĩa xa xót mong manh từ hạt sương, tiếng dế, giếng nước, sợi tơ trời nơi bản quán đã thật sự nhạt nhòa, hư vỡ.

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
……..
Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển đời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt.
Tội tình chi lắm nữa, người ơi!
(Ta Về; sđd 126)

Người ơi! Người nào? Không người nào cả. Chỉ riêng ta với tiếng gọi xé lòng.. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ- Thanh Tâm Tuyền. Hãy gọi lên một lần. Cho gọi thêm đến nhiều lần.. Gọi đến lay động chiếc bóng của chính ta ngã dài trên dặm trường thăm thẳm cô quạnh. Hãy gọi lên. Kêu lên.. Không còn ai.

* * *

Phần Hai
Thi Sĩ luôn hiện sống – Sống ròng

Gần mười năm sau Thơ Tuyển (1995), Thắp Tạ (2004) đã là một lần vượt thoát toàn diện, và Thi Sĩ thật sự Sống Ròng-Với Thơ.
Nếu những năm tháng trước đây trong chiến tranh, tiếp tù ngục và cảnh khổ Việt Nam (sau 1975) đã hé mở ra những vấn nạn không thể nào trốn thoát.. Gõ lấy đầu mình như gõ cửa. Liên hồi kêu cứu giữa đêm khuya.. (Mùa Hạn; Thơ Tuyển, trg 103); hoặc phải chứng kiến những kinh hoàng không thể quên.. Trăm họ lần lượt bỏ xứ trốn. Biển thì hung hãn, thuyền mong manh. Ta nghe kể lại xác lên bãi. Nằm dài dài như lúc chiến tranh. (Nỗi Đợi; TT, trg 163). Nhưng dẫu gì tại lúc nguy nan kia con người cũng còn đôi chút hy vọng – cách hy vọng bền bỉ của người không chịu khuất phục (bởi khuất phục có nghĩa tiêu vong) – nên người lại kiên nhẫn lên đường, vẫn luôn trên đường đi, dẫu đường vô hạn lẻ loi.. Con đường vô định chưa ai tới. Hay tới nơi, thôi chẳng trở về. Hởi gã du hành, hãy nói lại. Những điều người thoáng thấy như mê. (Và Rồi Tất Cả Sẽ Nguôi Ngoai; TT, trg 53). Nhưng hôm nay, cuối thế kỷ bão táp, sang đầu thời đại mạt pháp, Con Người tự tìm ra và phải tìm ra với sáng suốt, tận bình yên, bởi người hiểu nên rằng, sẽ không đi tới đâu cuối cuộc hành trình miên viễn khó nhọc suốt một cuộc đời. Không xa, không gần, không non cao, không biển rộng, không biên giới và cũng “không còn biên giới”.

Đi như đi lạc trong rời đất,
Thủy tận sơn cùng, xí xóa ta.
Cõi chiều, đứng lại, khóc như liễu:
Có thật là ta đã đi xa?
(Đi Xa; Thắp Tạ – Hoa Kỳ, 2004, trg 10).

Điều chứng ngộ nầy không đâu xa..
Chỉ là một bước, bước trờ..
Hỏi chưa ra, đã trăm năm sững sờ
(BiệtTăm; sđd, trg 11).

Phải, chỉ một bước thôi, bước ngắn ngủi, chóng vánh, cô đọng như một công án thiền đạo –Thi Sĩ thấy ra (thấy chính xác, cụ thể) kích thước tận cùng trong phần, đoạn hữu hạn.
Tưởng thôi, nháng tưởng thôi.
Trí năng nào chạy kịp
(Sát Na; sđd, trg 11).

Công phá tuyệt luân nầy phải do mỗi cá nhân tự chứng – Đây là Sự Thường nhưng không hề tầm thường – Chỉ được xác lập bởi những trí tuệ thật sự khắc khoải mới hiểu nên điều nguyên lý: Sự thất vọng về hữu hạn là do thiếu đi tính vô hạn (Soren Kierkegaard); hoặc chỉ từ khổ đau vô lượng của kiếp người – Bất cứ người nào khi gặp những cảnh ngộ.. Buồn trông nội cỏ dàu dàu, chân mây mặt đất một màu xanh xanh; hay khi đối diện, Bốn phương mây trắng một màu, trông vời cố quốc biết đâu là nhà – Mà thiển nghĩ (chắc nghĩ không sai), đây không là tình cảnh của một cô gái tên gọi Vương Thúy Kiều, nhưng thật phải là của người đã viết nên những giòng chữ xót xa nầy – Tâm cảnh thắt thỏm của Nguyễn Du lúc ở Huế nhìn về phương Bắc với lòng quặn đau: Bắc thành thập khẩu khẩn đề cơ – Mười miệng người kêu đói ấy không ai xa lạ, chính là vợ, đúng là con. Là đứa con mà Đỗ Phủ đã phải ôm chặt vào người, bịt miệng lại do trẻ quá đói cứ nhè ông mà cắn, và để đứa bé bớt la khóc (sợ hùm, sói nghe được) trên đường chạy loạn ngã Bành Nha: Si nữ cơ giảo ngã. Đề úy hổ lang văn. Hoài trung yểm kỳ khẩu.. Kinh qua những giờ khắc thương tâm đáng sợ nầy (không phải chỉ trong một khoảng thời hạn tại một hoàn cảnh nhất định), con người phải tự cứu.. Và không còn con đường nào khác ngoài thái độ bình thản vô vàn cao thượng trong tất cả mọi tình huống, cho dẫu gặp phải kết thúc đậm dấu bi ai nơi một chốn mịt mùng không định hướng.

Mai có ai về ngang quãng sông nầy
Xin ném cho hòn đất hỏi thăm.
……
Những nấm mộ đá chồng rỗng kiệt
Hình hài người chết đã tiêu tan.
Nhưng chắc đâu hồn mộng chẳng còn chạy giỡn bạt ngàn
Cho tàn hã cuộc mê man cùng Vô Biên độc nghiệt.
(Viễn Tây; sđd, trg 45).

Thế nên, không cần đến giải oan nơi sông Tiền Đường, cũng chẳng nên khóc than người nằm dưới nấm mộ dàu dàu ngọn cỏ bên đường, cuộc nhân sinh ai cũng thế mà thôi, mỗi người một cảnh, vô vọng , đơn lẻ như gió thổi qua cõi ngoài.

Một mai, ngoài cõi gió hao đuối
Ai hỏi ai về ai trước kia?
(Chim Kêu Bãi Quạnh; sđd, trg 32)

Ai hỏi ai? Và hỏi về ai? Không phải là cách chơi chữ nghĩa nhưng quả thật Người Viết Thơ đã nắm bắt được tiêu điểm tận cùng của biên giới tâm cảnh mà con người luôn gọi tên bằng những tính tự “tuyệt vọng, đau thương”. Và tuy biết bên ngoài vùng mông mênh “ngoài cõi gió” kia không còn nữa những “đơn vị gọi là ai”, nhưng Thi Sĩ không hề tuyệt vọng (như khi Tây Phương kiêu ngạo đối diện với Hư Vô; kẻ chinh phục thấy ra điều suy hoại, sụp đỗ đế quốc xây dựng bởi thành quả bạo tàn) – Vẫn vững tin và bình thản cậy trông.

Khắc khoải chim kêu mùa hóa giải
Hành nhân về bên giếng quê nhà
Ngõ trúc chiều ngát hoa gạo mới
Ngọn đèn thắp đợi đã rền hoa
…..
Chiêm bao, âu cũng chiêm bao cả
Mưa lớn chừng như rợp hải hà.
(Chim Kêu Bãi Quạnh; sđd, trg 33)

Đau thương thay và đáng được kính trọng thay, qua suốt cuộc biển dâu ba mươi năm với những cảnh huống trầm luân, khi hái rau nơi vực suối triền núi sâu đất Bắc.

Làm người, đã phải làm sao?
Thêm bề rau thấp, cỏ cao, tội người.
…….
Giá cho ta hỏi một lời
Rau nầy trăm họ mấy người đã ăn?
(Hái Rau; sđd, 37-38)

và khi thảng thốt về Nam chứng kiến cảnh xé lòng.

Làng đã cháy, im lìm bất trắc..
Người nhớ người mà cũng sợ người.
Trời ơi, những xác thây la liệt,
Con ai, chồng ai, anh em ai?
(Nhớ có lần, trên bến bắc khuya.; sđd, 70)

Nhưng Con Người đi hết chặng đường bão táp ấy vẫn sắc son bền bỉ vẫn tận sống từng khắc giây sung mãn với lòng yêu thương con người, hoa cỏ, lá cây, lát gừng cay, hạt muối mặn lấy ra từ Đất. Người còn, trời đất còn chan chứa.. Muối mặn, gừng cay trắng tóc xanh.. cho dẫu đã hơn một lần (rất nhiều lần) hiểu rõ nghĩa “được-mất; có-không”sau những lần bị tước đoạt trần trụi như tình cảnh của Job trong Cựu Ước; bị lấy đi cả tiếng sáo hót thắm thiết trong buổi ngày thơ.. Tình cảnh của miền Nam, của cả nước bị bóc vỡ đến những ngưồn vui trong sáng nhỏ bé sau 1975.

Con sáo trong lòng con đã chết
Bé ơi, sao bé còn đi tìm?
Còn kêu lạc giọng sáo ơi sáo.
(Con Sáo; sđd, trg 29)

Chẳng phải đợi đến khi có lời nguyền rủa từ Tây Phương về lần bức tử Thượng Đế, những dân tộc Đông Phương (điển hình cảnh huống người Việt, các dân tộc trên Bán Đảo Đông Dương suốt bao thế kỷ lầm than do những cuộc phân tranh khởi từ đời Lê Mạt, thế kỷ 16, 17 kéo dài đến cuối thế kỷ 20) đã hằng thấm cơn đau về một, “Lão tạo hóa đành hanh qua ngán. Giết đuối người trên cạn mà chơi” (Nguyễn Gia Thiều- Cung Oán Ngâm Khúc) – Giết vì một đố kỵ khắc nghiệt, “Trời xanh quen thoái má hồng đánh ghen” (Nguyễn Du- Kiều) – Giết như một trò chơi. Nhưng những con người thuần phác bền bỉ chịu đựng kia vẫn hằng nuôi dưỡng đức tin nhu thuận: “Trời luôn đến cùng người khốn cùng, kẻ khờ dại, và những trẻ thơ” Nên dẫu, Tạo hóa tham công hay lỗi lầm? Hoặc giả, Vũ trụ tạo hủy dở dang mãi, Con Người qua tuyên ngôn của Thi Sĩ vẫn nhận ra điều kỳ diệu:

Mới hay sống chết dễ mà khó,
Mệnh nghiệp không là chuyện dững dưng.
(Hành Giả Âu Sầu; sđd, trg 109)

Có Dân Tộc nào bản lãnh đến ngần ấy? Có Con Người nào mạnh mẽ đến nhường kia? Quả thật, chỉ riêng Thi Sĩ đã hoàn tất xử dụng chữ, nghĩa thanh khiết tạo nên lời ca ngợi vô vàn:

Thế nhưng ngươi sẽ vẫn yêu đến giọt nước mắt cuối,
……
Cũng như ngươi sẽ vẫn yêu đến giọt nước mắt cuối.

* * *

Kết Từ

Kể từ khi “người vượn- homo erectu” dựng đứng được xương sống và dùng hai tay để viết nên những ký hiệu đầu tiên, đến nay trong những trước tác của tổ chức nhân loại văn minh với Bộ Bách Khoa Toàn Thư (Encyclopedia Britannica) gồm hai mươi-chín cuốn, hoặc Tự Điển Từ Nguyên, Từ Hải đồ sộ của người Trung Hoa.. Tất cả nội dung trình bày trong những ấn phẩm to lớn nầy không gì khác hơn do một NÉT VẠCH ĐƯỢC SẮP XẾP theo một hệ thống từ con người dần xác lập, và đồng thuận xử dụng. Hệ thống nầy do Hai Mươi- Bốn chữ cái La-tinh, hoặc Bảy nét cơ bản của Hán Tự cấu tạo nên thành Chữ Viết tồn tại bền vững qua hàng ngàn năm cho đến nay. Và chắc chắn dẫu tiến đến một tương lai kỹ thuật cao đến bao nhiêu – CHỮ VIẾT-CON NGƯỜI (dưới nhiều dạng tự khác nhau, Phạn Ngữ. Á-Rập Ngữ..) VẪN VĨNH HẰNG TỒN TẠI. Thế nên, chúng tôi vô cùng tin cậy rằng: Trong những ký hiệu Chữ Viết kia ẩn chứa Thần Tính – Siêu Việt Tính nhưng cũng là Nhân Tính.
Chúng ta nhắc nhở với nhau như thế, đồng thời xác lập điều tự hào cảm động: Tiếng Việt qua vận động của Thi Sĩ đã trở nên thành nguồn nội lực đủ sức cất chứa những rung cảm tế vi của tâm hồn, và biểu hiện nên Lời Thơ hùng vĩ.

Chúng ta vẫn sống như rừng cây
Chúng ta vẫn sống như mặt biển
Bởi vì đã đi nên sẽ đến
Người và bóng tối phải chia tay.

Cảm ơn Người Bạn Viết Thơ Đinh Thành Tiên – Thi Sĩ Tô Thùy Yên.

PHAN NHẬT NAM
Mùa Lễ Tạ Ơn. Cali, tháng 11, 2004.

LINH NGHIỆM -Truyện Ngắn- Trần Huy Quang

Linh Nghiệm
Truyện Ngắn

Trần Huy Quang

Hinh là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân không nghèo nhưng cũng không giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan, nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố nên quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước. Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết thân làm bằng hữụ Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ… bằng nguyên bản nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoạị Ðạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.

Hàng ngày Hinh sống như người nuốt phải quả chùy gai vào bụng, buốt nhói, nhăn nhó, bồn chồn, vừa ngồi đã đứng lên, mới ngủ đã vùng dậy, trán nhăn tối,, mắt xa xăm. Như đang phải lòng một tiểu thư khuê các…

Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn. Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. Hinh ngước cái nhìn mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiện hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh.

Tháng ngày như sợi chỉ căng mà lòng khao khát làm trai hải hồ, khắc khoải mong một phút được quỳ dưới chân bậc Chí Thánh và nói: “Ơn Người, Người là nguồn ánh sáng dẫn dắt chúng con… Lũ chúng sinh con khao khát được gặp Người…”

Thế rồi như sự linh nghiệm của lời nguyện cầu, một đêm giông tố bão bùng, đất trời như trong cơn đau sinh nở, Hinh đã lên chín tầng Thánh địa để được gặp đấng Chí Linh.

Bắt đầu là một ngọn nến, ánh lửa dịu ấm tỏa một quầng sáng hình nón. Vầng sáng ấy tỏa hào quang, tia hào quang không thẳng mà có hình gấp khúc. Cuối cùng ở trung tâm vầng sáng ấy hiện ra khuôn mặt kiều diễm của một cô gái tóc vàng.

- Kính thưa… ố Hinh bàng hoàng thốt lên.

- Không phải! ố Cô gái mỉm cười độ lượng. ố Tôi chỉ là sứ giả của đấng Lập Ðạo. Anh có lời thỉnh cầu gì gấp lắm không? Người đang bận, việc hành đạo mới chỉ ở bước khởi đầu…

- Kính thưa, tôi là người của xứ sở Nhọc nhằn tăm tối…

- Thôi anh không cần phải nói, chàng trai ạ, người xứ Nhọc nhằn có khát khao ánh sáng thì việc hành đạo mới càng được dễ dàng. Ðây anh cầm lấy, theo đạo thư này, anh sẽ tìm được chân lý.

Vị sứ giả trao cho Hinh đạo thư quý giá ấy rồi nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn như một cái chấm chính giữa vầng hào quang rồi biến mất giữa bao la. Hai tay đỡ cuốn sách trước trán, Hinh vẫn quỳ và thành kính đặt lên đó một cái hôn, rồi anh run run dở ra đọc.

Hãy đi về phía Nam theo con đường một bên là cây và một bên là nước, cuối con đường có quán bia hơi và thịt chó, đừng vào chốn đam mê ấy và đi thật chậm. Dọc đường sẽ có người hỏi: Có đi không? thì đừng đi. Ðó cũng là người cần lao chứ không phải ma quỷ cám dỗ, nhưng phải đành từ chối. Ði tiếp sẽ gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất để tìm cái này. Cứ thế… chỉ cần một lúc sau, anh sẽ có được thiên hạ…

Hinh ấp cuốn đạo thư vào ngực tức tưởị “Trời ơi, bảo bối, bảo bối…” Hinh sung sướng hét toáng lên. Tiếng anh vang rất to trong đêm và lúc ấy Hinh mới biết mình vừa qua một giấc mơ. Nhưng trời ơi, tại sao những điều anh nung nấu trong tâm can bấy lâu nay lại được giải đáp trong mơ. Anh sung sướng và cảm động đến mức nước mắt giàn giụạ Ôi chúng sinh nhọc nhằn và tăm tối của ta, bảo bối này sẽ soi sáng đường chúng ta đi…

Sáng hôm sau, Hinh thành kính chuẩn bị lên đường. Quần áo tươm tất, mũ miện đàng hoàng. Trước nhà anh có một đại lộ chính Nam, có lẽ đúng là con đường này nên anh dần bước ra đị Một bên cây và một bên nước, hay một bên rừng và một bên biển? Anh cứ đi, qua vài đoạn phố nữa thì anh thấy mình đi đúng, con đường men theo cái hồ. Và giữa phố có hàng bia hơi thịt chó mà vài lần anh cũng đã bị cuốn vào đó. Ôi, sự linh nghiệm không sai một dấu phẩy. Ðường phố trong veo, lui cui dăm chiếc xe đạp chở kẹo bánh, than tổ ong đi bỏ mối cho các hàng nước vỉa hè, lọc cọc đôi chiếc xích lô cà tàng đi tìm khách. Vài cô điếm vật vờ.

- Có đi không?

Một cô gái điếm rủ rê. Hinh nhớ đến giấc mơ mà thấy lạnh xương sống, trong mơ cũng ba chữ ấỵ Ðến cuối phố, Hinh thấy một ki-ốt sách báo thật, chủ quán vừa mở cửạ Tại sao có sự kỳ diệu thế này, khi tỉnh anh nào có biết chỗ này có một quán sách? Ði tiếp, gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Hinh liền rẽ trái, đi một đoạn qua các cửa hàng bách hóa đã thấy vườn hoa Mùa Xuân.

Kẻ hành đạo không chần chừ đắn đo, đi tới giữa vườn hoa, lòng như ngây ngất hơi men, một nửa muốn bay lên, một nửa muốn trì xuống. Mắt Hinh hoa lên, đâu Thiên Thần, đâu Ðịa Thánh, không biết con đang đứng giữa Ðịa đàng hay mặt đất. Rồi anh chợt tỉnh lạị.. Tìm cái này là tìm cái gì, anh không hiểu nhưng không dám nghi ngờ lời vàng ngọc của đấng Tiên trị Vườn hoa nằm cạnh đại lộ, lúc này đang vắng hoe, chỉ có mấy ông già tập thể dục muộn, dăm chàng thanh niên đá bóng và một tốp học sinh cấp ba sắp đi quạ Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất… Hinh vừa cúi lom khom chăm chú tìm kiếm vừa lẩm nhẩm đọc. Anh như bị thôi miên, không biết mình đang tìm cái gì, nhưng anh cứ trung thành với lời chỉ giáo, người cúi lom khom, mắt dán xuống đất và từng bước một chậm rãi.

Những người qua đường lấy làm lạ.

Bắt đầu là một nhóm học sinh cấp ba, mấy đứa con trai vốn hiếu kỳ, đi đến và tự hỏi, không biết ông kia tìm cái gì nhỉ? Chúng không thể tự giải đáp được.

- Anh ơi, anh tìm cái gì đấy ?

Hinh mải mê không hề nhìn lên, chỉ buột miệng trả lời:

- Tìm cái này .

Ðối với chúng, câu trả lời ấy, làm ngứa ngáy chân tay. Nhất định cha này mất nhẫn, dây chuyền hay hạt xoàn gì đó thôi, chúng mình mà vớ được thì hay lắm.

Thế là cả bọn, cặp sách dồn lại một đống, nhảy vào cuộc tìm kiếm. Khi cả một đám người bò ra sục sạo tìm kiếm thì sự lạ tăng lên hàng chục lần. Người đi qua vườn hoa không bao giờ hết, dân lang thang thất nghiệp, dân nhà quê bỏ ra thành phố kiếm cơm, đang đói rách hy vọng vớ được một chút may mắn, những người này đi đến và không thể không hỏi:

- Tìm cái gì đấy

Lần này thì tụi trẻ con đã mau miệng trả lời:

- Tìm cái này.

Câu này đối với người lớn làm ngứa ngáy đầu óc. Thế là họ bỏ cả gồng gánh, xe cộ, nhảy vào quảng trường.

Hỏi tiếp đến…

Bây giờ là dân xích lô, ba gác, dân ăn xin, trẻ mồ côi bán báo, dăm cô điếm, đám bụi đời móc túi nghe tin cũng tìm đến.

- Tìm cái gì đấy ?

- Tìm cái này.

- Mả mẹ chúng nó, giấu như mèo giấu cứt. Nhất định là hạt xoàn, ru bi, có lẽ tối qua, tụi đào đá đỏ qua đây đánh nhau đổ ra bì đá đỏ không chừng. Mẹ chúng nó, ông mà biết trước, ông rào lại, ông đuổi tất. Ê, ông kia được một viên rồi hả, bắt nộp phạt chúng mày…

Cứ thế…

Và số người hy vọng có một chút no ấm bò lê trên vườn hoa để tìm vật báu, đến lúc này đã đông như một đàn kiến.

Hinh chợt nhận ra tiếng ồn của đám đông và anh ngạc nhiên đứng lên nhìn họ, hóa ra thiên hạ đã bu lại xung quanh mình. Một lúc sau anh sẽ có được thiên hạ. Hinh sung sướng đến rơm rớm nước mắt và mãn nguyện ra về.

Cái đám đông ấy cứ như dòng nước trong lòng sông, trôi đi chứ không cạn. Người đến trước, thất vọng ra về trước, người đến sau, thất vọng ra về saụ “Tìm cái này là cái gì thì không ai biết ố nhưng cứ hy vọng có chút no ấm mờ mờ phía trước cũng đã hấp dẫn để họ trở thành một dòng nước.

Trưa.

Rồi chiều.

Và… vẫn còn đám đông xúm xít giữa vườn hoa Mùa Xuân.

[Tuần báo Văn Nghệ (Hà Nội) số 27, tháng 7 năm 1992]

BÓNG ĐÈ -Truyện Ngắn- Đỗ Hoàng Diệu

Bóng Đè
Đỗ Hoàng Diệu

Tôi có bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại hiếm thấy. Bàn tay không thay đổi theo mùa hay béo gầy cơ thể. Thụ bảo bàn tay tôi không tuổi tác trọng lượng. Hồi hai mươi tuổi, mới ra trường nằm nhà ba tháng, chỉ ăn và ngủ, cơ thể trồi lên những múi thịt, nhưng bàn tay tôi vẫn mảnh dẻ. Thụ hay mân mê bàn tay tôi. Bàn tay thể hiện tâm hồn con người, dù em mập đến mấy ngón tay em vẫn chỉ là cọng cỏ chao lượn dưới gió xuân. Tôi đưa ngón dài nhất mơn quanh môi chồng. Cọng cỏ thường dai, chỉ liềm sắc mới cắt nổi anh biết không? Mắt Thụ cụp xuống tìm câu trả lời. Có khi chỉ một con kiến cũng làm ngọn cỏ tan gãy. Có thể. Tôi chìa bàn tay ra trước nắng, nhìn như nhìn bàn tay một kẻ khác. Giông gió, bão lũ, nắng hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn với năm ngón ngắn dài, làn da mỏng tanh không trọng lượng. Chỉ có tôi hiểu vì sao bàn tay tôi tách rời ra khỏi thể xác mình. Chỉ có tôi hiểu vì sao tôi hay trốn những vách dựng loang loáng một chiếc bóng. Thụ không hiểu. Chính tôi đôi khi cũng thấy mình là lạ.
Quê Thụ cách thành phố khoảng ba giờ tàu hoả. Tôi không ngờ đồng quê khác biệt đến thế. Một vùng đất vẫn giữ được nét cổ xưa hiếm hoi thời cuộc. Ngồi trên tàu Thụ dặn dò tôi kỹ lưỡng về những nghi lễ phải làm trong ngày giỗ cha. Chồng tôi mồ côi cha từ năm lên chín. Căn nhà mái ngói vốn là nhà gỗ ba gian được bao tường ẩn náu phía đáy làng. Đằng sau ngôi nhà, phơi mình trong nắng, ruộng ngô đang ra bắp xanh mướt. Kéo dài tầm mắt một chút, ẩn hiện giữa đám ngô, bãi tha ma thênh thang còn giữ nguyên được mồ mả đắp đất cỏ mọc xanh tươi tốt. Lần về trước bận bịu khách khứa tôi đã chẳng có thời gian đẩy đưa con mắt. Thụ bảo lần này phải ở lâu lâu một chút cho mẹ chồng tôi vui. Tôi dạ vâng ngoan ngoãn. Thụ véo mũi tôi: sao trên giường em chẳng ngoan hiền như thế cho anh được yên thân? Tôi lơ đãng trước câu nói đầy hàm ý. Tôi không thể ngoan hiền. Tôi hay chồm lên người Thụ nuốt lấy anh vồ vập. Tôi ưa kéo Thụ lên chà xát. Tôi bắt đôi tay Thụ bóp nắn liên tục. Tôi muốn đã cơn khát thèm từ buổi trưa ấy, một buổi trưa nắng bình thường như bất kỳ một ngày hè nào nhưng với tôi là bỏng rát, là bước ngoặt. Tôi cất giữ bí mật riêng mình. Thụ nào biết. Thụ cứ hay van xin tôi đừng hực lên như hổ cái. Tôi chẳng thể đặng đừng. Anh bị tôi co rút lôi đi. Đôi lúc thấy anh kinh khiếp tôi đành phải dè dặt. Nhưng rồi đến cơn khát tôi vung vấp hết. Mỗi sáng thức giấc trông Thụ thật tội nghiệp.
Bàn thờ nhà chồng tôi to dài quá cỡ. Chưa bao giờ tôi nhìn chiếc bàn thờ nào lớn như vậy. Có rất nhiều bát nhang và những bức trướng chữ Tàu. Mẹ chồng tôi nói bâng quơ mà tựa căn dặn: “Nhà ta mỗi năm cúng mười sáu đám giỗ. Sau này anh Thụ cúng tôi nữa là mười bảy, sẽ vất vả đấy.” Tưởng tượng ra viễn cảnh mỗi năm còng lưng làm cơm cúng mười bảy đám giỗ cho đến ngày Thụ qua đời, tôi không khỏi ngao ngán.
Khi Thụ quần áo tề chỉnh chắp hai tay trước ngực khấu đầu làm lễ, rèm vải hai bên bàn thờ lay động lươn lướt, màu đỏ nhức nhối trong nhang khói. Nép mình cúi đầu cùng mấy phụ nữ trong góc nhà, tôi cố giỏng tai xem chồng mình đang khấn những gì. Nhưng chỉ là ập è âm thanh xin xít nơi đầu lưỡi. Thụ không nói mà cũng không hát. Tựa tiếng kêu của loài bò sát. Tôi nhướng trí tưởng tượng phong phú của mình xem qua lời khấn của Thụ những ai đang về. Hồi sáng hai vợ chồng ra nghĩa địa dọn dẹp khu mồ mả tôi mới biết tổ tiên nhà Thụ cũng nhiều oan khuất. Mười một ngôi mộ dàn trải xưa cũ trong vùng đất trũng sâu dáng hình thung lũng. Thụ nói sau cơn động đất tự nhiên khu mộ nhà mình thụt xuống thành trũng như vậy và một ngôi mộ thì biến mất. Tôi băn khoăn về chuyện mười sáu đám giỗ sao chỉ mười một mộ phần? Giọng Thụ có vẻ buồn, tay anh đưa liềm cắt cỏ chuẩn xác.
“Cô em gái bố do hận tình nên trẫm mình xuống sông sâu năm vừa tròn mười tám không tìm thấy xác. Hai ông cố trẻ làm thầy phù thủy đi khắp nơi cùng chốn rồi không quay trở về, nhà lấy ngày hai ông bỏ đi làm ngày giỗ. Hai ông khác, một liệt sĩ Điện Biên, một liệt sĩ đường 9 Nam Lào, xương hốt về bằng đầu đũa chôn chung một mộ.”
Thụ im lặng đột ngột, tiếng liềm xén cỏ mạnh hơn.
“Thế còn một ngôi mộ nữa đâu anh?”
“Ông nội bị đấu tố hồi cải cách ruộng đất chết thảm trên tổ kiến lửa. Sáng mai bà nội chỉ tìm thấy vài cọng tóc ở nơi cột trói, xác không biết đi đường nào.”
Giọng chồng tôi nghèn ngẹn. Tôi thấy lạnh sống lưng. Tưởng như cũ xưa nào vừa lướt qua mình. Bây giờ quỳ trước bàn thờ tôi cũng lạnh sống lưng. Lẫn trong âm hưởng xin xít buồn thảm khấn vái của Thụ một tiếng nhẹ như gió lướt lụa bay trơn lọn. Đã có lần tôi nghe đâu đó rắn là loài vật linh thiêng dẫn dắt người chết về trần. Tôi ngẩng phắt lên thanh đà treo ngang bàn thờ. Thanh gỗ bóng nhẵn không vết bụi, trống rỗng. Cô em chồng cấu mạnh. “Chị cúi đầu xuống đi, anh tôi không dạy chị à?” Khi đầu tôi lại cúi xuống, một cái gì láng nhẫy bay qua. Linh cảm đôi khi chỉ là linh cảm nhiều khi.
Và Thụ đứng lên húng hắng báo hiệu. Chồng tôi đã cúng xong. Cỗ được dọn xuống trong tiếng đũa lanh canh lũ trẻ háu đói. Suốt cả bữa ăn trong đầu tôi cứ lảng vảng hình ảnh mười sáu bóng ma tổ tiên theo lời khấn của Thụ trườn về, bay về thế nào. Thảng hoặc lại lành lạnh buôn buốt như gió cũ xưa nào lượt qua mình. Những cây nhang cháy hết cuộn thành vòng đầy ắp bát hương to màu đồng và những bát hương nhỏ màu trắng vẽ long phượng. Ai đó reo vui: “Hương cháy đẹp quá, nhà này năm nay chắc nhiều may mắn.” Mẹ chồng tôi thỏa mãn. “Anh chị Thụ thể nào chẳng sinh một thằng cháu đích tôn nay mai.” Thụ tay cầm cánh gà xoay xuống tôi đỏ mặt. Tôi thừa biết anh nghĩ hổ cái như tôi sẽ nhanh chóng kết nhuỵ sinh hổ nhỏ cho nhà anh nay mai. Đàn bà như tôi có lẽ sinh năm một, anh chẳng từng nói thế. Miệng tôi cười mà lòng trống trải. Ông trẻ mặt xanh men rượu ngoắc cánh tay xuống mâm dưới, tôi để ý đàn ông nhà Thụ tay thường dài chạm gối. Có lần tôi đùa Thụ tay dài như tay vượn, anh sa sầm nét mặt. Em chẳng biết gì cả, những người tay dài thường dòng dõi đế vương, thiên tử. Có lẽ ông tổ anh từng là vua chúa vương giả Trung Hoa gặp nạn nên chạy loạn sang đây. Tôi thấy Thụ thật ngây thơ nhưng không dám nói. Dòng họ nào ở miền bắc này mà không chạy loạn hay đội trên đầu xứ Trung Hoa?
“Nhân thể cháu dâu trưởng thắp nén nhang lên bàn thờ khấn xin cha thằng Thụ phù hộ cho sớm sớm được thằng cu. Cha chồng cô mất vào ngày trồng, linh thiêng lắm.”
Tôi không biết ngày trồng ông trẻ nói là ngày gì nhưng đoán chắc rất thiêng. Len lén luồn qua mâm trên, kính cẩn lấy ba nén nhang châm lửa cắm lên bát hương đặt cạnh khung ảnh một người đàn ông trung niên có hàm răng hơi nhô với tia nhìn sắc lạnh, tôi khấn lạy ba lần. Vừa thụt lùi vừa liếc trộm khung ảnh cha chồng, ống chân tôi đau tấy lan dần. Một khắc, tôi nghĩ đến ám dấu cơ thể biết báo hiệu trước những chuyện bất thường. Chưa kịp định thần, bỗng dưng mái tóc, thân thể tôi nóng hực và tiếng cô út hét lên: “Bát hương cháy rồi.” Thụ xô ngã tôi, quỳ mọp trước bàn thờ dập đầu lia lịa. Bát hương ngùn ngụt cháy. Tôi hoảng loạn nghĩ thế nào tia lửa cũng lan rộng thiêu cháy bàn thờ, thiêu cháy ngôi nhà, thiêu cháy bãi ngô, đốt rụi mồ mả. Tôi muốn tìm xô xách nước dập lửa nhưng chân tay tôi cứng đơ tựa khúc gỗ, cơn đau nhức oại oằn trí não. Giọng nói đon đả mẹ chồng cất lên như vệt điện chạy dọc sống lưng. “Mời các bác, các ông xơi tiếp. Tôi nghĩ ông nhà tôi hoá bát hương vui mừng đón cháu đích tôn đấy.” Mọi người ồ lên đồng thanh. Nhưng cái liếc xéo của bà về phía tôi lại đầy cay nghiệt. Bát hương cháy tận gốc, tro dầy lên hình thù ngôi mả mới đắp. Tôi biết ngôi mả mới đắp bằng tro nung này sẽ thiêu cháy cuộc đời tôi nay mai. Thụ nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc. Da thịt tôi rần rần kiến bò. Cảm giác ơn ớn, trơn lọn bóng nhẫy.
Tám giờ tối bãi ngô ngủ im. Thụ im lặng kéo tôi vào nhà. Sau buổi chiều hoá bát hương tro đắp hình ngôi mộ, Thụ nhìn tôi khang khác. Tôi chỉ cảm nhận khang khác trong một trực giác mơ hồ không bằng chứng.
“Anh chị Thụ vào buồng mà ngủ. Trong ấy ban đêm chuột hay thọc mạch, dém màn vào chiếu cho chặt kẻo nó vào giường.”
Sống lưng tôi dựng đứng. Viễn cảnh một bầy chuột chui vào giường bò lên thân thể khi tôi đang say giấc chẳng lãng mạn yên bình đồng quê chút nào. Tôi đưa bàn tay thon mảnh của mình ghì chặt Thụ, anh nhăn mặt nhìn tôi, bắt gặp ánh mắt thảng thốt của vợ, anh thẽ thọt nhìn mẹ:
“Mẹ cứ ngủ trong buồng với con Thắm để vợ chồng con ngủ ngoài này. Ban đêm gió máy mẹ không nên ngủ trên phản. Với lại con hay dậy đi ra đi vào sợ mẹ mất giấc.”
Mẹ chồng tôi loét quét đôi guốc vào buồng. Âm thanh roạc ngắn từng cơn. Con Thắm sang làng bên chưa về. Thụ bỏ tôi đứng trước cửa ra nằm chườn lên tấm phản kê gian ngoài cùng. Trước mặt tôi, bàn thờ chính giữa đã to giờ trương lên kỳ lạ. Hình ảnh nó phình nở trong đầu tôi. Bức màn đỏ lừ loang rộng. Hốt hoảng tôi chạy nhào vào Thụ. Chiếc quạt tai voi Liên Xô không rào rỉ sét ọc ạch quay tiếng một. Người Thụ đẫm mồ hôi. Giọng anh đừng đững.
“Em ngủ đi đừng làm ồn, mẹ không nghỉ ngơi được.”
Thụ là lạ thế nào. Thường ngày chưa bao giờ Thụ lên giường trước mười hai giờ khuya. Một lần Thụ bị ốm, tôi bắt anh ngủ sớm, anh nói đấy là cực hình. Sao Thụ có thể ngủ vào tám giờ tối hôm nay? Tôi tỏ vẻ quan tâm.
“Anh có nóng không, em quay quạt lại chỗ anh nhé?”
“Anh nằm phản thấy mát rượi, mấy phút nữa là ngáy, ngủ đi em.”
Thụ lại đùa. Từ ngày làm vợ Thụ tôi nào nghe anh ngáy nửa giây? Chiếc áo ba lỗ trắng tinh trên lưng Thụ xoay về tôi vẻ cấm đoán. Tôi cười thầm sự cẩn thận ngăn ngừa của anh. Cửa giả mở toang, bàn thờ linh thiêng ngay cạnh, mẹ chồng có thể đi ra đi vào bất cứ khi nào. Dù thèm chồng đến mấy tôi cũng phải gò mình trong bộ đồ ngủ kín đáo mà hậm hực. Tôi cũng không buồn thắc mắc về việc trái khoáy khi anh nói mát rượi mà người cứ đầm đìa mồ hôi. Thụ giờ khắc này sao quá đỗi xa lạ, không còn là Thụ buổi chiều đổ bóng xuống mình tôi. Anh lặng câm yên vị trong ngôi nhà bao tường cũ kỹ. Còn tôi lại muốn vách tường nhà anh rạn nứt để tôi cùng Thụ trốn ra ngoài. Ba cánh quạt tai voi vẫn ì ạch quay rít. Trước lúc thiếp đi tôi mơ hồ nghe lại cái giọng ngột ngạt, nhừa nhựa ập è xin xít nơi đầu lưỡi lúc Thụ cúng lễ. Rồi tôi rơi vào mê man. Loang loáng bãi ngô im lìm hứng sương không gió nào thãng thột. Trăng khuya phổng đứng chiếu ánh sáng sữa đục. Thoắt một cái, bóng tối ngập oà. Tôi thấy mình bừng tỉnh. Cảm nhận không khí ngột ngạt, hãm bức, chật chội vây quanh. Môi miệng khát cháy, toàn thân căng cứng. Nực nồng, oi bức như sắp đổ cơn giông. Ba cánh quạt tai voi ngừng phắt xê dịch. Không một tiếng gió nhưng tấm màn đỏ che bàn thờ cứ chốc chốc lay động khẽ khàng, chỉ mình nó đang chuyển động đỏ lừ trong thời gian lẫn không gian ngưng bặt. Tôi sợ, tôi muốn quay sang ôm Thụ để anh che chở cho mình. Song tôi không thể nào cử động, màu áo ba lỗ trắng tinh chồng tôi nằm sát ngay cạnh như trêu ngươi mà tôi chẳng thể nào nhúc nhích. Không khí mỗi lúc một ẩm thấp, nực nồng khoá cứng lấy tôi trên mặt phản.
Tiếng ho đứt đoạn từ trong căn buồng mẹ chồng lôi tôi khỏi đêm đen. Tứ chi rã rời, đầu váng vất, mồ hôi tôi rịn rạn dính bết. Bộ đồ ngủ tự nhiên mở khuy trễ nải lạ lùng. Tôi nhìn hàng cúc nhàu nát lạ lẫm, giống Thụ vừa vò nát chiếc áo và tôi vừa bận lên mình chưa kịp cài khuy. Cạnh tôi, Thụ vẫn ngủ im bằng bặt, ngoan hiền trẻ thơ, đôi má phụng phịu ninh nính. Tôi đâm nghi hoặc, kín đáo luồn tay xuống dưới. Chất lỏng đẫm ướt sền sệt ngầy ngậy mông đùi, thấm nhầy chiếc quần lót mỏng. Thụ trở mình ú ớ giữa giấc mơ. Tôi hoang mang nhìn chồng, cơ thể anh vẫn đầm đìa mồ hôi.
Ngày gặp Thụ tôi không còn con gái. Cơ thể săn chắc mượt mà vun đầy hai mươi rúc lên hồi còi dài khi chiếc bóng của anh đổ ập xuống mình. Một buổi chiều, bóng tôi lọt thỏm giữa bốn vách nhà rông trong khuôn viên Bảo tàng Dân Tộc. Bàn chân ai lào xào sỏi đá sau lưng. Náu lặng tôi giữa hồi còi không ngừng rúc lên thúc bách trong da thịt. Chiếc bóng chồm lên chút nữa. Vách nhà rông nuốt chửng ngực tôi nhoi nhói từng hồi còi riết róng. Tôi chăm chú nhìn chiếc bóng đang hắt thẫm mảng sỏi đến gần, chiếc bóng như tạo ra tiếng động trên sỏi bị đè nghiến. Nghe có vẻ khác thường nhưng tôi tin chiếc bóng có thể đè nghiến được cả thế gian này, riêng gì sỏi đá. Chỉ có tôi mới biết điều ấy. Tôi muốn chạy trốn, khi trước mặt bóng đen lừng lững dịch chuyển. Giọng nói cất lên trước lúc cổ họng tôi bật ra tiếng kêu.
“Em bị chói mắt phải không?”
Gương mặt người đàn ông phúng phính hiện ra dưới chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ làm yên hoảng hốt trong tôi. Lúc anh đưa tay sửa vành mũ, tôi nhận ra cánh tay anh dài chạm gối. Tôi biết gương mặt này, cánh tay này, giọng nói này sẽ đóng đinh vào giữa vùng khuất lấp của mình. Vách nhà rông oặn ẹo vặn mình nứt khe. Tôi sẽ chui qua khe nứt ấy, tay tôi sẽ dắt anh cùng đi, chỉ cho anh thấy tôi thuộc về anh từ thuở nào. Anh rồi sẽ ngoan ngoãn nhập vào tôi như một gẫy gập định mệnh. Nhập vào tôi -hẫng hụt tôi- ngạc nhiên anh đêm tân hôn sau đó chẳng là bao. Làm sao để Thụ hiểu vì chính tôi cũng chỉ là người mù trong cõi tối tăm? Một cõi không Thụ, không mặt trời, không cả âm thanh giữa buổi trưa kỳ lạ. Tôi khám phá ra những chiếc bóng trên tường không chỉ đơn thuần là những chiếc bóng. Chúng cũng sống động như thân thể tôi khát thèm một vực thẳm. Chúng vờn vượt trên da thịt non tơ hứng háo của tôi. Về sau tôi biết mình đã đánh mất điều quý giá nhất buổi trưa hôm ấy. Chúng đã cướp mất cuộc đời con gái khi vừa chớm đến, khi tôi vừa mới biết xỏ tay thành thạo vào chiếc su chiêng. Chúng cho tôi biết nỗi sợ hãi khôn cùng, sự ngừng đập trái tim. Và cả khát thèm, chờ trông suốt những năm thiếu nữ khi chúng không còn quay lại. Mọi người nói tôi bị bóng đè, chẳng có gì đáng sợ. Tôi không thể ngờ đó chỉ là số phận. Thứ số phận đã đẩy đưa cho tôi gặp Thụ và làm vợ anh vội vàng, giống một linh ứng mà cơ thể tôi đã ám hiệu rúc còi.
Sau đám giỗ, chúng tôi đáp tàu trở lên thành phố. Trên đường về, Thụ luồn tay vào vùng ngực hồng hào của vợ xoa xoa bầu vú, miệng lấm lét cười. Tôi rất thích cử chỉ này của Thụ. Cả điệu cười tươi của anh. Dưới quê Thụ không cười với tôi như vậy, lúc nào cũng ra vẻ lạnh lùng.
“Vợ tôi thoát nạn nhà quê rồi, tiểu thư thôi không phải nằm phản mồ hôi nhễ nhại như đêm qua. Sướng nhé.”
Tôi không sướng, không thoát nạn như Thụ tưởng. Cảm giác như tiếc, như nhớ chiếc phản và bàn thờ với màn đỏ che đậy. Cảm giác lạ lùng mà chính tôi cũng không hiểu. Tôi vẫn không thể nào giải thích được những gì đã xảy ra trên tấm phản. Lẫn lộn tất cả. Nhưng có điều chắc chắn tôi không mơ cũng như Thụ không hề đụng chạm vào người vợ. Ban sáng anh đã giãy lên như đỉa phải vôi khi tôi dọ hỏi. “Về quê có một buổi không được làm hổ cái với anh mà em đã cuồng lên rồi tơ tưởng lung tung. Em thật là..!”. Tôi lại mơn nhẹ ngón tay dịu dàng của mình lên môi chồng. Như thế anh sẽ không còn giận dỗi. Bàn tay tôi thật kỳ diệu. Năm ngón ngắn dài với làn da mỏng tanh, như bàn tay của một người khác, có thể làm mọi việc mà tôi không có khả năng. Giá thân thể tôi cũng không trọng lượng như bàn tay đang xoè ra trước mặt. Giá thân thể tôi không có những đòi hỏi cảm xúc như bàn tay đang giơ lên trước nắng. Nhưng bàn tay ấy, của tôi hay của ai, chẳng thể nào phá tan được sự hoài nghi bí mật. Cảm giác trưa hè ngốt ngát năm nao đang trở lại. Chiếc bàn thờ to dài quá cỡ, tấm phản láng bóng thời gian, thung lũng mười một ngôi mộ, tiếng ho khúng khắng trong căn buồng mẹ chồng có liên quan gì đến nỗi hãi sợ mà kích động hứng háo đang chảy xuyên suốt huyết mạch đàn bà trong tôi?
Gương mặt Thụ ngó lơ những cánh đồng. Tôi nhìn Thụ đăm đăm. Mùi đất ràn rạt trên cần cổ anh. Tôi nghiện cái mùi ngai ngái trên ngực Thụ mỗi khi nằm sấp trên mình anh hôn tẩn mẩn đầu lưỡi có vị cỏ đắng. Bất giác tôi lại nghĩ đến cái đầu lưỡi đã phát thứ tiếng động ập è xin xít khi Thụ khấn vái.
Trở về thành phố, thân thể Thụ trở lại khô ráo thôi đầm đìa mồ hôi. Mỗi bận Thụ cởi trần, tôi ngắm tấm lưng anh nâu om khô ran tựa một mảnh ngói. Khô đến nỗi giá tôi đặt nụ hôn lên lưng anh khi ấy, đôi môi tôi sẽ bốc hơi khô cháy trong khoảnh khắc. Giống như thân thể Thụ đã trút hết nước ở vùng quê hoặc cái buổi tối Thụ nhễ nhại mồ hôi chưa bao giờ xảy đến. Chồng tôi trở lại làm một người đàn ông ưa nghịch ngợm, hay mân mê bàn tay vợ rồi khen dù mập ốm em vẫn giữ được bàn tay của một thiếu nữ. Tôi sung sướng mỗi khi nghe Thụ khen bàn tay mình không thay đổi. Thi thoảng tôi cũng nghĩ đến cái bàn thờ đỏ quạch và tự hỏi có phải mình nằm mơ? Đôi lúc thắc mắc khiến tôi mất ngủ. Nhiều lúc tôi nhíu mắt trước gương tự hỏi mình là ai và cố tìm một trả lời. Thụ trả lời thay tôi bằng cách bồng ẳm tôi lên giường biến tôi thành hổ cái, đánh thức những rực rào của hai bầu ngực tôi liên tục rúc lên những hồi còi dài. Tôi kẹp cứng Thụ không cho anh xổng thoát về với bãi tha ma. Tôi chỉ giật thót mình sau vung vấp nhận ra bãi tha ma vẫn còn ở đó.
*
Đám giỗ ông nội Thụ sau đấy một tháng. Hai vợ chồng lại thu xếp nhảy tàu lụi hụi về ngôi nhà mái ngói ba gian chất chứa bí mật dòng dõi đế vương. Thụ im lặng suốt quãng đường, mắt trống trải khi tàu vào ga. Tôi nghe tiếng rao bán hàng rong vọng lại thập thòm lẫn tiếng nghiến đường ray. Tâm trạng tôi lẫn lộn. Mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ.
Sau cúng lễ, y như lần trước, Thụ đi ngủ sớm. Tôi níu kéo.
“Đêm nay anh ôm em ngủ được không? Hôm trước em thấy sợ.”
“Em lại tính giở trò gì đây? Trời thiêu lửa mà ôm nhau ngủ?”
Giọng Thụ cục cằn, ánh mắt liếc xéo chẳng mấy yêu thương. Tôi trơ hẫng trước thái độ của chồng, ở thành phố Thụ chưa khi nào nói với tôi bằng giọng như vậy. Ngón tay tôi rụt vội. Hình như làn da mỏng tanh bị bỏng.
Mẹ chồng tôi không mấy vồn vã. Bỏm bẻm trầu cau, gương mặt tôi tối, bà vấn lại khăn trên đầu, mắt nhìn đâu đâu. Làm như mẹ chồng tôi cố tình thức khuya để canh chừng con dâu. Tôi ngó ngón cái tím bầm của mẹ chồng rồi lại ngó lên bàn thờ, vẫn ngôi mộ bằng tro nung và những tấm hình phủ mặt. Tôi cẩn thận đi tắm trước khi lên phản. Phòng tắm tuềnh toàng được quây chiếu lệ bởi những tàu dừa, dưới ánh trăng non vệt ra hình thù kỳ quái. Lớp trăng non lướt mỏng đến tấm phản soi lờ mờ gương mặt Thụ. Trong bóng tối nhìn gương mặt chồng có nét an bình đủ đầy, tôi bớt sợ. Mẹ chồng tôi đã tắt nến. Cơn buồn ngủ đến thản nhiên, một cách thanh bình tựa như nỗi hãi sợ và thân thể tôi là hai tách biệt không liên hệ. Tôi ríu mắt chìm ỉm vào giấc ngủ.
Thức giấc, tôi thấy mình khát cháy cổ họng. Làn môi khét khô căng rạn và mồ hôi lấm tấm trên trán, tôi nghĩ mình bị sốt. Người tôi ơn ởn. Mặt phản ẩm rít. Ngoài sân cửa nhà mở toang và ánh trăng vẫn đang rọi những mảng sáng cuối cùng. Đúng lúc tôi chống tay định nhỏm dậy thì tấm màn đỏ nhúc nhích và tứ chi nặng trĩu. Từ sau tấm màn đỏ, những chiếc bóng bay ra lũ lượt tích tụ thành mảng đen lớn. Trái tim tôi muốn nhảy dựng khỏi lồng ngực, tôi nhắm chặt hai mắt trong kinh sợ tột cùng, nhưng vẫn cảm giác rõ rệt trước mặt khối đen đang lẩn nhẩn về phía mình. Tựa quả đất đang nặng nề đè nghiến tấm phản. Trời ơi, tôi phải gọi Thụ, mảng áo trắng ba lỗ chồng tôi loá rực như con mắt anh mở thao láo trong đen đặc ám mờ. Chỉ cần khẽ nhích cánh tay là tôi có thể đụng vào Thụ nhờ anh cứu giúp. Hình như chồng tôi còn thức, hai tròng trắng ươn ướt trừng trừng. Anh nằm ngửa, hai tay xếp trước bụng ngay ngắn như một xác chết mở mắt. Một thoáng tôi nghĩ chồng tôi đang nhìn lên trần. Một lúc tôi nghe hơi thở Thụ đều đều vung vãi. Làm sao anh lại có thể ngủ ngon đến vậy? Chưa bao giờ tôi ghét cái khuôn mặt phinh phính bình lặng của Thụ như lúc này, anh bỏ mặc tôi đơn độc, nhoài nhã. Khí quyển mỗi phút một nực nồng, rít ẩm, ngột ngạt. Thời gian như bất tận, tôi không dám ngoái lại nhìn mảng đen đã rất gần, chỉ tích tắc nữa sẽ ập xuống mình. Tay chân tê cứng mà lạ thay, hai con ngươi tôi mở to chưa từng thấy, sáng xuyên thủng màn đêm, đến nỗi tôi nhìn được cả những sợi lông mi của chính mình đang vòng cung lên vầng trán căng rát, xót rạn mồ hôi. Dường như Thụ vừa dịch lưng. Anh lăn sát vào tôi hơn, một chút nữa thôi là anh chạm vào người tôi, nhưng Thụ bất động ở ranh giới ma mãnh ấy, bây giờ tôi nhìn rõ hai mắt anh không nhắm tý nào, thậm chí mở to hơn thường ngày. Mảng đen đã thôi uốn lượn trên mền vải, nó thò hẳn vào lùng sục từng bộ phận thân thể tôi. Bàn tay lần rờ trọn đường viền môi, nắn từng chiếc răng xinh xắn, hệt như khi Thụ trườn lên tôi thổi khúc dạo đầu. Đến hai núm vú bàn tay đang lạnh lẽo chợt nóng rẫy. Mỗi ngón thiêu rụi tôi như lửa. Màn đen rẫy rùng khi có tiếng giầy rón rén trên sân gạch và bóng áo cánh khen khét mùi đàn ông hiện ra. Cô út về tới. Bàn tay vẫn lẩn nhẩn nơi êm ái mượt mà làn da bụng con gái. Tôi đinh ninh em chồng mình sẽ nhìn thấy, sẽ tri hô lên và mọi người nhào tới hất mảng đen, chặt bàn tay vô liêm sỉ khỏi người mình. Nhưng Thắm chỉ trân trân ngưỡng cửa nhìn ngắm, hai hàm răng bít chặt, bước những bước ngắn vội vào buồng. Tôi nghe tiếng cười đắc ý sát gần. Bàn tay bắt đầu mạnh bạo hơn gỡ lớp vải kết mồ hôi, bóc tách thuần thục. Mồ hôi tướp ướt đùi non, rãi rà rề xuống mặt phản trơn rít. Rồi khi bàn tay túm trọn lụa nhiễu đen óng, mảng đen bỗng tan loãng hiện rõ hình dáng một con người nghênh ngáo. Tôi hiểu mình phải im lặng, im lặng trong sợ hãi tột tận đời người. Khói đen tan biến hết. Tôi hét lên, tôi thấy mình hét lên một tiếng sập trời khi lờ mờ nhận ra đường nét trên gương mặt đang đè mình. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô đanh ác đầy quen thuộc. Chưa kịp định thần, chiếc quần tôi đã bị kéo phăng bằng một động tác như ảo thuật. Mồ hôi rìn rịn bức bối hai đùi, đúng khi tôi cảm được sự cương cứng thúc lên bụng thì cánh cửa buồng mở toang và mẹ chồng tôi hiện ra với chiếc bật lửa. Tôi muốn vùng chạy khỏi nỗi nhục nhã ê chề. Bóng đen vẫn nhịch, từng phân nhịch xuống. Đôi mắt mẹ chồng nhìn vào phản làm tôi hãi hùng hơn tất cả những gì đang chịu đựng. Tia nhìn sòng sọc, hằn học, cay nghiệt bổ tát mỗi phân vuông cơ thể tôi loã lồ. Ánh mắt ấy như muốn thiêu cháy mỗi sợi lông măng hình hài tôi. Cố vùng vẫy, cằn đạp thoát cái nhìn của bà, tôi quên cả bóng đen đang nhinh nhích đã gần kề cửa sông con gái. Bóng tối tan chảy, lửa bùng lên loang khét tấm màn đỏ. Mẹ chồng tôi phẩy lia phẩy lịa nắm nhang khắp bàn thờ như điên dại. Bóng đen rít lên một tiếng man rợ xoẹt ngang lửa nhang. Bụng tôi kéo một vật gì dài cứng thép. Hụt hẫng rơi tòm tôi xuống đâu đâu. Tôi thấy có làn gió thổi mát sợi tóc, những làn gió làm ngả rạp bãi ngô lao xao. Dưới ánh sáng nhập nhoàng bó nhang toả khói, mẹ chồng tôi lê bước chậm chạp về buồng. Và Thụ khịt khịt mũi đạp chân vào đùi trần của vợ. “Sao nửa đêm ai lại thắp nhang thế này?” Lưng Thụ thẳng đứng như bị điện giật khi anh mở mắt. “Em.. em.. em cởi truồng?” Đập mạnh cánh tay xuống phản trong nỗi cứu sinh, tôi choàng tỉnh, biết mình vẫn nguyên vẹn hình hài. Kéo quần lên, tôi quay lưng lại Thụ không giải thích một lời. Giấc ngủ đến ngon tuyệt diệu trong đời. Tôi không biết mắt Thụ hằn lên những tia đỏ dại cuồng.
Tôi thức sớm không phải bởi tiếng gà gáy, không bởi ánh nắng chói loá xuyên tấm liếp cứa da cứa thịt. Tôi thức dậy bởi giọng nói mỉa mai kéo dài đu đượi chua đôi môi hóng hớt của Thắm xỉa xuống tấm phản, đầy tiêu ớt cay xé đã làm tôi choàng tỉnh. “Làm dâu thời buổi này kể ra cũng sướng thật.” Lảng ánh mắt của Thắm, tôi thấy mẹ chồng đang ngồi ngoài hè, trông bà nhỏ thó như một đứa trẻ. Bà ngó lơ vườn tược cây cối trong im lặng lâng láo của loài rắn. Im lặng u ám như đêm qua mẹ chồng tôi không thấy con dâu cởi truồng tênh hênh trên mặt phản, đã không phẩy lia lịa bó nhang trước bàn thờ. Dưới bếp Thụ quần đùi bên rổ khoai lang tím. Anh ngừng nhai nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc nào. Đôi mắt Thụ vô hồn, tròng mắt anh quạnh quẽ rờn rợn.
“Đêm qua anh ngủ có ngon không?”
Tôi hỏi gắng gượng. Dường như tôi không hỏi Thụ, nhưng tự vấn chính mình. Tôi không biết chồng mình có nhìn thấy những gì đêm qua trên tấm phản, có nghe tiếng hét mà tôi đã thét lên? Thụ vẫn nhai, khoai lang thì đâu cần nhai nhiều thế, hở Thụ? Miệng anh nhều nhào chất bột chẳng đẹp chút nào.
“Em dậy muộn quá đấy.”
Thụ không trả lời tôi. Câu nói của anh tôi biết hiểu thế nào. Tôi phải tự trả lời cho nghi hoặc của mình, phải tự mình chèo chống qua vùng lũ xoáy. Nhưng tôi biết hỏi ai, tìm ai bây giờ? Bàn tay thon ơi, bàn tay diệu kỳ ơi, bàn tay có biết không, trả lời tôi đi. Tôi thay áo quần, bỏ ra bộ đồ ẩm rít mồ hôi nhàu nhĩ, quần lót đặc quánh thứ chất nhầy ngà tôi chẳng biết gọi tên.
Khi trở lên nhà, mẹ chồng tôi không còn ngồi trước hiên. Cả Thụ và cô Thắm cũng lảng lờ nơi nào. Tôi bỗng thấy mình như được cởi dây trói vô hình. Bàn tay ngón dài sáng nay càng thanh tao lạ lùng. Không xui khiến, nó kéo roạc tấm màn đỏ trước bàn thờ, tựa muốn cho tôi thấy điều gì. Quả thực chưa bao giờ tôi nhìn kỹ bàn thờ tổ tiên nhà Thụ. Bây giờ đập ngay vào mắt tôi là hai huân chương liệt sĩ, một Điện Biên, một đường 9 Nam Lào. Hai tấm ảnh truyền thần dương cặp mắt dài dại song vẫn là tia nhìn lạnh lẽo đầy hãnh tiến. Thụ chưa kể tôi nghe về những tấm huân chương này bao giờ. Sống lưng tôi lại ởn sốt. Những đôi mắt đang chằm chằm hắt tia nhìn sắc lạnh lên thân thể. Đôi mắt liếc xéo của những người đàn ông dòng dõi đế vương chết rồi vẫn đội lên đầu xứ sở Trung Hoa. Tôi quay lưng trước đôi mắt đêm qua đã vờn rượt lên tấm thân nóng ẩm kích động đàn bà của mình. Tôi chạy ra sân, chạy xuyên cánh đồng ngô đã vàng trĩu, bóng nhẫy những quả bắp căng rửng hạt tròn. Gió đượm mùi đất ẩm, mùi khô quánh trộn với nước sông tù hãm miết hơi dần dật vừa vuốt ve vừa sờ soạn chiếc áo cánh thêu cành hoa đỏ đậm vắt ngang hai bầu ngực tôi đang thở gấp. Bên trong chúng chẳng có gì mà vẫn bị kềm hãm. Tôi muốn thân thể tôi được giải phóng, tôi muốn bầu ngực mình núng nẩy tự nhiên reo hát. Chúng đang kêu lớn lên rằng đêm qua trí óc tôi không mơ, chúng đã bị vầy vò, bị liếm láp, bị nát nghiền. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô của những tấm hình trên mộ bia thản nhiên, tráo trơ hãnh tiến một cách bình lặng. Bình thường như tôi đã bị cưỡng hiếp. Nhưng sao tôi không chống cự? Phải chăng tôi đồng loã, phải chăng tôi đã ưỡn người lên chờ đón? Phải chăng vòng quay đã được sắp đặt từ buổi trưa ngốt ngát bất thường tuổi thơ đến buổi chiều Bảo tàng Dân Tộc Thụ đổ bóng xuống đời tôi? Nhưng suốt những năm thiếu nữ tôi đã mong chờ, tôi đã khát cháy, giờ đây nó hiện hình sao tôi hoang mang? Vòng quay số phận cuộc đời tôi không phải vòng quay yêu thương. Tôi là ai, từ đâu đến? Tổ tiên đế vương Trung Hoa tay dài chạm gối nhà Thụ muốn gì?
Bãi tha ma thênh thang trước mặt. Gió sớm từ sông rì rào đổ thốc qua quần bò áo cánh đen. Thân xác tôi buôn buốt, nhưng nhức từng cơn, nhưng là sự nhưng nhức kích động, hỏi đòi và đau đớn. Tôi sợ chính mình. Cành hoa thẫm đỏ vắt ngang hai bầu ngực vẫn chỉ chực vểnh lên đĩ thoả. Nó đang mơn trớn, dỗ dành hoang đàng. Thung lũng mồ mả mười một ngôi mộ đẫm rượt sương đêm. Những cọng cỏ chà cứa vào chân tôi hay chân tôi lướt lên chúng mời mọc? Mười một ngôi mộ yên bình, sự yên bình thái quá một u mê. Tôi muốn những ngôi mộ nứt đất chui ra từng bóng ma, từng oan hồn liệt sĩ xéo sắc, tay dài chạm gối. Tôi nghĩ mình sẽ không sợ hãi. Tôi muốn họ trả lời tôi họ muốn gì ở đứa con gái nhiều xúc cảm này và có gan hãy hãm hiếp tôi giữa ban ngày ban mặt. Vẫn chỉ là im lặng. Má tôi nóng hực, miệng tôi lại khát cháy. Giật tung hàng khuy áo, cành hoa đỏ thẫm đứt đôi, tôi xoay vòng quanh mười một ngôi mộ. Vú tôi rứng tràn không khí. Vú tôi là đời sống, là hơi thở, là khí quyển. Mồ mả là quá khứ, là huân chương, là tổ quốc. Tôi chạy giữa bãi tha ma thênh thang hoang dại. Tôi múa điệu múa da thịt tươi tốt, thách thức thần linh, thách thức âm hồn dòng dõi Trung Hoa nhà Thụ. Tôi tung tăng thể xác, đôi bầu vú tự do khiêu khích cho đến lúc bàn tay xa lạ có năm ngón thuôn mềm đưa lên cài lại hàng khuy áo ngay ngắn. Tôi đứng nhìn bàn tay của chính mình như nhìn bàn tay của một kẻ chất phác quả quyết giắt tay tôi lầm lũi trở về. Có phải bàn tay của kẻ nào đó còn dính vào cườm tay tôi đã hiểu không thể nào chống cự nổi chiếc bàn thờ to dài quá cỡ với tấm màn đỏ nhức nhối chất chứa cả một quá khứ phi phàm?
*
Thụ mang ánh nhìn lạnh lẽo trên suốt chuyến tàu xuôi về thành phố. Tôi có cảm giác anh giống một pho tượng ai đặt cạnh mình. Anh náu lặng, làn da chỗ đỏ ửng chỗ nhợt nhạt. Những cánh đồng trơ hoác gốc rạ chạy tăm tắp trong nhập nhoạng hoàng hôn. Tôi không dám nhìn thẳng mặt chồng, chỉ len lén chăm chú lên đôi tay Thụ dường như dài hơn, bất động hơn, khoanh vòng nhiều hơn trước vùng ngực phẳng. Tôi muốn tự mình mân mê bầu vú, để tìm lại cử chỉ âu yếm của chồng. Nhưng tàu cứ tiếp tục rì rì, nhởn nhơ trên con đường dài trơ trẽn. Tôi muốn Thụ hét lên, chửi rủa thành lời những gì đang khoét rỗng đầu anh. Không còn nghi ngờ gì, Thụ đã nhìn thấy cảnh đêm qua, Thụ biết tất cả. Nhưng sao anh không cứu tôi, anh không thiêu cháy bóng đen man rợ bảo vệ vợ mình. Hay Thụ đồng loã, bán tôi cho những bài vị liệt sĩ khát đói? Tôi đâm hận anh vô cùng. Hận lây sang những ngày sau đó khi đã yên ấm nơi thị thành náo nhiệt, khi chiếc bàn thờ bỏ mặc bụi phủ nhà quê. Mà không là giận nữa, một nỗi hoài nghi thường trực ngày đêm.
Cuộc sống vợ chồng dần dà ngường ngượng. Thụ vẫn chăm chút tôi nhưng sự chăm chút đượm mùi sầu thảm. Chẳng còn lửa cháy, chẳng còn nồng nàn. Tôi thôi không hực lên hổ cái mỗi đêm trên người Thụ. Tôi không vồ nuốt lấy anh, hối hả rúc mặt vào trong nách anh tìm hương vách nhà rông của buổi trưa nào ở Bảo tàng Dân Tộc. Thụ cũng chẳng mấy mặn mà chuyện ái ân. Bàn tay anh thôi vuốt ve bóp nắn. Tôi cũng thôi cắn đầu lưỡi Thụ có mùi cỏ đắng. Mỗi sáng sớm thức giấc, tôi không còn cảm giác tội nghiệp nào cho Thụ. Và anh cũng không còn véo mũi tôi cảnh cáo đêm qua. Chúng tôi lặng im, không la hét, không dọ hỏi để tìm nguyên nhân, không một giải thích nào. Ngầm hiểu với nhau. Như đã cài trong đầu tôi và Thụ chuyện phải xảy ra để mà chấp nhận. Đời sống bình lặng, trong bình lặng giấu giếm giằng xé với những mẩu đối thoại đều đều như kinh nhật tụng.
“Hôm nay anh đi làm mệt lắm không?”

“Em trông mắt anh trũng sâu, đừng gắng sức nữa.”

Nhưng thân thể tôi thì không im lặng. Đêm khuya, khi đèn đường nguội lạnh, cạnh mình Thụ xoay lưng thin thít thì làn da tôi lại hực hội khát thèm. Tôi thấy vú tôi nở ra trong đêm tối, nở lớn như một đoá vạn thọ bất chợt bung cánh, to bằng một cái bát. Thân thể tôi giống một quả mít tố nữ ngậy thơm đợi bổ đôi. Lẫn trong thao thức, tôi nhớ tấm huân chương liệt sĩ Điện Biên lấp lánh, huân chương Đường 9 Nam Lào sáng choang động đậy. Đùi tôi thèm được rát rẫy mồ hôi, bụng thèm cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào. Tôi biết như thế là tội lỗi, nhưng rồi lại tự nhủ đó là một thứ tội tổ tông mà chẳng ai có quyền chê trách.
Tôi biết phải chấp nhận để tồn tại. Tôi yêu Thụ và anh cũng yêu tôi thực lòng. Sống trên đời ai chẳng có nỗi khổ, đâu riêng gì vợ chồng tôi. Nhưng rồi giỗ tổ lại đến và tôi không thể giấu diếm khoác lên mình bộ mặt bình lặng được nữa. Thụ cũng vậy, sau sự việc, đôi má anh hóp sâu chẳng còn phúng phính. Ngày oi nồng khi hai vợ chồng nhìn tờ lịch, thu xếp cặm cụi về quê. Nếu là những lần trước, tôi sẽ liến thoắng hỏi Thụ giỗ ai mà về. Giờ đây như một lẽ thường tình, tôi chẳng cần phải hỏi. Một năm mười sáu đám giỗ, cứ thế mà ngược tàu. Tôi lại mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ, phập phồng theo tiếng nghiến đường ray với bãi tha ma chập chùng. Mọi chuyện vẫn diễn ra như bất kỳ đám giỗ nào nhà Thụ với nhang khói, với âm thanh khấn vái xin xít, ập è nơi đầu lưỡi Thụ. Chỉ khác một điều, lần cúng giỗ này vào buổi trưa. Mẹ chồng tôi bảo các cụ báo mộng cho bà làm như thế. Tất nhiên các cụ đã nói thì phải nghe. Ai nào dám cãi nửa lời. Còn nhớ ngày cưới, mẹ Thụ gọi tôi ra góc riêng, giọng bà nhỏ quá mức mà làm tôi run rẩy. “Chị về làm dâu trưởng nhà này trách nhiệm nặng nề. Lấy chồng theo thói nhà chồng, mọi thứ đều có lễ nghi, trên dưới, cứ thế mà làm. Chị làm khác sẽ rước hoạ vào thân, tôi nói trước.” Hân hoan hạnh phúc tôi quên mất giọng nói sắc ngọt của mẹ chồng hôm ấy. Trưa nay nó vọng rõ mồn một, thấu tim óc đứa con gái đang nuôi những vực thẳm khổng lồ trong mình chẳng khác nền trời không xanh lồng lộng cũng đang nuôi những tảng mây tối sáng lừ đừ. Thụ đi nhanh qua khoảng sân rát nắng, phịch lưng xuống phản nặng nề.
“Sáng nay dậy sớm đi tàu mệt quá, nghỉ trưa cho lại sức. Em thần người ra đấy làm gì, nghỉ đi.”
Thụ nói với tôi bực bõ. Làm như tôi cản trở gia tộc anh chuyện gì đó, làm như tôi chưa phục tòng khuôn phép gia đình anh đúng mức hay tôi phá đám giỗ nhà này. Tôi băn khoăn thắc mắc vì sao Thụ phải đổi giọng mỗi khi có sự hiện diện của chiếc bàn thờ? Thụ nói với tôi hay xin phép mẹ? Anh không nhìn tôi mà cũng chẳng nhìn mẹ đang ngấp nghé cửa buồng. Anh nhìn tấm màn đỏ bất động đang rang lửa. Bao nhiêu nhang thắp lúc nãy cháy cằn, tàn tro giữ nguyên dựng đứng như hình chĩa ngọn chông, trơ khấc tàn bạo. Thốt nhiên tôi muốn sập màn che giấu. Nhang cháy không cuộn thành vòng, không có điều tốt. Tia liếc xéo từ căn buồng mẹ chồng tôi bùng rát khuôn mặt, tôi ngoái đầu, chỉ là hai cánh cửa khép im lìm. Dạo này mẹ Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi nữa. Những cái liếc xéo lởm chởm nguyền rủa của bà hơn một hôn mê, một thôi miên hoà lẫn tiếng xoong chảo cô út vùng vằng ném đập ngoài giếng dìm xuống nước chìm ỉm trong nhiệt độ tăng cao và chiếc quạt tai voi xoay lấc láo. Tôi ỉm mình trong bỏng rát chật chội, hãm bức mê man. Tôi nói thầm nhà quê là thế ấy, lập đi lập lại cho đến khi giấc ngủ đến, rồi vô cớ thức giấc. Lại khát. Thụ dang rộng tay, một chân gác lên đùi tôi như kềm giữ. Ngạc nhiên chưa! Thụ không có thói quen này. Vừa lúc tôi gượng mình vươn vai thì lặng phắc đất trời. Trong tư thế ưỡn ngửa, tôi trơ cứng bất động. Đám mây nằng nặng trôi qua khoảnh sân làm tối sầm gian nhà, tối sầm bức màn đỏ tôi đã kéo che những nén nhang cháy quằn quại. Sau bức màn đỏ, bóng đen thản nhiên bước ra. Lần này hiện rõ hình hài con người. Tôi không còn sợ hãi mà nghênh mặt ngắm nhìn. Nó mang trong mình dáng hình của một lão già Trung Quốc nào đó đầy quyền uy chập chờn trên cái nền lát gạch tàu. Lão Tàu xa xăm, bí ẩn, vừa đen tối vừa có sức hút lạ kỳ, quyến rũ khác thường, vừa giông giống bố chồng tôi. Tôi chăm chăm theo dõi mà vẫn phân định bên ngoài mây xám đã quệt qua khoảng sân, hắt thứ ánh sáng âm âm xuống lũ cây cối, và chỉ cách vài thước, mặt trời đang hực nắng nhựa đường. Cơn khát gắt gỏng nhức nhối trong cuống họng làm mặt mũi tay chân tôi chìm sâu trong nỗi hoảng loạn của thể xác dù phần trí não vẫn tỉnh táo. Khát mỗi sợi tóc. Khát từng nếp gấp làn da. Khát mỗi đốt xương. Khát từ hàng mày. Khát xuống viền môi. Khát trên đồi cao vươn ưỡn. Khát xuống thảo nguyên dang rộng. Khát như chờ đợi bóng đen nhịch nhịch, đến gần tưới nước. Mồ hôi tướp xót mi mắt. Mồ hôi rịn rạn da thịt đùi non. Nhỏ giọt giọt xuống mặt phản đen bóng. Phản này Thụ nói có từ lâu lắm, dễ đã bảy tám đời ngủ nghê, ăn uống, sinh con đẻ cái và khâm liệm. Tấm phản mang quá khứ của gia đình Thụ, xa xôi, chất chồng. Còn tôi, hiện tại, một đứa con dâu đĩ thoả đang ưỡn ngửa căng rát đón chờ. Bóng đen đã đứng ở khoảng giữa hai chân tôi tách rộng. Từng đường nét trên gương mặt lạnh lùng không hề xa lạ hiện rõ. Sao mà giống Thụ đến thế. Rõ ràng là Thụ. Chân Thụ đã rơi khỏi đùi tôi tự lúc nào giống thả cho tôi tự do đối mặt bóng đè. Anh vẫn nằm nghiêng, quay hai con mắt nửa nhắm nửa mở, như muốn chứng kiến. Lúc đôi tay quờ xuống rà rẫm, tôi biết trước chiếc bóng muốn gì, thứ mà mọi đàn bà trên thế gian khi nằm ngửa đều biết. Tôi dang rộng chân lúc nghe tiếng ho buồng trong dội lại. Tiếng ho càng lớn tôi càng dang rộng chân như muốn thách thức. Chính tôi cũng không hiểu vì sao mình có thể dang chân trong lúc tứ chi bất động, muốn vùng dậy mà không được. Cơ thể tôi không vâng phục trí não nhưng vâng phục thèm khát của cái bàn thờ. Những tiếng ho đứt rời, cằn cộc, tiếp tục cay thét, làm như mẹ chồng tôi muốn biểu lộ ganh ghét với chỗ tôi đang nằm. Hai bàn tay thả xuống mạnh bạo, riết róng, hơi thở dập dồn. Nó luồn sâu bóp từng mạch máu chảy sôi huyết quản con gái đôi mươi. Gương mặt sà sát vùng cổ như muốn hút sức sống tôi căng rứng. Rồi lồng ngực bỏng rát, tôi vỡ vụn. Nó đang banh trái tim tôi ra. Tôi hét, tôi vùng vẫy, tôi van xin, hổn hển, oằn oại rên rỉ. Ông muốn gì ở tôi. Tôi biết phận dâu con, tôi sẽ làm tròn bổn phận. Mỗi năm tôi sẽ làm cơm cúng mười sáu đám giỗ. Tôi sẽ dọn sạch thung lũng mồ mả, sẽ lau bóng nhoáng bàn thờ. Sẽ sinh mười một đứa cháu trai cho ông. Bóng đen tảng lờ. Hai bàn tay bạo lực hung hãn khoét sâu, ngoáy vòng. Tôi điên đảo, đau đớn, nộ cuồng rồi tôi cười gằn thỏa mãn với ý nghĩ mẹ chồng tôi cũng đã nằm trên tấm phản này cũng đã dang chân cho nó ngoáy vòng. Sáng tối lẫn lộn. Tôi nhắm mắt cho trăm đời dòng dõi đế vương quần thảo, cho đến lúc đỉnh đầu nhức buốt, tôi bật nức nở man dại. Tiếng ho buồng trong lúc ấy hộc từng cơn xé phổi. Gần như Thụ bị bắn tung vào góc nhà, tôi có cảm giác thế, đôi mắt anh trừng trừng căm hận. Tiếng càu nhàu của Thụ cắt đứt giấc ngủ tôi mề mệt.
“Em thấy tháng sao không mang băng vệ sinh? Con gái mà đoảng quá. Mau dậy thay áo quần, lau chùi tấm phản đi.”
Vẫn bàn tay mảnh dẻ đập xuống phản giúp tôi dậy. Tôi nhìn Thụ rười rượi uất ức. Anh mở mắt, anh chứng kiến, anh vờ như không có chuyện gì. Anh cũng không còn để ý chu kỳ của vợ. Tôi chỉ vừa sạch vài ngày làm sao thấy tháng? Vả lại thứ máu loang áo Thụ, thứ máu đen đặc mặt phản, thứ máu quện bệt đùi tôi không phải máu đàn bà mỗi tháng. Mà là máu tươi chảy róc từ vết thương rách toác bị đâm sâu hung bạo. Mọi người bảo tôi bị bóng đè, nhưng bóng đè chỉ là giấc mơ khi đang ngủ, còn tôi rã rời, hai đùi nhớp nháp máu trộn nước con gái.
“Em còn ngồi ỳ ra đấy, làm nhanh lên, mẹ dậy bây giờ?”
Thụ chưa hết câu thì cửa buồng kẹt mở. Khuôn mặt mẹ chồng tôi đỏ gắt, tay lóc xóc quạt nan. Dừng cái nhìn nơi mảng áo đỏ con trai, nơi mặt phản ướt đen, bà ngẩng đầu bước thẳng đến bàn thờ kéo roạc tấm màn đỏ sang bên, châm lửa đốt nhang. Trưa chuyển về chiều, không ngọn gió nào chạy loạn. Tôi ngồi chết lặng. Vợ anh bị hiếp nhưng Thụ chỉ sợ mẹ dậy. Thụ tốc áo qua đầu ra giếng dội ào ào như muốn dội chất hờn căm trên mình anh hay muốn rửa ráy những dơ bẩn thay cho vợ. Tắm xong, anh trở thành một người khác.
Chúng tôi không đủ sức lực, can đảm mang trên mình bộ mặt bình thản thường nhật cố dối lừa bản thân được nữa. Thụ ít nói hẳn đi, gần như là im lặng. Hiếm hoi mới thấy nụ cười của anh, có chăng là trong một vài lần xã giao bắt buộc. Đôi má anh hóp, ngày một sâu hơn. Tôi thường lén nhìn chồng, nhưng Thụ đã vĩnh viễn không còn sờ nắn bàn tay tôi mà khen ốm mập, ngắn dài. Ngôi nhà của chúng tôi ở thành phố giống một am thờ. Đôi khi tôi hận anh. Vì lấy anh tôi mới về căn nhà xưa cũ đó, mới nằm trên tấm phản ấy, mới ra nỗi đoạ đầy bây giờ. Nhưng Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi. Hình như anh không muốn nhìn bất cứ cái gì, không muốn nghe bất cứ điều gì. Có bận, tôi bắt gặp anh ngồi câm điếc trong buồng tắm cả buổi chiều, ánh mắt vô hồn. Tôi thương chồng và thương chính mình. Thụ đau đớn một tôi đau đớn mười. Tôi là đứa hư hỏng. Tôi biết mình bị hãm hiếp trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, trước mặt chồng, nhưng tôi lại bồn chồn, mong nhớ, thậm chí khát thèm cảm giác ấy. Tôi đạp quẫy, nội chiến, tâm linh héo rũ. Tôi thay rèm cửa màu đỏ, khăn trải giường màu đỏ, bao gối màu đỏ, cố trang trí căn nhà hao hao giống một trang thờ với nhiều tấm màn đỏ. Thụ không phản ứng gì.
Đêm này qua đêm khác, khi tấm rèm cửa trong ngôi nhà thành phố bắt đầu phai màu nhức nhối, tôi và Thụ lại ngược tàu về ngôi nhà mang nhiều oan khuất. Trước hôm đi tôi bị lên một chiếc nhọt ở chỗ thật tai hại. Nó nằm gần cái đàn bà ê ẩm, đỏ tấy. Thụ thấy tôi nhăn nhó tỏ vẻ thông cảm, anh bảo tôi nếu đau quá không về cũng được, anh sẽ thưa lại với mẹ. Nhưng tôi đời nào bằng lòng, đời nào để chiếc phản trống trơn mình Thụ đêm dài. Chỗ của tôi là ở đấy. Không hiểu sao tôi thấy mình khoẻ mạnh, háo hức lạ thường. Tôi ngượng ngùng tự thừa nhận với mình nghiện mười sáu đám giỗ, mười một ngôi mộ, tấm phản đen bóng, cả tiếng ho cục thét buồng trong. Tôi phê cảm giác khát cháy, nhào nhoẽ mồ hôi. Chiếc bóng đen đúa làm tôi mê hoặc, xô đẩy tôi trong gầm thét cuộn trào. Thụ đau đáu trước thái độ phấn khích của tôi, dường như anh biết từ trước tôi sẽ phản ứng ra sao. Nhìn mặt anh lạnh lẽo, tôi hiểu. Cẩn thận, Thụ bắt tôi trần truồng dạng chân, chống tay trong phòng tắm, ghé sát cặp kính cận xem xét. Tôi sướng run lên vì cử chỉ thân mật này của chồng. Từ ngày ở quê lên, chưa khi nào anh ân cần đến thế. Tôi thầm cảm ơn chiếc nhọt, biết đâu nhờ nó, tất cả sẽ thay đổi. Ngón tay anh ve vuốt dịu dàng, người tôi mềm nhũn. Nhưng anh dịu dàng lâu quá, dịu dàng tôi không chịu nổi. Tôi muốn anh bóp nát, bục vỡ, tan oà chiếc nhọt. Một lần chồng vợ đã đời để quên hết. Ngón cái của Thụ cứ chờm hỡm trước cánh cửa dang rộng ẩm sâu. Tự nhiên tôi muốn buông một câu chửi thề, chửi thề một lần trong đời. Cánh cửa tự động cài khoá. Sao Thụ không cứ thế mà làm? Cứ thế cắm phập xuống. Cứ thế khoan sâu. Sao cứ chờm hỡm đấy mà dịu với chả dàng? Tôi bật khóc, nghĩ rằng nỗ lực cứu sông, cứu thuyền thế là hết.
Nhưng khi đêm xuống trên tấm phản, tôi nằm sấp, cánh cửa lại mở tanh bành. Sông ngập nước. Tỳ ép mắt mũi xuống mặt phản, tôi không ngờ bóng đen nhanh đến vậy. Không rà rẫm xoa xuê, không hít hà rờ ngửi. Vừa kịp hiện ra sau tấm màn đỏ đã thẳng thừng cắm trên cắm dưới vào lòng sông. Lần đầu tiên tôi không khát nước. Gẫy gập, cắt khúc tôi trong cơn xoáy liệt. Bốc cao, phịch hạ, chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man. Thân thể tôi ngầy ngậy, nước tràn miệng. Lần đầu tiên tôi hưởng thú đau đớn mà thoả mãn. Tiếng ho ngừng lặng sau cao trào. Thụ ấm ớ giữa cơn mê lãng nhoẹt nào, trừng trừng mở mắt, bọt mép nhoè môi. Lúc cử động được chân tay tôi thấy mình hẫng nhẹ. Có gì khang khác. Sực nhớ tới mụn nhọt tôi đưa tay xuống dưới. Trời ơi. Xẹp nhép. Khô cong. Không còn mủ vàng, không còn đau tấy. Lao mình ra sân, dưới ánh trăng già tôi gào thét điên dại với hai hàm răng nghiến chặt. Trăng lạnh tanh, vàng võ. Tôi quỵ gục hoàn toàn. Tôi thương tôi và tôi ghét tôi. Tôi đã đồng loã, đã kiễng chân lên rên rỉ rồi sau đấy lại nghĩ mình bị hãm hiếp, lại căm oán bóng đen tổ tiên nhà Thụ. Rồi lại mong chờ, lại hứng háo thèm thuồng. Bóng đen ấy hiểu tôi thích gì, nó tràn lấp dục vọng trong tôi và đẩy Thụ xa cách. Hai bàn tay tôi dưới trăng xanh trắng, bấu chặt, xiết nhau. Tôi hiểu những ám dấu của cơ thể, hiểu mười ngón tay kỳ diệu đang mưu tính điều gì.
Bàn tay da mỏng tanh của tôi bắt đầu động đậy. Bàn tay diệu kỳ không trọng lượng và cũng không chấp nhận, không đồng loã, không thoả hiệp mọi chuyện. Nó muốn tôi thoát khỏi mê man. Những ngón dài trắng xanh đầy kiên quyết tỳ ép ngòi bút trên tờ giấy. Nó thúc bách tôi phải ly hôn với Thụ. Bàn tay ký lên trang giấy, nhưng thân thể tôi ù lỳ không nhúc nhích, không muốn cử động mà ngồi yên vít chắc vào mặt phản, nhất quyết không đi đâu. Thân thể tôi đã u mê trong nhang khói bấy lâu, cưỡng lại bàn tay với tất cả sức lực của nhung nhớ những phập mạnh, đâm sâu. Bàn tay mảnh dẻ cầm bút, bất lực với tự do đã nắm được ở đầu ngón tay nhưng bị trọng lượng thân thể buộc trói.
Rồi máu không còn nhỏ xuống chân tôi nữa. Cơ thể thoả mãn trong im lặng. Cái thai trong bụng tôi, không phải của Thụ, không của bất kỳ người đàn ông nào cứ lớn dần. Thụ thay đổi, xoay sang vỗ về, chăm sóc vợ từng ly từng tý. Anh thường xoa xoa bụng vợ, thường xuyên nhìn lên vách như anh muốn báo cáo với những chiếc bóng đang canh chừng cẩn mật, tiến trình tăng trưởng của đứa bé. Con tôi sẽ tiếp nối truyền thống Trung Quốc, sẽ tiếp tục thờ cúng bóng tối, sẽ tiếp tục banh dạng trên phản cho các liệt sĩ thoả mãn. Nếu là bé trai, con trai tôi sẽ bảo vệ cái bàn thờ, nếu là bé gái, con gái tôi sẽ tiếp tục hiến dâng cho những tấm huân chương. Tôi đã khinh ghét cái thai, đã tính đến chuyện giết nó đi nhưng ý nghĩ chỉ thoáng qua nhanh như một cơn gió độc làm nổi gai khắp cùng châu thân. Tôi thương giọt máu của mình.Tôi thương đứa bé vô tội cũng bất lực như tôi đã bất lực, đã khép mình làm bổn phận sinh nở, di truyền một quyền lực. Mỗi ngày tôi ra ngồi trước sân, đưa bàn tay nhẹ hẫng ra trước mắt, ngắm xem làn da mỏng tanh đang óng ánh dưới nắng, rồi lấy bàn tay ấy vuốt ve đứa trẻ đang quẫy nhè nhẹ, thấy yêu thương vô hạn hòn máu tôi đang mang trong mình, yêu thương tràn lấp tâm hồn đến chẳng nói thành lời. Không biết có người mẹ nào yêu thương bào thai của cha chồng cấy vào bụng như tôi? Không biết có người mẹ nào yêu thương di sản của tăm tối như tôi? Thi thoảng tôi cũng nhìn lên vách, đoán tìm những chiếc bóng mà tôi biết đang rình rập sau bức tường, đã lao xuống mình tôi cướp mất phần trinh trắng tuổi thơ một buổi trưa hè nào và sẽ còn lao xuống cướp nốt thai nhi tôi đang mang. Thi thoảng tôi nói với những oan hồn chuyên hành nghề bòng đè, tôi đã sẵn sàng và con tôi cũng sẵn sàng, chúng tôi sẵn sàng như những người nghèo sẵn sàng bán máu. Chúng tôi không biết chọn lựa vì cơ thể chúng tôi đòi hỏi những nhục cảm mà bóng tối ban phát. Chúng tôi bất lực, chỉ còn những ước mơ mà không chiếc bóng nào có thể tước đoạt. Tôi đưa tay mình ra sáng. Nắng lung linh trên năm ngón dài ngắn thanh tao lạ thường. Chiến tranh, giông gió, bão lũ, hán hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tôi đinh ninh điều ấy. Con tôi sẽ có bàn tay của mẹ. Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da mỏng tanh nhưng biết níu giữ tự do cho dù bị thân thể buộc trói. Nắng tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh diệu kỳ.

ĐỖ HOÀNG DIỆU
Hà-nội, 6-2004

VU QUY -Truyện Ngắn- Đỗ Hoàng Diệu

VU QUY
Truyện Ngắn
ĐỖ HOÀNG DIỆU

Mẹ vào phòng, hôn nhẹ lên trán tôi, tắt tất cả những bóng đèn tôi đã cố tình bật lên vài phút trước. Ngủ đi con, ngày mai còn có sức. Lời Mẹ dịu dàng, nhưng tôi nghe váng vất nỗi xót xa. Xót xa sẽ gả đi, cho đi đứa đứa con gái yêu quý được nặn ra từ bể sâu đau đớn và quặn thắt thương yêu vào tay một người xa lạ không chung máu mủ ruột rà. Ngày mai tôi lấy chồng. Đây là đêm cuối cùng tôi ngủ trên chiếc giường con gái. Tôi muốn nhìn lần cuối căn phòng đã che giấu cho tôi suốt quãng đời thiếu nữ, che dấu những nẩy nở thân xác và che dấu cả những giọt nước mắt hạnh phúc con người. Nhưng Me không muốn tôi thức, Mẹ tắt đèn, Mẹ cũng không ngủ cạnh tôi đêm nay dù cho tôi nài nỉ. Mẹ biết con là một cô gái mạnh mẽ, con nên ngủ một mình. Hình như sau lần áo màu tím của Mẹ, không kịp che dấu trong xương tủy, vài giọt nước mắt rơi chảy. Mẹ đã mong chờ ngày này bao nhiêu lâu, thế mà Mẹ lại khóc.
Ngoài phòng khách, đồng hồ treo tường điểm 12 giờ khuya. Một ngày mới. Đêm tối giăng dài bên ngoài. Sau bóng tối khởi đầu cho ngày mới kia, ngày mai, sau ngày mai, cuộc sống tôi sẽ hồng tươi hay xám lãnh? Tôi không biết, Mẹ không biết, chỉ có bóng đêm lờ mờ nhận ra hư ảo. Và bóng đêm đang thở êm như làn lụa mỏng. Hàng mi dài từ từ đan với nhau. Hình như tôi ngủ. Mà hình như tôi còn thức.
Người đàn ông đứng tuổi, làn da sạm nắng, miệng ngậm tẩu nhìn như nuốt chiếc váy màu trắng đang tỏa nắng chiều trên người tôi. Ông dừng lại trên chiếc nón rộng vành bị tuột dây trễ nãi lơi lả xuống bầu ngực ngọ ngoạy sau lần vải mỏng. Nụ cười văng ra khỏi khoé mắt chân chim.
- Cô gái, cô có biết mình đáng yêu không?
- Ông là ai? Tôi chưa nhìn thấy ông đến làng bao giờ.
Người đàn ông đưa tay mơn nhẹ bông hoa trắng tôi cài trên tóc. Nụ cười tỏa ra từ cả khuôn mặt.
- Cô gái, cô lại còn thông minh nữa. Thế cô là ai?
- Tôi là thiên thần!
Đôi chân trần của tôi bay lên theo ánh mắt và khoé môi hờn dỗi. Làn da người đàn ông đỏ rực trong những tia nắng cuối cùng dâng trên cát, lộ vẻ ngạc nhiên.
- Còn tôi là nhà văn. Nhà văn sẽ biến thiên thần thành người đàn bà trần tục.
Ông làm điều ông nói bằng cách tôi chưa biết bao giờ. Ông đào xới vực thẳm vô hình thân xác và tâm hồn cô bé 16 tuổi trong tôi, mỗi hoàng hôn, trước biển, trên tảng đá tôi vẫn thường ngồi suy tư như một người đàn bà. Căn phòng khách sạn ông ở trông ra cồn cát, mỗi buổi trưa mồ hôi ông quện ướt má môi tôi tựa mật ngọt. Bồng bềnh mê man tròng trành giữa cõi nồng nàn thân xác cùng ông, chiếc nón trắng rộng vành treo hờ bậu cửa đung đưa cầu vồng. Chỉ khi phịch xuống cõi trần tục, tôi mới biết đấy chỉ là dải lụa đã ngã màu vì hơi mặn của biển cả bao buổi chiều lang thang của tôi, cô gái làng chài ưa khám phá. Sóng bạc đầu xuất hiện ngày ông ra đi. Chồm lên liếm gót chân trần hồng líu ríu khóc thầm của tôi. Giữa triền cát sáng mai ẩm ướt, ông quỳ xuống mang vào chân tôi đôi săng đan trắng. Đuôi mắt ông hình như hằn thêm nhiều nếp.
- Anh sẽ không còn quay lại?
- Mỗi người đàn ông là một nhà văn. Anh ta sẽ đến, và sẽ khám phá ra em như anh từng khám phá.
Giọng nói của ông như vọng ra từ triệu ngọn sóng. Dáng ông khuất dần trong ánh nắng đầu tiên một ngày mới. Tôi chạy, tôi bay trên cát ẩm dịu dàng bằng đôi săng đan ông tặng. Chạy mãi, bay mãi theo những ngọn sóng bạc đầu đón bắt bình minh. Chân trời mải miết bơi trước tôi, chìm trong biển lớn. Giã từ người đàn ông biến tôi thành trần tục, tôi dang tay đón chào cuộc sống. Mặt biển bừng lên. Chuông đồng hồ kéo tôi khỏi bao la, dạt về phía triền cát. Ba tiếng chuông ngân. Làng chài, người đàn ông đứng tuổi, cô gái ngây thơ đội chiếc nón rộng vành bay mất. Chân rơi khỏi người tự lúc nào, thân thể tôi lạnh. Giấc mơ êm ái kỳ lạ. Nó muốn nói điều gì với tôi, về tôi? Mà tôi đang ở đâu, tôi đã trở về nhà hay còn trên biển cát? Tôi gượng mình ngồi dậy. Trong hư ảo ánh trăng mùa đông muộn màng, màu hồng của chiếc thiệp cưới vương cuối giường tựa chiếc quần lót mà người đàn ông đã dùng miệng cởi khỏi người tôi trong giấc mơ ban nãy. Tôi cúi xuống kiếm tìm, đôi săng đan màu trắng sáng lên dưới chân giường. Ngày mai tôi sẽ mang đôi săng đan ấy dưới chiếc váy cưới về nhà chồng. Không phải ngày mai, chính là ngày hôm nay. Đã ba giờ sáng. Tôi còn bao nhiêu giờ cuộc đời con gái? Mà cuộc đời con gái của tôi bắt đầu từ bao giờ? Phải chăng từ gương mặt buồn nhưng sáng bừng lên nỗi đam mê trong đôi mắt ấy. Đôi mắt ăn cắp 15 năm tuổi thơ tôi và dâng hiến đến tôi nhiều cuộc đời khác?
Tôi gọi anh là anh. Tên anh lặn sâu vào mạch huyết không cần nói thành lời. Ngôi nhà lặng lẽ khuất sau vườn cây như òa vỡ, nức những tiếng cười và âm thanh hạnh phúc mỗi ngày chủ nhật. Lần đầu tiên, khi anh gượng nhẹ, rón rén dắt tay tôi bước vào ngôi nhà, tim tôi tắt từng mạch máu. Tôi nhìn thấy thiên đường và thấy cả địa ngục trong ngôi nhà vắng lặng. Cách bài trí ngôi nhà theo lối cổ xưa với những bức tranh Đông Hồ bằng giấy dó làm không gian ù mề, lười biếng như ánh mắt của anh khi tôi nói về tương lai và những mơ ước của mình. Bàn ghế lẳng lặng, đến cả con chó có bộ lông mượt như lụa cũng lẳng lặng. Anh nói từ ngày ly hôn, anh chưa đưa người phụ nữ nào về nhà. Có lẽ vì thế , con chó của anh ta không còn biết hơi người .Hình như nó nghĩ tôi là một loài động vật.Sau này , nhiều chủ nhật trôi qua giữa ngôi nhà đã trở thành thiên đường , tôi cảm thấy con chó màu xám mượt mà bộ lông vẫn không xem tôi là một người bạn. Đôi mắt rười rượi luôn mở lớn của nó mang ngàn lời trách cứ lẫn thương hại.Nhất là buổi chiều ấy, buổi chiều tôi cắt đứt tuổi thơ vội vàng bằng anh.Cắt đứt bằng lưỡi, bằng môi , bằng mắt, bằng tất cả sức mạnh và nhịp đập rối loạn say mê. Căn phòng ngủ ngăn nắp của anh lộn tung những mê cuồng. Mê cuồng chứng giám nổi mất mát và bắt đầu sự hồi sinh. Hồi sinh một người đàn bà thực thụ. Người đàn bà 16 tuổi. 16 năm tuổi thơ, anh cắt trọn trong một cú thọc sâu. Và kết thúc bằng vũng máu đỏ dấy lên như báo hiệu một cuộc đời giông bão. Sau đấy là im lặng hoàn toàn . Chỉ khi chú chó lông xám của anh nhảy phắt lên giường hít ngửi vết máu loang rộng trên nền ra trắng và hú lên một tiếng khó hiểu, tôi hồi tỉnh và lơ mơ biết mình đang ở đâu. Tôi ngửi thấy da thịt anh, da thịt người đàn ông đượm rát mùi phù sa sông Hồng. Thứ mùi mà mỗi lần nước rút, cùng lũ bạn chạy xuyên qua bãi ngô đồng, tôi vẫn thấy nó dậy nực cánh mũi. Cánh tay anh choàng qua tôi nặng trịch , lười biếng.
- Em khát nước.
Giọng tôi căng tràn, khô, bỏng. Tôi những tưởng anh sẽ chạy đi mang ngay nước đến cho tôi. Nhưng không.
-Em vào trong tủ lạnh lấy luôn nước cho anh đi.
Tự nhiên nước mắt chảy ướt đẫm môi má tôi. Tôi nghĩ mình ảo tưởng bởi những cuốn tiểu thuyết .Thực tế đàn ông không ai hầu hạ đàn bà, chỉ có đàn bà phải chiều chuộng đàn ông .Tôi vừa mới trở thành đàn bà, tôi phải xứng đáng với điều đó,với người đàn ông đã xoáy mình vào trong tôi cắt đứt tuổi thơ ảo ảnh. Vài giọt nước mắt vụng về rơi trên tay anh , anh tưởng tôi tiếc.
- Em không nuối tiếc chứ?
Giọng anh ấm yêu thương .
- Không ,em hạnh phúc.
Tôi nghe trọng giọng nói của mình nhanh những đam mê dồn dập.Báo hiệu nhiều cơn lốc xoáy nay mai.Sau này, hình ảnh con chó xám và tiếng hú của nó ngày tôi thành đàn bà luôn đến sau những cuộc ân ái. Dù không còn là với anh, mà những người đàn ông khác.
Lúc mẹ dắt tay tôi len lén từng bước ngắn vào Bệnh viện Phụ sản một ngày không có gió, hình ảnh chú chó có bộ lông xám mượt chỉ đường cho tôi đi vào chỗ làm tôi trở lại trong sạch trước mắt mọi người lại vừa u uất nhìn tôi như van xin đừng bỏ đi mầm phôi của anh , mầm phôi chúng tôi đã tạo ra sau 3 tháng yêu thương. Nó không nghe cuộc đối thoại đã diễn ra trước đó, trước bàn thờ uy nghiêm khói lượn vòng, bố tôi vừa thắp nhang lên , ngày không có gió.
- Bố mẹ tha thức cho con tất cả những lầm lỡ con đã dại dột mắc phải. Nhưng con phải phá bỏ cái thai trong bụng vào ngày hôm nay.
- Con không lẫm lỡ. Con yêu anh ấy thực lòng , con phải giữ đứa con của mình .
Khuôn mặt bố chuyển sang xanh xám, mắt mẹ bắt đầu nặng trĩu mây mù.
- Điều này quyết định cả tương lai của con. Nếu con giữ cái thai này lại, xem như cuộc đời con đã chấm dứt, con không biết ư?
- Cái bào thai này mới chính là cuộc đời con. Vì con yêu anh ấy.
Mây mù dầy đặc đôi mắt to của mẹ, không còn chút ánh sáng nào.
- Nếu con không nghe lời , mẹ sẽ tự vẫn.
Mây mù chuyển thành nhiều giọt mưa rớt trên khuôn mặt đau đớn của mẹ, rớt dài theo tiếng thở của bố và cuối cùng rớt tan trong nỗi tuyệt vọng đường cùng của tôi. Chú chó lông xám mượt không tưởng tượng được chuyện của con người.Vẫn không có một chút gió nào khi người ta cời mầm phôi của anh khỏi bụng tôi. Này đây là môi bỏng, này đây là lưỡi nóng, này đây là đùi thon, này đây là bộ lông xám mượt chạy lăng xăng quanh giường rên những điều vô nghĩa lúc anh rót mình hòa vào tôi .Tất cả, tất cả từ từ ra đi theo bàn tay bà bác sĩ có bộ mặt dài quá cỡ. Tôi đâu ngờ vào đúng giây phút tôi đang hoảng dại vì mất mát ấy, anh đã kịp cài mầm phôi mới vào một người con gái khác. Sau này anh thanh minh rằng anh biết gia đình tôi không đồng ý cho tôi lấy anh, một người đàn ông đã ly hôn, anh chán, anh buông thả. Tất cả những người đàn ông trên thế gian này khi chán đều buông thả, đều cài mầm phôi vào bụng một người đàn bà vô tội vạ thế ư? Tôi hỏi sao anh không làm mọi cách để dành lấy tôi ,giữ lấy đứa con nếu thực lòng yêu tôi thay vì lột váy một cô gái khác để khỏa lấp? Anh cúi mặt, tôi nhìn thấy chiếc cằm trễ nải của anh rung nhẹ. Mùi phù sa sông Hồng trên cơ thể anh trở nên nồng quá mức, sắp sửa trương thối. Sau này, mỗi lần nghĩ về anh , tôi lại ngửi được mùi phù sa châu thổ sông Hồng. Và tự nhủ, nếu tôi sinh con rồi kết hôn với anh ngày ấy, sống trong ngôi nhà trang trí tranh Đông Hồ đầy bụi bám, ngửi hít mùi phù sa sông Hồng ngày này qua ngày khác ,không hiểu cuộc đời tôi sẽ ra sao.Sẽ bình lặng như bãi phù sa ven sông ,mặc cho nước dâng nổi làm mất đi hay bồi thêm, âm thầm chịu đựng trong khi rất có thể chồng mình lại đi gieo mầm trên một mảnh đất khác? Đàn ông như anh, như phần đàn ông Việt Nam không biết đánh vần từ Chung Thủy trôi chảy. Đôi mắt trách cứ của chú chó bộ lông xám mượt lơ lửng trên cao. Hình như nó nhắn nhủ với tôi rằng bào thai người ta vừa gắp ra sẽ đầu thai vào nó. Có lẽ vì thế, suốt đời tôi chẳng còn bao giờ được gặp nó, như một sự trừng phạt. Và anh, mỗi tình đầu vĩnh viễn ra khỏi tôi vào một ngày không gió. Hình như là vĩnh viễ , dù sau này, có trở lại nhưng là chứng nhân của tội ác. Chỉ có mây mù trên mắt mẹ , mùa đông trên khuôn mặt cha, nỗi trách cứ của tia nhìn chú chó , và sự hoán đổi u sầu lấy hồn nhiên trong tôi. Tôi là ai thế nhỉ? Không tiếng trả lời .Giọng tôi vọng ra từ tôi và vọng vào chính tôi .Tiếng bính boong 5 lần của chiếc đồng hồ ngoài phòng khách len qua lớp kính dấy và khuôn mặt không còn mây mù của mẹ tôi hiện ra cùng nụ cười.Giống như nụ cười.
-Con ngủ ngon không,con gái?
Mẹ đã tự mình trả lời trong âm điệu run rẩy của câu hỏi và khóe miệng mêu mếu.Mẹ nghĩ tôi không ngủ.Tôi chẳng biết tôi đã ngủ hay chưa.Hình như là ngày có gió. Gió tràn qua khung cửa sổ dịu dàng, mơn trớn .Gió của ngày tôi sẽ là người đàn bà trưởng thành .
-Đến giờ rồi con yêu , con phải dậy sọan sửa.
Tôi co hai chân lên ngang ngực , che giấu đôi mắt hoe đỏ.
-Đang sớm mà mẹ,mới 5 giờ .Cho con ngủ thêm chút nữa đi .Sau này mẹ có muốn , con cũng không ngủ trên chiếc giường này nữa đâu.
-Lấy chồng rồi không được dậy muộn như ở nhà mình đâu con .Phải tập dậy sớm con à.Nhà người ta là nhà gia giáo , nền nếp.
Tôi kéo chăn che ,kín mặt , tôi không muốn nghe mẹ nhắc đến gia đình chồng vào lúc này, những giờ phút cuối cùng còn có thể tận hưởng tự do.Mà tại sao mẹ lại sợ sệt nhà người ta như vậy?Tôi đâu phải là cô gái kém cỏi gì,tôi là niềm mơ ước của vô khối đàn ông trên thế gian này .
-Vẫn chỉ là đứa bé gái nhõng nhẽo,hay khóc nhè và ngang bướng.
Tiếng mẹ nhỏ dần trong bước chân lo lắng .Bước chân mẹ lúc này như thanh âm khó nhọc mẹ rặn sinh con năm xưa. Mẹ nói tôi hay khóc nhè?Không, không còn là khóc nhè nữa. Tôi đã khóc giọt nước mắt của nỗi bất hạnh đầu đời trong vòng tay mẹ ở bệnh viện phụ sản, nơi người ta gắp đi sự sống của anh , máu huyết của tôi .Sau này , tôi còn khóc không biết bao nhiêu lần .Âm thầm cả những ngày gió và những ngày không gió, với những nỗi buồn triền miên.Nỗi buồn đàn bà. Khóc không cho mẹ biết , một mình trong bóng đêm, sau từng người đàn ông bội bạc hay bị tôi bội bạc.Không ai nghĩ một cô gái ủy mị như tôi có đủ can đảm bội bạc đàn ông .Nhưng tôi đã từng làm điều ấy. Nếu mẹ biết , chắc hẳn mẹ không còn xem tôi là con nít.Ngày ấy , ai cũng nghĩ tôi bị ông đuổi khỏi ngôi biệt thự bên bờ biển. Mẹ mở rộng cửa đón tôi và chiếc vali lầm lạc sau 4 tháng trời.Nước mắt tôi ướt đầm bậc cửa , nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời .Tôi là đứa trẻ háu sống.Tôi đã được sinh ra ngay trên bậc thềm một ngày tháng hai giá lạnh. Để rồi , sau này , tôi làm mẹ đau đớn trong tim với nhiều cơn choáng ngất. Như buổi trưa ấy , mẹ đã ôm choàng lấy tôi và nức nở .
-Nó đuổi con ra khỏi nhà ư ? Con gái , đừng khóc , đừng khóc nữa. Mẹ đây , con trở về nhà là mẹ mừng rồi.
Cuống quýt như con gái mẹ không hề lầm lạc.Cuống quýt như con gái mẹ đi xa trở về. Mẹ không biết tôi tự rời bỏ ông ,người mà có lúc tôi xem còn quý giá hơn cả gia đình ,hơn cả bậc thềm nơi tôi sinh ra. Nếu mẹ biết tôi đã xếp vali và ra khỏi biệt thự của ông nhanh đến mức nào, chắc mẹ sẽ không gọi tôi là cô bé yếu đuối . Trước khi rời cửa , tôi còn kịp đổ hất hộp mầu đen lên tấm ra giường , thứ mầu ông không ưa, như một lời từ biệt. Bước chân tôi là bước chân của buổi trưa hè nắng lửa. Để rồi một thời gian sau , bằng bước chân của một ngày chớm đông rụt rè, hối lỗi ,tôi đã trở lại ngôi biệt thự ấy và được ông đón tiếp ân cần nhưng lịch sự với những điều kiện như một vụ buôn nha phiến. Ông là người Tàu ,ông có dáng dấp và đôi mắt , ánh nhìn của một người đàn ông Tàu ở bất cứ nơi đâu trên thế giới . Bí ẩn , khôn ngoan và đầy ma lực với các cô gái . Ơng lại là thương nhân giàu có . Cốt cách của ông toả ra quyền uy làm người khác phải phục tùng .Một thiếu nữ lãng mạn , ưa khám phá, phiêu lưu như tôi dễ dàng bị ông đánh gục . Tôi ngã ngựa trong chính tâm hồn mình trước ánh mắt , nư cười của ông . Tôi đầu hàng thể xác mình sau mỗi cuộc ân ái cùng ông.
-Em thích cách tôi vừa yêu em chứ ? Tôi thấy em co giật từng cơn và xiết tôi mạnh.
Khuôn miệng ông cười, đuôi mắt ông cười nhưng tròng mắt không cười . Tròng mắt ẩn sâu một mí nhìn sâu vào tôi dò xét mỗi phản ứng . Tôi yêu ông , tôi đam mê ông nhưng tôi sợ ông. Nỗi sợ càng kích thích tôi khi ông bao trùm tôi từ bên trên như một lãnh chúa . Thân hình ông rắn chắc tựa một của sâm . Gần ông , da dẻ tôi trở nên hây đỏ , láng mát . Tựa như tôi được uống nước sâm chắt lọc từ da thịt ông . Thân thể ấy toát ra mùi thơm hắc , mùi đền đài , lăng tẩm , uy quyền . Tôi cố ngước lên cao , cao mãi để hít ngửi mùi đế vương ấy . Nhưng càng rướn , ông càng vươn lên . Vì thế , mọi cuộc làm tình của tôi và ông là những cuộc rượt đuổi không bao giờ chán . Ông không bao giờ cho tôi ngồi trên mặc cho tôi van nài điều ấy . Tôi cho em sung sướng , tôi cho em tất cả , tôi là Hoàng thượng của em, em hãy tận hưởng đi .Giọng nói của ông đúng là giọng của một vị Hoàng đế . Tôi đê mê tận hưởng những khoái cảm ông mang lại , để rồi lần sau lại van xin được yêu ông từ bên trên .Và bao giờ cũng là cái lắc đầu . Nhưng tôi thỏa mãn , tôi phục tùng mọi điều ông muốn . Hình như người ông được năn từ thép , ông không biết mệt bao giờ . Nắng chiều miền biển soi qua cửa sổ mở toang lặn hơi nóng vào da thịt cũng không làm ông ngưng nghỉ yêu đương . Ông chỉ cười , chỉ ra lệnh và nhồi vào , thúc sâu , bền bỉ , mạnh mẽ đến khi tôi hét lên cùng sóng biển hoàng hôn , ông mới tạm ngừng .
- Ông thích em ở điểm gì ? Sao ông lại chọn em để yêu giữa bao nhiêu cô gái đẹp ?
Câu hỏi của tôi thường được trả lời bằng hàng giờ ông hít ngửi , sờ nắn da thịt tôi như thể định giá một chiếc bình cổ thời Minh . Mỗi bận ánh mắt ông soi vao vùng kín , da thịt tôi lại hồng tía lên như chiếc mào gà, để rồi bị ông dìm chết, bở ra như một củ khoai lang. có một lần duy nhất ông trả lời câu hỏi của tôi .
Vì em thông minh nhưng cả tin. Vì em yếu đuối nhưng cố tỏ ra mạnh mẽ . Nếu rời xa tôi em sẽ chết. Em đang mắc căn bệnh trầm kha, chỉ có tôi mới giúp em hối sinh được. Em sinh ra để dựa dẩm vào tôi.
Đuôi mắt một mí của ông cười ma quái . Nắng biển Đông chết ngoài khơi xa trước ánh mắt ông . Tấm thân tôi cong lên hình chữ S , một hình chữ S cố phản kháng :
- Nhưng em không phải nô lệ của ông .
- Trong tâm tưởng , em luôn nghĩ em là nô lệ . Em nghĩ thế từ khi em chữa sinh ra , từ cả ngàn năm nay . Em không có tự tin .
Người tôi oằn xuống thẳng đơ, phục tùng giọng nói , phục tùng ý nghĩ của ông . Không còn chữ S nữa mà là chữ I , hai đầu xẹp nhép . Tôi yên lặng để ông giam lỏng trong ngôi biệt thự . Tôi chỉ được phép ra ngoài khi có ông cùng đi . Đêm trước hôm tôi xếp va li và trốn khỏi ngôi biệt thự , ông làm tình với tôi ngoài biển đêm , khi dưới chân thủy triều đang rút , trơ lại những doi cát ẩm vàng tựa chiếu chỉ vua ban trải dài từ kinh đô tới tận cùng đất nước . Run rẩy giữa mênh mông gió và mênh mang cô đơn trời nước , ông để tôi ngảnh mặt ra đại dương và nhập vào tôi từ phía sau chiếm hữu . Tôi thỏa mãn , tôi lạ lùng , tôi mê man , và tôi mang cảm giác nhục nhã . Cảm giác ấy đã giúp tôi sáng hôm sau đi khỏi ngôi nhà .Nhưng rồi chính nó cũng chết trong cơn khát nước sâm của tôi những ngày sau và đẩy bước chân tôi quy trở lại biển .
-Em đã phản bội tôi trong khi tôi giúp em hôì sinh . Em chạy theo những ảo ảnh bên kia đường chân trời . Tôi không đuổi em về với ảo tưởng của em , nhưng tôi cũng không thể cho em tất cả những gì em muốn như trước đây được nữa . Tôi chỉ cho em ăn khi nào tôi thích .Và em phải quỳ gối khi tôi đút cho em ăn . Tôi không cấm được suy nghĩ của em chạy rông về bên kia đường chân trời . Ngày chân trời của em vụn vỡ , tôi cũng vẫn bắt em quỳ gối .
Ông xoa xoa lòng bàn tay tôi và day mạnh huyệt đạo trên mu bàn tay khi buôgn những lời ráo hoảnh ngày tôi trở lại . Những ngày mong chờ mòn mỏi trong ngôi biệt thự không có ông dường như câm nín , phế hoang .Ông nói ông đi Mông Cổi ,ông đi Nhật Bản lo việc kinh doanh . Đúng khi tôi thoi thóp còn lại một chút hơi tàn trong cơn khát , ông mới từ tốn trở về và dìu tôi ra biển . Dưới chân thủy triều đang rút , ông cho tôi ăn . Tự nguyện , tôi quỳ xuống trong tư thế của một nô lệ . Có bận , trong đầu tôi thoáng hiện ra tương lai . Tôi làm vợ ông ? Tôi no ấm , đủ đầy , con đàn cháu đống ? Tất nhiên . Và suốt đời quỳ gối , trang sử riêng tư cuộc đời tôi sẽ ghi danh hai tiếng nô lệ ? Đương nhiên . Thân hình tôi quẫy như một con cá kình rồi náu lặng như con rùa lật ngược. Dù đau đớn , tôi cũng cố tìm cách trở mình .
Tôi trở mình thật . Nhưng nhẹ nhàng trong cơn ngái ngủ . Tiếng chuông điện thoại đổ dồn cộng lẫn tiếng bính boong đồng hồ treo tường len qua lớp kính dầy vào phòng , kéo giật tôi về phía tương lai . Lao xao tiếng nói bên ngoài . Rồi tiếng guốc của mẹ vội vàng như hành khúc .
- Chồng con mới gọi điện thoại hỏi con đã dậy để sửa soạn điểm trang chưa.Nó nhắn con rằng : Ngày đã điểm , thời cơ đã đến .
Tôi chẳng buồn cười lời mẹ vừa nói . Người đàn ông còn mấy tiếng nữa là chồng tôi hay nói những điều kì lạ .Tôi nghĩ đến lời của người tình Tàu dạo nọ : “Em ảo tưởng về bên kia đường chân trời” . Chồng tôi có phải là đường chân trời? Tiếng guốc đi lại sột soạt và bà chị tôi ào vào như một cơn gió sớm hanh khô làm tôi không còn thời gian miên man dòng suy tưởng . Mới sáng sớm ,chị tôi đã lộng lẫy như bà hoàng . Chiếc áo choàng lông thú chị mặc ,lần đầu tiên tôi thấy .
- Chị tốt phước có cô em gái xinh đẹp , thông minh nên được nhờ . Chồng em tặng chị cái áo hàng hiệu này đấy .Chứ lương giáo viên tháng chưa đủ mua một chiếc giầy như chị làm sao dám mơ .
Tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên cũng chẳng lấy làm vui mừng .Chồng tôi có vốn tư bản và biết cách chiều gia đình vợ . Có thế , hôm nay mới là ngày đại hỷ .
Màu son môi của chị tôi sáng nay đỏ quá . Có cần phải vui mừng đến thế không ? Tôi uể oải xếp dọn chăn gối. Sương mù , sáng nay dăng đầy sương mù . Báo hiệu một ngày nắng giá và không gió .Làn gió hồi đêm có lẽ vừa lặn theo bóng tối . Hôm nay tôi nên mặc áo dài tím vẽ long phượng hay áo dài màu nâu hả chị Ngọc ? Tiếng mẹ lăn nhỏ qua tai tôi . Đám cưới con gái sao cô lại mặc màu nâu ? Cô thật chẳng khéo chút nào .Giọng bác tôi dằn dỗi .Mẹ lệt sệt đôi guốc vào buồng . Mùi nhang thơm tràn ngôi nhà . Chắc bố tôi thắp lên từ sáng sớm .Khói nhang hoà cùng sương mù ngoài song cửa , tôi thấy thế giới sáng nay như lò tôi vôi . Cháy xèo tất tật .
Khi tôi loay hoay trong phòng tắm với bộn bề trống rỗng, chị tôi bắt đầu giúp tôi xếp đồ vào mấy chiếc va li mở sẵn .Những chiếc va li đủ mầu , mẹ nói chồng tôi mua tận bên Âu Châu mang về. Chúng đắt . Tất nhiên . Chúng đẹp . Có thể . Chúng sẽ đựng vẻ bề ngoài của tôi mang về nhà chồng . Còn bên trong , tâm hồn tôi , va li nào , túi nào sẽ đựng được để nó đừng rơi vỡ? Trái tim ư ? Hình như đã không còn nguyên vẹn để chứa được một tâm hồn đầy giông bão ứ tràn . Việt từng nói tôi là bể sâu nhất , dòng xoáy nhất trong đại dương . Và chàng trôi nổi bềnh bồng trên hiểm nguy từng giờ , ngày còn bên tôi . Bây giờ , khi người thợ trang điểm bắt đầu thoa lớp kem lót làm mềm da lên khuôn mặt có đôi mắt u uẩn của tôi mà chàng đã từng thương nhất, không biết chàng có còn nhớ hàng lông mi ngun ngút ưu tư khi từ ly ? Chàng là người đàn ông lãng mạn nhất của tôi , ngu ngơ nhất của tôi và cũng thành thật nhất của tôi . Người chàng lúc nào cũng thơm như một quả táo tây .Da chàng trơn mịn ,láng mượt . Nhiều khi lấy tay sờ lên má chàng , tôi sợ sữa sẽ tuôn dầm . Chàng bảo tôi cường điệu , hoang tưởng . Má người thì làm sao chảy sữa như vú người đàn bà đang làm mẹ ? Bên chỗ chàng , da ai cũng trắng và thơm như thế cả . Tôi vặc lại chàng :
- Có người làm mẹ nhưng không có sữa .
- Có thể người ta bị bệnh .
- Không bệnh tật gì cả , mà là không có cái ăn .
- Thế kỷ 21 , chẳng ai lại không có cái ăn . Hoạ chăng chỉ có ở Phi Châu .
- Đúng là ngu ngơ như gà con lạc mẹ. Xứ này còn nghèo hơn cả Châu Phi .
Đôi môi tôi cong lên nguýt vòng theo đuôi mắt.Chàng mân mê cườm tay tôi
- Thì anh đúng là con gà lạc mẹ mà .Không chỉ lạc , mất rôì.
Cườm tay tôi rã xuống trước đôi mắt ngấn lệ của chàng . Tôi thương chàng nhất trong những người đàn ông tôi đã từng yêu thương . Tôi hiểu chàng không còn bị lạc nữa mà mất , không thể còn tìm thấy .Làm sao tìm được xác ba và chị đã rơi giữa biển khơi làm mồi cho cá ? Làm sao tìm được dáng mẹ còng lưng ngồi đợi con bên khung cửa với đôi mắt mờ vì nước mắt chia li và chờ đợi ? Biển Thái Bình Dương trong xanh , diễm lệ nhưng cũng đầy gian ác . Ngày ra đi , chàng chìm nổi lênh đênh trên những con sóng với triền miên nôn mửa và sợ hãi .Ngày trở về , chàng bay qua mênh mang nước và trùng điệp núi .Nhưng quê hương của chàng chỉ còn lại một nắm đất ở nghĩa trang Gò Dầu , nắm xương mẹ cong hình chờ đợi . Tôi làm sao lại không thương yêu chàng cho được . Chàng thường rúc vào bầu ngực tôi ngủ ngon như trẻ thơ . Giữa hai bầu vú căng hồng của người đàn bà chàng yêu , không còn mất mát , không còn đau khổ . Chàng mang dáng hình chữ S cuộn khoanh trong lòng tôi . Nhưng lắm khi , chàng khiến tôi bực mình .Chàng đã mất tất cả, mất luôn cả gốc . Tôi phải cầm tay dẫn chàng khi sang đường , tôi phải giải thích cho chàng bao nhiêu là từ chàng không hiểu . Chàng không lấy làm xấu hổ về chuyện ấy .
- Anh đi xa bao nhiêu năm nay rồi , làm sao anh biết được .
Chàng luôn chống chế vụng về .
-Xa bao nhiêu năm cũng không thể quên nếu người ta luôn tâm niệm phải nhớ . Đã quên hết rồi , anh còn trở lại đây làm gì để thấy mình lạc lõng ?
Hai bầu má phính sữa của chàng dường như xanh tái . Chàng cười , điệu cười chắt ra từ 25 năm làm người nơi xứ lạ .
-Về để tìm lại tuổi thơ , để làm lại những cái đã mất . Anh tin anh làm được vì xứ này vẫn còn nhiều người như em .
Tôi thở dài nhìn chàng . Chàng quả thật ngây thơ . Chẳng thể nào chàng tìm lại được những thứ đã mất bằng sự cả tin và ngây thơ như vậy . Bao nhiêu cạm bẫy ,bao nhiêu chông mìn , bao nhiêu kẽm gai dựng nên những thù hằn ngăn cách còn nằm sâu , nắm giữ mãnh đất mẹ của chàng .Có cực nhọc làm ra bao nhiêu tiền để mang về , bức tường đó vẫn không phá bỏ được , lòng lại dầy thêm thương tích .Tôi không muốn chàng mất mát thêm , không muốn chàng đau khổ thêm nhưng rồi cuối cùng vẫn làm chàng thất vọng ra đi . Ra đi và thề không bao giờ quay trở lại . Xem như quê hương đã vĩnh viễn tuột mấ t.Tôi không thể bỏ tất cả để theo chàng . Gia đình , bạn bè , những hàng cây khẳng khiu chờ mùa về thay lá . Bố tôi gầm lên:
- Quân bán nước . Tao còn sống thì mày đừng hòng .
Tôi hiểu . Tôi phải ở lại để làm mùa xuân . Dù cho lâu lắm mùa xuân mới về trên mảnh đất này . Lâu lắm hoa đào lại mới nở . Em trai tôi buồn phiền.
-Chị đi rồi sau này mang em đi luôn có phải hay không . Đất này báu bở gì mà phải nuối tiếc .
Tôi đứt ruột ngày chàng ra đi . Khi chia tay mối tình đầu trong bệnh viện phụ sản , tôi đau dao cắt , kéo đâm nhưng vết thương mau lành . Lúc quyết định không quỳ gối để người đàn ông Tàu cho uống nước sâm nữa ,tôi khát cháy da thịt rồi cố lết đi tìm vũng nước . Ngày chia tay chàng ,tôi bị chặt một phần thân thể .Đau thốn từng mạch máu . Đôi mắt tôi xám như màu núi buổi chiều tà không dám ngước nhìn làn da chàng nhợt tái . Chàng muốn lần cuối cùng được ôm tôi trong vòng tay trên cao , có núi , có rừng , không phải là biển , nơi ngày xưa chàng chia tay số mệnh và mất mát cả một quê hương .
- Mẹ Âu Cơ chia tay với Lạc Long Quân cũng là trên rừng phải không em ? Chúng mình giống họ, nhưng chẳng có một trăm đứa con .
Tôi chết lặng trong căn nhà sàn . Tôi đu lên chàng . Tôi muốn nói tôi sẵn sàng sinh cho chàng một vạn đứa con , nặn lại cho chàng quê hương , chuộc lại cho chàng tuổi thơ sung sướng nếu tôi là Thượng đế , nếu có Thượng đế . Chàng yêu tôi dịu dàng và vô cùng xúc động . Hai bầu ngực tôi nở ra như muốn ôm trọn khuôn mặt thơ ngây của chàng hòng che chở . Gió hoàng hôn xuyên qua cánh rừng cằn khô u u tắc nghẹn trên mõm núi cũng không run rẩy bằng tiếng thở của chàng . Và lúc chàng rút khỏi mình tôi , cơn gió bỗng chợt tràn qua mỏm múi hất tấp căn nhà sàn , cứa rời thân thể tôi . Tôi biết đã vĩnh viễn mất đi một phần thân thể .
- Sau này em sẽ lấy ai ?
Gió vẫn không ngừng quay lộn . Như bộ óc tôi vật vã . Như trái tim tôi ứ huyết .
- Lấy anh .Chim phải bay về rừng , cá phải bơi về biển .
Tiếng tôi nói hay tiếng của ước mong ? Chàng ,xoay tôi lại , bắt tôi nhìn thẳng vào đôi mắt chàng đang nhoè nước .
- Em biến hoá như ảo thuật . Soi mình trong gương em sẽ không thấy được mình . Nhưng soi trong mắt anh em sẽ gặp chính em .
- Anh bảo em là ma cà rồng ?
- Ma cà rồng hút máu kẻ dại khờ vì yêu như anh .
Mãi mãi , chàng trôi trên con sóng bạc đầu mất hút bên kia Thái Bình Dương . Chàng mang luôn một phần thân thể tôi trong hành trang và đánh rơi vạ vật đâu đó trên xa lộ mỗi ngày chàng đến sở . Nếu lấy chàng ngày ấy , tôi sẽ ra sao bấy giờ ? Bươn bả , vật lộn kiếm từgn đồng tiền và đêm đêm ngồi nhìn qua biển nhớ về những gốc sấu già , mong chờ mùa xuân ? Biết đâu như thế mùa xuân lại đến nhanh hơn ,thân thể tôi nối liền được phần rời đứt ? Hơn là ân hận , nuối tiếc , ám ảnh triền miên mà mùa xuân vẫn đâu đâu . Mà chỉ còn mấy bữa nữa là lập xuân , hoa đào đã nở hồng trên Nhật Tân , sao tôi cứ mong chờ một mùa xuân hão huyền nào đó trong tâm trí . Hôm ngay cũng là mùa xuân , người ta nói ngày vui nhất của một đời người , sao tôi cứ ngồi suy nghĩ miên man về những mối tình đã chết , không bao giờ còn có thể quay lại ? Chiếc đồng hồ lại bính boong làm công việc đếm thời gian . Thời gian có đồng hồ đo được nhưng nổi buồn vui , hạnh phúc con người lấy gì để đo ? Chị tôi lộng lẫy áo choàng lông thú mua bằng vốn tư bản của chồng tôi , mẹ tôi trầm lặng trong bộ áo dài , bác tôi nhai trầu đỏ tươi đôi môi , em tôi lắc lư theo điệu nhạc bằng lòng vì cuối cùng chị nó cũng kết hôn với một ngoại kiều . Ai đo nổi sự giằng xé nát tan trái tim tôi ? Bố tôi đã thắp nến lên bàn thờ .Ông bà nội trên tấm hình nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc . Bố mẹ muốn tôi lấy người đàn ông có vốn tư bản để đảm bảo cuộc sống , nếu ông bà còn sống chắc sẽ muốn tôi lấy quan tuần phủ hay chánh tổng , lý trưởng để vuốt ve quyền lực ? Người ta bắt đầu choàng chiếc váy cưới lên người tôi . Màu trắng tinh giả dối . Tôi muốn chiếc áo màu ngà nhưng chồng tôi và gia đình không ưng thuận . Nếu vì màu sắc mà làm cho cuộc hôn nhân hạnh phúc chứ không phải tình yêu , thế giới này làm gì còn đau khổ .
Khi người ta bắt đầu vấn tóc cho tôi , tiếng cười nói đã râm ran khắp trong nhà ngoài sân . Chữ Hỷ ai cắt mà đẹp thế ? Cưới hôm nay lại vừa đẹp trời lại vừa đẹp ngày , ông bà thật tốt phước! Nhà trai sắp đến rồi , chuẩn bị nước đi là vừa . Mấy đứa đã chuẩn bị áo dài đồng màu để nhận sính lễ chưa ? Tôi lẫn lộn giọng người này với ngưòi kia . Qua khung cửa , sương mù dần tan hết , chỉ còn lại vài gợn loay hoay trong vườn . Nắng đông lên sớm hơn thường . Mẹ đi vào lẩm nhẩm ngắm nhìn tôi . Tôi trông mẹ không vui . Có phải vì mẹ sắp mất con gái ? Nhưng tôi đâu có rời xa mảnh đất này dù lấy ngoại kiều . Chồng tôi đã hứa sẽ định cư ở đây vĩnh viễn . Cớ gì mẹ phải buồn .
- Cô dâu xong chưa ? Nhà trai vừa gọi điện thoại , đã khởi hành rồi đấy . Họ nhắn cô dâu : Cửa sắp mở ,hãy xông vào giành chiến thắng .
Suýt nữa thì người làm tóc xiên chiếc trâm cài phải tay tôi . Chồng tôi , anh ấy lại vừa nhắn lời khó hiểu . Quen rồi nên cũng chẳng cần bận tâm . Bác tôi xuýt xoa :
-Cháu vấn kiểu đầu này hợp lắm , đã xinh rôì lại càng xinh hơn .
-Em cháu đẹp chứ không xinh.
Chị tôi đính chính . Tôi mở mắt liếc vào gương . Trời ơi , ngươì ta làm gì mái đầu tôi thế ? Như vậy là hợp ư ? Gương mặt nhiều góc cạnh của tôi không thể đẹp nếu vấn tóc kiểu cổ điển . Phải làm những lọn sóng xoăn xõa dài tự nhiên và kết hoa vàng thành vòng như một chiếc vương miện .Chàng cũng từng nói thế ngày chưa rời xa mang đi một phần thân thể tôi , ngày còn ao ước đám cưới và đàn con . “Em không giống phụ nữ Việt Nam truyền thống , em mang nhiều nét đẹp cởi mở , phóng khoáng . Sau này , khi đám cưới , anh sẽ tự tay kết cho em một vòng hoa màu vàng để đội lên mái tóc bồng bềnh của em , em sẽ giống một bà hoàng “. Bây giờ , người ta vấn ngược những làn tóc tôi lên , gương mặt chàng yêu thích chìm tôí trong vẻ cổ điển .Có phải bao giờ dáng vẻ cổ điển cũng là truyền thống , cũng là dân tộ c ? Mà không được kết hôn với người tôi yêu ,cổ điển hay hiện đại , vấn tóc hay thả buông cũng vậy mà thôi . Tôi nhắm mắt . Người ta xỏ giầy vào chân tôi . Tôi bật dậy . Vấn tóc cổ điển, váy cưới màu trắng tinh , người chồng ngoại kiều có vốn , nhưng còn đôi chân , hãy cho tôi được xỏ trong thứ mà tôi mong muốn . Đôi săng đan màu trắng vẫn lung linh nhìn tôi cười dưới chân giường . Giấc mơ của tôi , hy vọng cứu rỗi . Tôi ôm đôi săng đan vào lòng như một vật báu và từ từ dịu dàng xỏ từng ngón hồng . Vừa vặn , mềm mại , xinh xắn . Tôi còn có giấc mơ , có hy vọng vào hạnh phúc .
- Nhà trai đến đầu ngõ rồi. Cô dâu không được ra khỏi buồng . Người nhận sính lễ đâu ?
Tai tôi ù . Mắt tôi hoa . Chân tôi khuỵu . Cuối cùng đã đến giờ phút trọng đại nhất của một đời người . Đã từng tự nhủ không lấy được người mình yêu , đám cưới chỉ là một nghĩ a vụ , nhưng sao bây giờ tôi cũng run rẩy, ngượng ngùng như bất kì một cô dâu nào trên đời . Tôi ngóng qua khe cửa tìm gió , tôi mong ngày có gió . Sương mù đã bay hết , nắng đã nhen , sao gió không về ? Đôi săng đan trắng chật hơn dưới chân tôi tụ máu .Tựa như nó không mang nổi bao nhiêu xúc cảm , bao nhiêu hoang mang , bao nhiêu hồi tưởng trong tôi . Ngày tôi tham dự phiên toà xét xử anh , tôi cũng không hoang mang như giờ phút này . Trớ trêu , mười năm sau tôi lại gặp anh , người đàn ông đầu đời , người đàn ông có chú chó xám , người đàn ông bỏ tôi nhoài nhã với kẹp panh cùng bác sĩ đang gắp đi đứa con đầu tiên để ngồi thưỏng trà với cô gái khác . Anh mập, dáng vẻ thành đạt hơn . Cố ý , anh cho tôi thấy anh chạy chiếc Camry đời mơí bóng nhẫy .
- Em hay nói anh lười biếng. Lười biếng làm sao có xe mà đi ?
- Xã hội này chuyện gì cũng có thể xảy ra . Chức cao quyền trọng vẫn là kẻ cướp , lười biếng vẫn nhiều tiền , có gì lạ .
Miệng gân lên , trong lòng tôi vẫn thấy anh hấp dẫn như chục năm trước .Tôi nhớ chú chó màu xám và ngôi nhà ấm áp .
- Gặp lại em là niềm vui lớn nhất cua anh .
Anh không biết rằng chỉ vài chục phút sau câu nói ấy , tai họa đã ập xuống .Lần tái ngộ với người xưa đã trở thành nguyên nhân đưa anh vào chốn tội tù . Mải nhìn tôi , anh đã gây tai nạn chết người khi chúng tôi từ chỗ ăn tôí trở về . Không thể nào chối bỏ , tôi trở thành ngươì làm chứng trước toà .Hoang mang , dằn xé , suy sụp . Anh quỳ mọp sau chấn song :
- Em hãy khai man đi , để cứu anh ra , anh chỉ muốn ra khỏi đây .
- Hèn !
- Trước toà , tôi mang khuôn mặt lạnh giá nhưng trong lòng vụn vỡ . Người đàn ông mê tranh Đông Hồ , người đàn ông mang hương vị phù sa sông Hồng , người đàn ông thưởng trà mỗi sáng đã chết . Thực sự chết . Tôi tự hỏi nếu khi ấy đã là vợ anh , tôi có bao che cho anh không ? Tôi không trả lờiđuợc . Trái tim cứng lưỡi trong hỗn mang thất vọng .Một làn gió bỗng thốc qua khung cửa mang theo hơi lạnh . Tôi rùng mình . Đồng hồ điểm mười một tiếng gọn lảnh . Giờ đã điểm . Giờ của tôi đã điểm thực sự . Ôm ngực , tôi trong không gian vần vũ trong vô thức . Rồi ai đó quàng qua cánh tay tôi , ai đó kéo tôi đi . Mùi hương , tiếng cười nói lào xào . Ai đó bảo tôi quỳ lạy . Màu đỏ tràn ngập . Những mâm sính lễ , chiếc áo gì tôi , màu son chị tôi quay cuồng .Ai đó cho tôi uống nước . Ai đó nhắc tôi cười tươi để chụp hình . Cười , phải cười , phải vui , phải hạnh phúc . Một cuộc sống mới . Sẽ có tất cả . Chồng tôi có vốn tư bản . Chồng tôi là người nước ngoài cấp tiến , có nhiều thế lực . Tôi không còn sợ người đời ăn hiếp . Xứ này nhiều tiền và thế lực , muốn thứ gì chẳng được . Tình cảm ư ? Cũng như nén nhang đang ngút khói trên bàn thờ kia , sẽ tàn trong canh giờ và thổi bụi vào không gian . Tôi đã yêu anh , đã yêu ông , đã yêu chàng ,đã yêu Tim nhiều như vậy , lần nào cũng như chết trên đoạn đường đến hạnh phúc , chết trong nỗi khao khát và nhung nhớ . Nhưng còn lại gì cho tôi ? Hay chỉ là kí ức ngày không có gió vơí giọt máu của chính mình lìa khỏi da thịt , là ngày gió độc trên cánh rừng hoàng hôn và một phần thân thể đứt lìa mãi mãi , là cảm giác thoả mãn rồi nhục nhã lúc quỳ xuống biển đêm ? Vị phù sa sông Hồng , nước sâm quý , mùi sữa tươi còn vương ký ức không mang hình hài , không thể chụp bắt . Tình yêu , tình yêu là ảo ảnh ,là điều không thực . Đêm đêm ,tôi thường giật mình tỉnh giấc , hất tung chăn khỏi ngưòi , hai tay ôm đầu ,cuộn khoanh như một hài nhi trong bụng mẹ rồi lại xoay mình cố dỗ im giấc ngủ . Khi ấy , tình yêu không hiện diện , hay chính vì hệ lụy của tình yêu mà tôi hoá thành hư ảo , hoá thành chiêm bao của chính mình . Ngươì nào đó ấn vào tay tôi ly nước .
- Cô dâu uống hết ly nước sẽ thấy khá hơn . Từ trước đến nay , chưa thấy cô dâu nào xúc động đến thế này .
Xúc động . Vui nên xúc động . Yêu nên xúc động . Phải thôi , vì chồng tôi là niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái xứ này . Cái xứ con gái nhà quê thì thi đua lấy chồng Đài Loan , Hàn Quốc , con gái thị thành xênh xang sánh đôi với Việt kiều , ngoại kiều . Lấy được chồng như tôi làm sao không khỏi xúc động tột cùng . Tôi loạng choạng giữa đám đông . Không còn ngôi nhà , vỉa hè tôi cất tiếng khóc chào đời . Thức ăn , bàn ghế , rượu , nhạc, váy , tóc , màu sắc thi nhau lướt bừa vào đôi mắt viễn thị đột xuất của tôi . Không phải Hilton , nơi tôi muốn diễn ra lễ cưới . Chính tôi cũng chẳng hiểu tại sao mình lại thích Hilton . Có thể tôi muốn bạn bè biết tôi kết hôn với người Châu Au .Có thể vì tôi nhớ Tim . Tôi gặp Tim lần đầu tại Hilton. Bất ngờ . Tim hấp dẫn tôi từ cái nhìn thứ nhất . Tôi bỏ định kiến đàn ông Mỹ không có chiều sâu .Đôi mắt buồn nao lòng của Tim chứa đầy đam mê . Sau này , Tim nói cũng bị tôi đốn ngã ngay khi chạm mắt . Suốt thời gian ở bên nhau , tôi nghe Tim nói hai câu bằng Tiếng Việt “Mắt em bổ cau” . “Đôi chân em dài thẳng như đôi cau đang thì ra trái”. Tôi trợn tròn mắt .Bị tôi tra tấn một hồi , Tim chịu khai xuất xứ của hai câu nói hay không kém gì thơ Hồ Xuân Hương . Tim mất 20 đô la cho một ông đồ già ngồi vẽ tranh trên phố để ông viết ra giấy và dạy cách phát âm . Và mất hai ngày đọc thuộc . “Ông già Việt Nam ngồi vẽ chữ chắc là sẽ dạy cho điều tốt”. Tim cười ngô nghê . Lấy 20 đô la chỉ để dạy cho một người nước ngoài hai câu nói nhại thơ người khác . Ông già Việt Nam thời mở cửa ! Tôi chạnh lòng xấu hổ .
-Thế cây cau là cây gì?
Tôi hỏi xóc .Tim vụng về ôm tôi hôn .
-Tim đừng nên nói với em những điều mà Tim không hiểu .
Môi tôi xót dưới làn môi Tim . Sau này , Tim đưa tôi lên chùa Trấn Quốc và tự hào chỉ cho tôi cây cau .Tôi cười khen Tim .
- Thế trái cau để làm gì ?
Lần này thì Tim dỗi .
- Làm sao anh hiểu rõ truyền thống của người Việt Nam , cũng như em không thể hiểu hết văn hoáMỹ đã nuôi anh trưởng thành.
Ngực tôi như bị một con kiến châm nọc . Nhức tỉ tê và ngứa lan dần . Tim nói đúng . Cả hai nền văn hoá cách biệt . Tim không hiểu quả cau dùng để làm gì , và còn trăm thứ Tim không hiểu . Nhưng tôi trọng Tim bởi lòng thật thà . Anh , người tình đầu tiên , người mang hương vị phù sa sông Hồng có thể thao thao với tôi về trầu cau , song tôi biết không có dáng thẳng đứng của cây cau trong suy nghĩ khi miệng anh nói . Trơn trợt , rồi lời nói của anh cũng theo gió ra đi vào ngày có gió, và chết ngạt trong ngày không có gió . Với Tim , khi nói , Tim nhìn cặp chân tôi và cố hình dung về cây cau . Tôi trọng Tim còn bởi tôi được Tim trọng .Bất cứ điề gì Tim hứa Tim đều làm .Ngay cả chuyện ân ái .Có bận , tôi thấy bờ bến ở đâu Tim đã bị sóng đẩy lật thuyền. Ân hận, vỗ về ,xin lỗi ,Tim làm như tội tày trời . Tim không biết , tôi bị bỏ bơ vơ giữa biển là chuyện thường tình . Mà đàn bà xứ này đều thế , riêng gì tôi .Những ngày ở bên Tim , tôi trở thành hoàng hậu .Tôi khám phá bản năng vẫn còn ở tận sâu đáy thẳm thân xác . Tim đưa tôi đến tận cùng hang sâu , chỉ cho tôi nền văn minh hồng hoang mà bấy lâu tự tôi che giấu , mà những người đàn ông kia đã không dẫn tôi tới .Họ không đủ sức , không tìm thấy đường hay vì họ nghĩ bởi tôi là đàn bà ? Đàn bà phải là kẻ nằm dưới , phảilà đất gieo mạ . Rồi mạ non thành lúa , thành thóc , họ đốt nương tàn rẫy, đến mảnh đất khác khai hoang . Tôi nghe người ta gọi đấy là truyền thống , là văn hoá phương Đông . Và tôi là người Việt Nam , người phương Đông . Đôi khi tôi tự tra vấn mình : phải chăng đàn bà da vàng , tóc đen không biết đam mê ? Rồi Tim trả lời cho tôi bằng hơi thở kích động và ánh mắt thỏa mãn , biết ơn .
- Em tuyệt vời quá . Anh chưa từng biết người đàn bà nào nồng nàn như em . Sự nồng nàn nhạy cảm , không chỉ hoàn toàn là dục vọng xác thịt . Em sẽ là vợ anh nhé , cô gái bé nhỏ ?
Bên Tim , tôi thấy mình là hoàng hậu , cớ gì tôi không nhận lời cầu hôn . Khác biệt văn hoá , hố thẳm rất lớn . Nhưng tôi tin bằng tình yêu thương , hố thẳm sẽ được lấp đầy . Tôi không nghĩ đến gia đình , lễ giáo khi xúc động nhận lời cầu hôn của một người Mỹ da trắng . Để rồi mấy ngày sau , bẽ bàng nhận ra rốt cuộc mình chỉ là người đàn bà phương Đông từ trong máu huyết .
-Không bao giờ được lấy một thằng Mỹ . Tôi không chấp nhận thứ văn hoá B-52.
-Nhưng anh ấy sẽ ở lại đây sống cùng chúng ta , sẽ uống nứoc rau má và ăn bánh chưng bố ạ .
Mắt bố như mắt của một quân nhân trên vĩ tuyến 17 .
- Để sinh cho tôi những đứa cháu tóc vàng , để gia đình này trở thành một thứ lai căng hổ lốn hả ?
Tôi quá nhỏ nhoi và yếu đuối .Dù yêu Tim rất nhiều , dù thích uống Coca Cola hơn nước rau má , tôi cũng đành rời xa Tim . Nhưng trong những giấc mơ , hình ảnh một đứa bé tóc vàng mượt có đôi mắt đen tròn vẫn ám ảnh tôi . Tôi không thấy lai căng hổ lốn như bố nói , tôi thấy nó là đứa bé đẹp nhất trên đời . Rồi vài tháng sau , bố tác thành cho tôi với một ngoại kiều phương Tây phương .Cũng mắt xanh , mũi lõ.Tôi không thể nào lý giải .Tôi chỉ còn là một người tàn phế .Mỗi người đàn ông tôi yêu , lìa xa tôi , đã mang đi một phần thân thể của tôi. Gặp Tim lần cuối, soi mình lần cuối vào đôi mắt xanh đang lặng xám vì đau đớn của người đàn ông da trắng, tôi thấy vực thẳm đang tụt dưới chân mình. Vực thẳm đào xới tận cùng hun hút một thân xác mỏi mệt. Tim có thể lấp đầy nhưng Tim không có tóc đen, da vàng rải lên che giấu.Tôi để gió và cát ngày ngày rắc bột ớt lên hố thẳm của mình mà không biết rằng gió cát rồi cũng có ngày cạn kịêt .
Không còn thấy gió. Không có một chút gió nào. Dường như lạnh , dường như nóng. Ngày hay đêm, thiên đường hay địa ngục ? Tôi mở choàng đôi mắt. Thứ ánh sáng nhờ nhợ tôi thường trông thấy hắt ra từ những bóng đèn trong công viên mỗi hoàng hôn. Không tài nào phân định nổi thời gian. Thời gian, có phải hạn định ngày tôi thoi thóp trên chiếc bàn sắt lạnh để người ta gắp đi một mạng sống. Có phải buổi chiều giông gió trong căn nhà sàn, người yêu da vàng nhưng khác quốc tịch đã mang đi của tôi phần thân thể nhạy cảm nhất. Thời gian, buổi chiều, buổi sáng, hay buổi khuya đêm, là khi nào cũng không cứu được những mất mát của tôi. Bao nhiêu kĩ niệm như một cuốn phim bị nhão, lê thê đứt quãng trong đầu, tôi miên man trôi nổi trong thứ ánh sáng trắng đục. Từng người tình ướm vàng nổi hoài niệm. Nhón một ngón tay lên ngang ngực, tôi chợt nhận biết có vật lạ. Nó phát tia sáng gọn, sắc ,lạnh, xiên chéo không gian nhờ nhợ. Tôi đưa bàn tay dí sát đôi mắt. Kim cương, ánh sáng của kim cương. Chiếc nhẫn lặng thinh ôm ngón tay áp út. Ngón tay đeo nhẫn. Cuộn phim bất ngờ liền mạch, quay nhanh. Tôi nhìn xuống thân mình. Chiếc váy cưới rũ dài niềm hốt hoảng . Tiếng chuông chùa đâu đó điểm giờ. Tiếng chuông vọng hiu hắt vào trí não tôi ngơ ngác, rã rượi, hoang mang. Chuông nửa đêm, như trí não tôi nửa đêm. Váy cưới, nhẫn kim cương, xe hoa, da tiệc, nước mắt của mẹ, chiếc áo lông thú của chị xô tôi đến nơi này. Nhưng nơi này là đâu? Chú rể, người đàn ông Âu châu, ngoại kiều da trắng mà bố luôn khen đứng đắn, cấp tiến và uyên bác, sao chàng không ở cạnh bên tôi? Bố nói đồng ý gã tôi cho ngoại kiều này vì chàng đầu tư rất nhiều chất xám vào Việt Nam và sẽ định cư vĩnh viễn trên mảnh đất hình chữ S. Tôi manh nha ý nghĩ biết đâu ở đất nước xinh đẹp Âu châu quê hương, chàng phạm trọng tội nên phải trốn đến Việt Nam. Định nói ý nghĩ đó cho bố. Nhưng nhìn ánh mắt tin tưởng vào tương lai của bố, tôi cúi cụp vâng lời. Vả lại, tôi không còn sức, không còn đủ bộ phận của một cơ thể để chống cự. Mỗi người tình ra đi, một phần cơ thể tôi đã lìa đứt. Tôi như một kẻ tàn phế. Mắt đã không còn, nhìn ai cũng giống nhau, bố gả tôi cho ngoại kiều hay Việt kiều hay Hàn kiều cũng vậy mà thôi. Tai đã không còn thính, chồng tôi nói tiếng Anh hay tiếng Việt Mường, tôi chẳng bận lòng. Ngôn ngữ duy nhất còn lại trong tôi là âm thanh những sợi tóc líu ríu nhau trong màn đêm. Chúng thì thầm với nhau không biết ngày mai gió sẽ chuyển chiều nào, hòng xoay theo. Ngược hướng gió, sẽ gãy tan tành. Rồi mái đầu lại trơ trơ, trậc khấc. Chẳng hề gì. Không còn những người đàn ông tôi yêu, tôi chẳng cần tóc tơ, môi thắm. Chẳng để cho ai .
Dòng suy nghĩ miên man của tôi bị cắt đứt cùng lúc với sự choàng ập của bóng tối. Thứ ánh sáng mờ mờ, nhờ nhợ đèn công viên lay lắt một hồi đã lụi. Trống rỗng tựa một nhánh cây khô mùa đông, tôi mệt mỏi buông bỏ thân mình xuống nệm. Bóng tối, đám cưới, căn phòng lạ, sự vắng mặt của chú rể, đâu cần để ý. Hãy cố ru mình vào giấc yên lành, thế giới không tồn tại. Cánh tay tôi rơi dài bên tôi tựa như tiếng thở sâu từ ngàn năm trước . Tôi thở mơn man , dịu dàng trên đồi cao cùng người tình xa xứ đáng thương . Tôi thở lười biếng , hão huyền bên người đàn ông dậy nực phù sa sông Hồng .Tôi thở không thành tiếng trên triền cát vàng tựa chiếu chỉ vua ban , nghẹn ngào nuốt sâm quý hắc mùi đền đài Trung Hoa . Tôi thở dập kích động , rên hú thanh quản từng hơi trong căn phòng Tim . Nước sông Hồng mùa đông cạn ráo . Dầu cho Hồ Tây tràn nước ra đường , sương mù dăng trắng thành phố . Không khí ẩm ướt đọng thành vũng trong những ngôi nhà phố cổ . Không ai , không gì biết đến sự tồn tại của tôi . Đồng lõa cùng thân thể mát thơm , uốn dẽo và trái tim hỗn mang của tôi là mầu đêm tối .Tràn lướt trong mênh mông , tôi phiêu du thân thể , phiêu du đêm đặc , phiêu du tâm linh . Tôi thấy mình lặng lội vào rừng thẳm, nơi những cây chò cao vút phế hoan g cổ tích , nơi dây leo chằng chịt quắn đan . Tôi thấy mình bì bõm giữa đầm lầy , bùn dánh đặc quệt níu làn da hực hội cơn khát dưới bầu trời xám cứng như mầu trầm uất . Mây tích nghẹt trời mà chẳng làn gió quất ngang . Tôi cưỡi lên mây, tôi tắm trong sình lầy , tôi đu dây leo , tôi chuyền cành chò , tôi thả mình trong vô thức , tôi thả mình trong những phần đời đã mất , tôi buông mình trước phần đời đang trầy trật đêm nay . Trước biển lạnh , người tình Tàu dạo nọ chiếm hữu tôi từ phía sau khi tôi quỳ gối , chưa một lần cho tôi chủ động yêu đương . Nay tôi đã thoát khỏi kiếp nô lệ cùng ông , tôi trở thành người đàn bà trưởng thành . Chồng tôi sẽ bế tôi lên ngồi trên , để tôi mặc sức tung hoành , chà cây , đốn gốc .Không cần anh bế, tôi trườn lên như một con rắn chúa . Bản năng chiếm hữu tung trỗi cơn giông đầu hạ . Tôi không phải nô lệ , tôi là mình , bình đẳng như muôn giọt mưa phùn rơi đều đêm đông , rơi đều không gianduy nhất một mầ đen kịt . Không gian chẳng một thanh âm . Chỉ có tôi đang hào hển thở dốc . Tôi nghe trong hơi thở mình tiếng hú của chú chó có bộ lông xám trong ngôi nhà mối tình đầu năm xưa , tiếng gió tắc nghẹn đồi cao ngày Việt ái ân lần sau chót . Những mối tình , hãy u mê lần nữa trong tim tôi , giữa đêm vu quy của tôi và rời xa tôi mãi mãi . Tôi đạp ngàn lần vòng u mê , vòng nuối tiếc , để rồi đôi chân rã rời trượt dài theo tiếng hú rên. Chỉ có màn đêm mới biết tiếng hú ấy thoát ra từ cõi nào .
Lại chính tiếng rao đêm ru tôi vào cơn mộng kéo dài lê thê thức tôi khỏi mê man . Nắng đã tràn bên ngoài , xuyên qua tấm rèm màu nâu xám , chiếu xiên căn phòng sơn mầu vàng nhạt . Tôi nghĩ mình lại rơi vào một cơn mê khác , đến một xứ sở xa xôi nào đó . Không phải căn phòng con gái của tôi , không có những song cửa sổ màu xanh , tấm rèm cửa màu xanh trông ra khu vườn đầy tiếng hoan ca mỗi bình minh . Không có đồng hồ bính boong đếm giờ treo ngoài phòng khách mà bố tôi mang tận từ bên Nga về mười mấy năm trước . Căn phòng lạ , tiếng rao lạ, cả ánh nắng sáng mai cũng lạ lẫm , tôi lại mộng du nơi đâu ? Đôi chân tôi sáng nay cũng lạ lẫm dưới thân mình .Có phải đêm qua tôi đã chạy xuyên Thái Bình Dương để tìm người đàn ông xa xứ , để nở hai bầu ngực ôm trọn khuôn mặt ngây thơ lạc mẹ của chàng ? Nhấc mình khỏi tấm chăn cũng một mầu nâu xám như tấm rèm cửa , tôi ngạc nhiên vô cùng . Tôi đang mang đôi săng đan trắng mà tôi ưa thích dưới chân . Và trên sàn gạch hoa mầu nâu xám , chiếc váy trắng nằm soãi như một lời nhắc nhở. Chiếc váy cưới . Vu quy . Đêm tân hôn . Không gian tê dại , mạch máu tôi tê dại . Tôi không mộng du , tôi không ở nơichốn của câu chuyện thần tiên nào , tôi đã trải qua lễ vu quy và đêm tân hôn trong một căn phòng lạ . Tiếng thở sâu dài hàng thế kỷ chìm lặn da thịt , tôi biết chắc cuộc đời thiếu nữ của mình đã hế t. Nhưng người đàn ông chấm hết cuộc đời con gái của tôi đâu , người đàn ông bố luôn khen giỏi giang , cấp tiến và nhiều vốn tư bản sao không ở bên tôi lúc này ? Như đáp lại sự băn khoăn của tôi , những tia nắng chạy xiên khắp căn phòng , đan hình mắt cáo lên tấm chăn mầu nâu xám . Hất tung tấm chăn , tôi biết mình muốn kiếm tìm . Những tia nắng đột nhiên biến mất . Căn phòng bỗng ảm đạm .Một luồng khí phụt vào thân thể tôi , buốt xót . Trước mắt tôi , trên chiếc ra nâu xám , trong ánh sáng nhờ nhợ của một không gian xám , thân thể một người đàn ông thẳng đơ như chết rồi . Khuôn mặt Tây phương vô hồn trông đến cả vài trăm tuổi nhưng được tân trang màu mè nên từa tựa bức tượng tôi vẫn thường trông thấy mỗi khi đến cơ quan bố . Toàn bộ thân thể người đàn ông cũng xám lạnh , duy chỉ có hàm râu quai nón rậm rì loen nhoen nhiều vệt trắng . Làn da tôi trở nên xám tái như căn phòng , màu suy nghĩ , màu thân hình người đàn ông duy nhất đang hiện diện trên chiếc giường . Căn phòng u ám lạ thường. U ám như không phải là ngày đầy nắng tôi vừa nhìn thấy vài phút trước . Không còn là hoảng hốt , trái tim hoá đá . Người đàn ông hôm qua đã cưới tôi , người đàn ông luôn nhắn cho tôi những lời khó hiểu , người đàn ông đã tặng chị tôi áo choàng lông thú chẳng nhẽ lại mang thân hình lạnh giá như một xác chết thế kia? Hình như tôi đang nằm mơ , hình như có ai đó đang trêu tôi . Hoảng hốt , tôi nhìn xuống thân mình . Không một mảnh vải che thân . Tôi hoàn toàn trần truồng, trừ đôi săng đan lấp loá dưới chân , vết sáng duy nhất trên thế gian . Tôi chạy vòng trong căn phòng lạ bằng đôi săng đan , những bước chạy trệch troạc hoang mang . Tôi bẹo cấu khắp thân mình . Tôi phải thoát ra khỏi giấc mơ khủng khiếp này . Không da thịt nào cảm thấy đau .Chỉ có vùng kín ran rát và bàn tay tôi ướt mềm trong lau lách . Hai bàn tay bết dính chất ngà trắng lẫn nhiều sợi bạc mà tôi vẫn còn đủ tỉnh táo để nhận ra không phải sợi đàn bà của mình . Trời ơi , những vệt trắng trên bộ râu quai nón của người đàn ông ? Tôi chồm lên thân thể xám lạnh trên chiếc giường lạnh xám . Thân hình người đàn ông buốt giá , cứng đơ . Thân hình của một xác ướp! Tôi không biết mình đã làm sao để khoác được chiếc váy lên người, làm sao để thoát khỏi căn phòng nặng nề tử khí. Tôi bay xuống những bậc cầu thang cao quá cỡ, bay qua tấm biển đề khách sạn Eden. Thiên đường , những bậc cầu thang cao để leo lên thiên đường và chạy xuống địa ngục . Đêm qua tôi đã lên thiên đuờng cùng một xác ướp , tôi đã động phòng với một xác ướp. Dấu tích còn nguyên trên bộ râu quai nón người đàn ông và vùng lau lách mềm mại của tôi . Đêm qua tôi đã bơi trên biển cả , tôi đã lặn trong biển cả , đã phiêu du lên thiên đường. Thưa bà Karl, tối qua ông bà ngủ ngon chứ ạ? Gió tạt đi lời cậu thanh niên lễ tân ngáp ngủ. Gió tràn ngập khi tôi chạy ra khỏi cổng thiên đường . Bà Karl, chồng tôi tên là Karl. Đàn ông Tây phương , vu quy, thiên đường . Gió phả rạp những cành sấu già phơi trơ mùa đông. Gió tung chiếc váy cưới tôi mang trên mình. Không phải gió độc trên đồi cao nơi tôi đánh mất người tình xa xứ mà tôi thương nhất, không phải gió ngoài biển đêm khi tôi quỳ gối uống nước sâm người tình Tàu, không phải gió mơn nhẹ trên ban công ngôi nhà sang trọng trên đất Việt của chàng trai Mỹ trắng. Gió của ngày trống rỗng. Phố xá sáng nay vặng lắng. Bước chân tôi lẫn trong tiếng gió phỉnh gạt con đường về nhà .
Khu vườn màu xanh ngả rạp khi tôi trở về. Không có tiếng chim hót . Hoang tàn như vừa trải qua động đất. Bậc thềm nơi tôi cất tiếng khóc chào đời đón tôi im ắng. Ông bà nội trên bàn thờ thản nhiên ngó tôi bằng cặp mắt xa lạ. Tiếng bính boong đồng hồ dường như ai oán. Chẳng cần nghe tôi nói một lời, bố tôi ngoảnh mặt vào trong xua tay.
- Sao con lại chạy về đây? Con không biết cư xử cho ra người lớn được à?
- Nhưng … nhưng con không hiểu. Con không hiểu sao chồng con lại là một xác ướp. Là trò đùa của mọi người ?
Gió theo vào tận trong nhà làm run hai bàn tay tôi , run đôi chân mong manh. Bố quay mặt ra hướng gió, mắt bố là lạ. Vừa lạnh, vừa như khóc, lại vừa như cam chịu .
-Không phải trò đùa. Mà số phận con gái ạ. Cả dân tộc này đâu có đùa. Con phải quay trở lại khách sạn với chồng con. Số kiếp đã như vậy rồi, gái chính chuyên phải một chồng, biết vâng phục chồng và xã hội .
Giọng bố yếu dần , và tan trong sương sớm .
- Nhưng chúng ta có thể thay đổi được số phận mà bố .Con có thể chọn một người đàn ông khác . Hà cớ gì phải lấy một xác ướp ?
- Xác ướp ấy là người tốt nhất trong số đàn ông con đã dẫn về .
Bố bước thẳng vào phòng. Gió lặng trên bàn thờ bố vừa thắp nhang. Tôi biết tôi phải trở lại căn phòng có xác chết đang chờ đợi.Mà không phải xác ướp. Là chồng tôi ,là ông Karl, ngoại kiều Tây phương uyên bác và nhiều vốn tư bản đã định cư ở Việt Nam vĩnh viễn. Là niềm mơ ước của xã hội. Sau song cửa màu xanh căn phòng con gái, tôi thấy mẹ đang lén nhìn tôi và lau nước mắt. Tôi không dám ngoái nhìn nữa. Tôi thương mẹ và thương chính mình .
Nắng tỏa ngời mênh mang theo bước đôi săng đan trắng quay trở lại thiên đường. Nắng của trời, không phải nắng của lòng tôi. Nắng của tôi, gió của tôi đã qua đời trong những cuộc tình giờ chỉ còn là kí ức. Nhưng tôi còn chính mình. Dù cho thân thể và tình cảm đã có lúc đứt đoạn, nhưng tôi còn trái tim biết rung động. Bước lên những bậc cầu thang, tôi bỗng thấy mình lớn hơn. Thưa bà Karl, ông bà có muốn dùng bữa sáng trong phòng không ? Bà Karl, tôi đã là bà Karl. Chồng tôi cho dù chết vẫn được người đời tôn trọng. Tôi không thể ngay trong sáng nay đi khỏi thiên đường này, phơi xác ướp ra ngoài nắng kia cho tan rã. Nhưng tôi còn có trái tim. Và cả nắng sáng, gió sáng của tôi nữa, chúng sẽ trở về bên tôi, giúp tôi thoát khỏi căn phòng xám lạnh này .
. . . ?
Không nhìn Karl đang nhợt tái, tôi kéo tấm rèm mầu nâu xám, mở toang cửa sổ. Bầu trời trong xanh. Ngày đông mà nắng đẹp thế. Tôi xoay tròn đôi săng đan trắng, đi lại trong phòng, đi rảo trước chiếc giường với ý nghĩ mình sẽ trốn thoát. Tôi ngồi xuống. Tôi ngồi im giữa chiếc ghế bành. Tôi biết bố rồi cũng sẽ chết. Cuộc đời tôi rồi sẽ mọc cánh. Ngoài kia . . .
Ngoài kia nắng chiếu ngời nhân loại .

Hà Nội trước ngày vu quy 2005

—————————————————————————

NGƯỜI ĐÁNH MÁY : HOÀNG NHÃ TRÚC
Saigon, 12/12/2006

ĐỖ HÒANG DIỆU Viết Gì ? -Viết Ngắn- Lê Tùng Châu

Đỗ Hoàng Diệu (sau chậu hoa bên phải)
Trước chậu hoa bên trái là tập Bóng Đè
ĐỖ HÒANG DIỆU Viết Gì ?

Những ai lần đầu ngồi vào PC, lần đầu online, đều thấy trong lòng xuất hiện một nỗi cảm xúc khó tả mà sự tiến bộ của khoa học đem lại. Những ký tự ( character ) giờ dây bỗng trở nên hệ trọng vô cùng bởi chỉ cần gõ ( type ) sai một chữ, một dấu, là sai địa chỉ truy cập ( access ) ngay. Ta thấy ngôn ngữ, ký hiệu trao đổi của loài người thật quý giá, ý nghĩa và quan thiết vô song, trong mọi phương diện, nơi mọi không gian, thời gian.

Ta cứ tưởng tượng một lúc nào đó ta không thể dùng ngôn ngữ, ký hiệu… thì ta sẽ không biết làm sao thu nhận cũng như truyền đi ý tưởng, suy nghĩ trong sinh hoạt thường nhật chứ đừng nói chi đến Tư Tưởng, Lý Tưởng cao vời… Nếu Tư Tưởng là thượng tầng của suy tư thì Văn Chương là thượng tầng của văn tự. Và lịch sử nhân loại từng lưu dấu bao đế chế bạo tàn, nhằm củng cố quyền hành-quyền lợi của tập đoàn mình, đã trước tiên bóp nghẹt phương tiện trao đổi giản dị mà hữu hiệu ngàn đời này, là đốt sách chôn học trò ( với Tần Thủy Hoàng ), Trăm hoa đua nở ( Trung cộng ) và vụ Nhân văn giai phẩm ( Việt cộng ), nhằm cào đi tất những Văn phẩm lẫn những Văn nghệ sĩ , những người thường đi trước người cùng thời bằng những Dự Cảm siêu tuyệt của mình, hay ít nữa là cũng nhanh chóng nhìn ra những gì người đời chưa thấy. Bởi nhà văn chân chính không gian dối bao giờ :

Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Giấy bút tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá

( Lời Mẹ Dặn- Phùng Quán )

Những tập đoàn man trá ấy rất sợ Văn chương nên thường , một mặt dựng ngay một bè văn nô đêm ngày tụng hót ( ăn cơm chúa múa tối ngày _ Tục Ngữ VN ) để che mắt thế gian _ như 600 tờ báo Việt cộng và một lô một lốc những gì gọi là văn, sách truyện phim ảnh v.v…nhà xuất bản, đài phát thanh, phát hình_, một mặt triệt hạ Văn Nghệ Sĩ chân chính một cách triệt để và vô hạn định. Cho nên một số lớn chán ngán bỏ đi. Lớp ở lại thì phải tìm ra cách viết cho mình.

Trong bối cảnh ấy, Nhà Văn thật khó sống với nghề nghiệp cũng như chí nguyện mình. Sống, thì chắc chắn là không thể rồi. ( phải làm nghề khác để nuôi ngòi bút ). Còn chí nguyện thì phải phi thường mới viết được. Trong tình thế đó họ gần như không còn chỉ là Văn sĩ thuần túy mà phải là cả một nhà cách mạng đúng nghĩa nữa. Bởi chỉ có thế, họ mới đủ lớn, đủ lòng ( ngoài thông tuệ và can đảm ) mượn ký – hiệu –văn –chương để truyền đi bản văn của mình, mà ta có thể gọi đó là Thông Điệp, là Cáo Trạng v.v… Họ sẽ nghĩ ra trăm ngàn cách tạo ký hiệu , từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp hòng qua những cặp mắt cú vọ đang ngày đêm ăn lương mà lo rình mò.

Tôi đến với ĐỖ HÒANG DIỆU thật muộn khi BÓNG ĐÈ đã xuất hiện được sáu tháng. Từ lâu chẳng ai buồn ngó vào cái đống rác bự mà văn nô việt cộng thải ra ngập ngụa núi sông. Một dịp tình cờ, có một anh bạn thơ gặp và cho tôi hay BÓNG ĐÈ. Anh vắn tắt kể nội dung. Tôi kinh hoảng nhảy dựng lên và làm cả anh cũng sửng sốt khi nghe tôi “ giải mã ” . Sau đó tôi cho một người bạn khác biết và cô cũng nhanh chóng lùng tìm xem xong mang đến tặng tôi.

Phải nói ngay một điều là đọc xong, tôi thấy ĐỖ HÒANG DIỆU, với tuổi đời như thế mà lại có một kiến thức rộng, sâu và đều khắp, từ Sử Việt, Triết học, Văn học cũng như tập tục sinh hoạt VN và thế giới… thật đáng nể phục. Hơn nữa, cô còn có một kỹ thuật tạo ký hiệu khi đơn giản, khi phức tạp, tạo cung cách đa dạng cho bản văn của mình, không kín quá ( người xem khó thấy như ý tác giả ), không hở quá ( cú vọ cắn ), không rối rắm tối nghĩa, không gây hiểu nhầm hiểu sai đều mình muốn nói. Ngoài hai truyện đầu quan yếu nhất ( BÓNG ĐÈ và VU QUY ), những truyện sau cũng không kém hay nhưng có tác dụng như chất độn, toàn thể ta thấy tác giả rất nghiêm chỉnh với ngòi bút của mình cũng như với người đọc.

Vấn đề còn lại là độc giả. Đa số không hiểu kịp, bắt kịp BÓNG ĐÈ , kể cả văn giới. Tôi có xem lại hết thảy những bài trả lời phỏng vấn của tác giả hồi sách mới ra, ở quốc nội cũng như hải ngoại, trên BBC… thấy “ thương ” ĐỖ HÒANG DIỆU chi lạ. Cô đã nói hết trong tác phẩm rồi vậy mà còn phải nghe và cực lòng trả lời bao câu hỏi lãng xẹt đến buồn cười. Nhưng chịu thôi, đây là vấn đề của … thiên mạng ( tận nhân lực tri thiên mạng ). Khi thấy một người dùng túy quyền tỉ võ, trẻ con bảo đó là thằng say, với người dùng hầu quyền thì bảo là con khỉ , âu cũng là hợp lẽ lắm lắm chứ !!! Khi thấy….. Khi thấy…………..

Tôi không dám cũng như không có quyền đọc to lên bản Cáo Trạng này, vì như thế là xúc phạm tác giả mà tôi rất nể phục, yêu mến, ( cũng như phạm đến cả độc giả nữa ). Tôi nghĩ, mỗi người đọc phải tự mình đến nhìn ngắm dung nhan của đứa con tinh thần mà nhà văn phải thai nghén ấp dưỡng bao công phu, bao thời giờ, mới cho ra đời được, chứ nào thể nhờ người khác coi dùm.Phương chi, để có thể nắm bắt được chính ý, còn phải có đủ hiểu biết mới được !

Tôi muốn nói lên lời ca ngợi một nữ sĩ, đâu phải chỉ với tài viết văn, có kiến thức rộng, có lãm thức văn học sâu nhạy, mà trên tất cả, ĐỖ HÒANG DIỆU rất nặng lòng với quê hương, với đồng bào. Nếu không có tầm vóc lớn như vậy thì có tài văn hay hiểu biết bất quá cũng chỉ là người thường với bao điều so tính nhỏ nhen ích kỷ cầu an, hay tệ hơn là chui vào hàng ngũ văn nô mà ngày đêm hò hót đặng kiếm chút cháo qua ngày mà thôi.

Saigon, Sunday, November 05, 2006
LTC

BA NGƯỜI KHÁC – Truyện- Tô Hoài

TÔ HOÀI

Ba Người Khác

Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006

Mười bốn năm sau khi hoàn thành bản thảo,
tác phẩm Ba Người Khác của nhà văn lão
thành Tô Hoài nay đã chính thức ra mắt
bạn đọc và đang được dư luận đặc biệt chú ý.
Trong những ngày qua, chúng tôi đã có dịp
đăng một số bài viết về tác phẩm này.
Được sự cho phép của tác giả, talawas chủ
nhật kì này hân hạnh giới thiệu toàn văn
Ba Người Khác đến bạn đọc.
-talawas chủ nhật-

Nguồn: Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006. Bản đăng trên talawas với sự đồng ý của tác giả.

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 tại Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam 1957, hiện sống tại Hà Nội. 1945 – 1958 làm phóng viên rồi Chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc. 1957 – 1958 Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. 1958 – 1980 Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. 1986 – 1996 Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội. Hiện sống tại Hà Nội. Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học-Nghệ thuật (đợt 1, 1996).

Tác phẩm Gần 200 tác phẩm, nổi bật là Dế mèn phiêu lưu ký (truyện dài, 1942); Quê người (tiểu thuyết, 1943); Truyện Tây Bắc (tiểu thuyết, 1954, Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1956); Miền Tây (tiểu thuyết, 1960, Giải thưởng của Hội Nhà văn Á-Phi năm 1970); Tự truyện (hồi ký, 1965); Quê nhà (tiểu thuyết, 1970, Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội 1970); Cát bụi chân ai (hồi ký, 1992); Chiều chiều (hồi ký, 1997)…
———————————————————————————————————————————————————————————

TÔ HOÀI
Ba Người Khác
I

Các đội công tác vùng đồng bằng hạ lưu sông Hồng kéo về tổng kết đợt ở huyện lỵ, đông có đến cả nghìn con người. Suốt tháng triền miên nghe kể lể thành tích và những anh những chị rễ, chuỗi [1] ở xã lấy lên nay đã thành cán bộ đội vừa khóc vừa nói về cuộc đời bị đoạ đày xưa kia.

Một việc, tôi nhớ mãi. Có một cố nông quê huyện Nga Sơn được lên cán bộ đội đã đi làm cải cách hai đợt. Anh kể lại đời anh, cả hội trường hàng nghìn người ai cũng ngậm ngùi, các chị khóc sướt mướt. Sổ tay tôi đặt trên mặt túi dết kê đầu gối mà không ghi được một chữ nào. Tôi đã nghe bao nhiêu chuyện kể khổ ở hội nghị, ở tổ rễ chuối, nhưng chưa khi nào nghe choáng váng ghê rợn đến thế. Ban ngày anh đi cày, tối tắm rửa sạch sẽ rồi vào giường cả đêm phải ngậm bòi thằng địa. Thằng địa bị bệnh tim la, mút đến nửa đêm cũng không hết được mủ tanh nhức óc. Cả hội trường ào ào đả đảo địa chủ… gian ác… đả đảo… Còn anh ấy nghẹn ngào nức lên không nói tiếp được nữa.

Thế nào mà anh ấy bị lây cái máu dê của thằng địa đến tận giờ. Cơm hội nghị có thịt bò thịt lợn, lại chắm chép, đâm rửng mỡ, lúc nào cũng cuồng lên, đâm hủ hoá lung tung. Ngồi trước mặt cô nào cũng hau háu mắt nhìn cái đũng quần. Anh ấy phải kiểm điểm mấy trận tơi bời đau đớn. Rồi bị thải hồi trả về cơ quan huyện. Cả mấy chị cũng phải đuổi về xã. Tôi không quan tâm đến họ, mà chỉ nghĩ: thì ra cái máu chó của thằng chó kia truyền sang mày, gớm cái giống chó má chết tiệt.

Tổng kết xong, các đội lại đi đợt mới. Cuộc ra quân rầm rộ có xếp hàng nghe mệnh lệnh xuất kích như chiến dịch thời kháng chiến. Đợt này, khu vực làm bao trùm cả Hải Dương, Kiến An, cải cách thẳng, không qua giảm tô. Nhiều huyện quanh Hải Phòng, ba năm trước, là vùng “hai trăm ngày”, tàu hoả xuống qua ga Phú Thái đã vào sào huyệt địch còn lại, từ các nơi dồn về hàng nghìn người di cư cuối cùng chen nhau xuống tàu há mồm đi Nam.

Chúng tôi được đưa từ Thanh Hoá ra hỗ trợ chỗ khó. Công tác ở vùng rắc rối thế này chắc là lôi thôi đây. Nhưng mà ở Nông Cống trong kia, đội tôi đã được cờ thành tích đánh địch. Có thế, mới được ra đây. Tôi cũng chẳng áy náy sao. Làm gì rồi cũng làm được thôi, tôi đã làm hai đợt công tác, trải việc ngót một năm rồi.

Các đội ở hội nghị tổng kết ra, chia tay nhau giữa chợ huyện, đông thành mít tinh. Không đợi ô tô tải, không cần ô tô. Đội trưởng Cự đếm được đủ đầu chúng tôi mười hai người, thêm hai rễ mới vào cán bộ đội, rồi Cự bắc hai bàn tay làm loa, hét to: “Lập công ngay từ lúc xuất phát. Chúng ta tranh thủ đi luôn. ở dưới xã, nông dân đương nóng lòng đợi đội về”.

Mọi người đứng xếp hàng đôi, lưng đeo ba lô. Chúng tôi vẫn được nguyên đội ở Thanh Hoá thành tổ học tập rồi đến bây giờ đi. Đội trưởng Cự bên bộ đội sang – nghe nói là đại đội trưởng, tính quyết đoán nóng như lửa, gắt gao kỷ luật với mọi người. Cái khăn mặt bông trắng được phát từ ngày ra tập kết ở Sầm Sơn, đã cáu xám xỉn, mặc dầu đội trưởng rửa mặt chỉ chùi bằng ống quần. Tuy vậy, cũng đã thuộc tính nhau, cứ lựa lúc người cứng thì ta mềm, dù sao cũng hơn phải đổi một đội lạ lẫm khác.

Thế là mười hai cái xe đạp, – hai đội viên mới không có xe, không biết đi bằng cách nào, tôi đạp xe lúc đường nhựa, lúc bờ đê, lù rù mò suốt đêm. Bóng tối có phần dịu. Đến lúc trăng lặn, nhấp nháy ánh sao đằng trước, tôi phanh khuy áo ngực, căng mắt dấn phăng phăng. Gần sáng, mắt như quáng gà. Đã sang đến đường 5, lổn nhổn dấu hầm hố của du kích đào đường. Có nơi còn lại cả mìn – nghe nói thế. Tôi buồn ngủ quá, hai lần đâm xuống hố. Không biết có phải vì tinh thần hăng hái đã làm nhãng ngay cái vất vả, xe với người chẳng xây xát gì cả. Chỉ sái một bên tay. Nhưng cũng nhờ đau mà đâm ra tỉnh ngủ đến sáng bạch.

Vừa sớm, lọt đọt kẻ trước người sau đến chỗ đoàn uỷ miền. Chưa ô tô tải đưa đội nào tới. Đội trưởng Cự khoái trí, quay ra giơ hai tay: “Chúng ta đến trước tất cả!”

Cơ quan đóng ở một ngôi đền bên trong đã san phẳng hết các bệ thờ. Hai bên tả hữu vu ngăn cót thành buồng. Tiếng máy chữ đổ rào rào như vẫn đập thế thâu đêm, văn phòng đoàn cũng tranh thủ làm như chúng tôi đã đi suốt sáng. Trong sân sau tường đền còn sót lại cây mộc mùi hoa sớm thanh khiết thơm thoang thoảng. Trước một gian phên bên kia che kín đáo, ngoài hiên đặt một dãy những giá gỗ tạp mới trên có thau men trắng vắt chiếc khăn mặt hoa. Chắc đoàn uỷ hay đoàn cố vấn ngủ trong ấy.

Một người nhỏ nhắn, bộ quần áo nâu non mới sáng sủa, mặt trắng trẻo đeo kính trắng như học sinh mắt cận thị. Người ấy đạp xe từ ngoài cổng vào.

“Bên Quỳnh Côi sang phải không?”

“Vâng, chúng tôi tranh thủ, không đợi xe.”

“Tinh thần lắm, hoan nghênh. Tôi thường trực đoàn uỷ đây. Chúng ta vào văn phòng làm việc ngay. Đội số mấy, đội trưởng đâu?”

Làm việc ngay, khẩn trương sao! Chỉ đôi ba câu đối đáp khét lẹt những công việc, lập tức ai cũng tan cơn ngủ, quên cả rửa mặt, không nhớ vừa ỳ ạch đi cả đêm. Một lúc sau, cuộc trao đổi công tác, giao nhiệm vụ đã xong. Thật thì chỉ có đội trưởng Cự hỏi đi hỏi lại, còn cả hơn mười người ngồi im, thỉnh thoảng ai dấm dớ hỏi một câu về cái xã sắp đến thì được trả lời mấy lần giống nhau “tài liệu đây, trong tài liệu có hết”. Rồi người đoàn uỷ đứng dậy, xoa tay, nở nụ cười như thói quen cười nhạt nước ốc và xoa tay thế, nói lấy lệ: “Các đồng chí thông cả rồi chứ”.

Chúng tôi đã ra ngoài sân đền.

“Tài liệu mang về xã thế là đã sắp sẵn đủ cả. Chúc công tác thắng lợi. Bắt tay cái nào!”

Mọi người lồm cồm dắt xe ra đường. Sắp nhảy lên yên, có tiếng đằng sau giật giọng:

“Này! Này!”

Quay lại, vẫn chỉ thấy người thường trực đoàn uỷ còn đứng đấy.

“Vào cả đây, vào đây.”

Tôi háu đói, đã tưởng ra niềm vui có lẽ được vào nghỉ và ăn sáng. Cả đội lại đứng thành bọn trước cái cót che cửa văn phòng lúc nãy. Người đoàn uỷ bước lên thềm, dõng dạc:

“Các đồng chí, bắt đầu từ hôm nay, đội đã vào cuộc đấu tranh công tác ba cùng. ở dưới xã, bà con nông dân khổ cực lắm. Chỉ bọn bóc lột mới có xe đạp, mới thảnh thơi ngồi mát bát vàng. Chúng ta về với nông dân không thể đồng sàng dị mộng. Không được đi xe đạp xuống xã.”

Cái ông đoàn uỷ mặt mày học trò bé loắt choắt mà hắc thế. Tôi chưa bị đoàn uỷ nào bắt không cho đi xe đạp xuống xã. Dễ chừng vùng địch tạm chiếm cũ lại làm cải cách không qua giảm tô thì phải khác cũng nên. Thế là mất cả tiếng đồng hồ, người tìm tước bẹ chuối, người ra chặt cây dướng bóc vỏ bện thừng. Mười hai cái xe đạp được trói gô lại thành một bó, khiêng vào trong đền, lênh khênh như đống xương trâu. Điều bất ngờ ấy, cả đội trưởng Cự cũng không tưởng ra trước được. Tuy nhiên, lúc ghé vào cõng lô xe, đội trưởng vẫn mặt đỏ gay hăm hở. Không hiểu đội trưởng nghĩ gì. Chỉ khoái hai anh rễ đội viên mới không phải chạy theo như cả đêm, tự dưng được đi cùng.

Qua chợ huyện, ai nấy đói lử. Nhưng bụng mình mình biết thế thôi. Trông vào cái chợ mùa đói, nháo nhào không biết đâu người ăn mày hay người mua bán. Sướng chưa, đội trưởng Cự bỗng nói: “Ta vào chợ kiếm cái ăn đã”. Cả bọn đi hàng một từ tốn bước sau Cự. Dường như sợ đội trưởng thay đổi ý kiến, phải cố làm vẻ hiền lành thế. Chúng tôi đều quần áo nâu bàng bạc, dép râu, mũ lá, có người mặt bạc phếch như mới ốm dậy. Đội trưởng Cự thì lúc nào cũng phừng phừng, lúc nhếch mép cười, lúc cáu kỉnh, cũng thế.

Chợ sớm dần dần đông. Đương mùa khô kiệt, những mẹt cám bày la liệt khắp nơi. Lác đác, người đem trẻ con đi bán như quảy quả mít, một bên đứa trẻ ngồi nhấp nhỏm víu quang gánh, một bên tảng đất để cho cân. Chúng tôi, anh mặc lành anh mặc tã, dị dạng, người trong làng về chợ nhìn tránh ra chiều e dè. Đã hai năm, đoàn uỷ đóng ở cái đền này. Hàng chợ đã thấy nhiều cán bộ đi về, áo cánh, áo vét khác nhau, nhưng ai cũng biết đấy là những “anh đội” xuống xã hét ra lửa. Chẳng bận đến, người ta cũng ngại, lẩn đi, bước né bên đường. Đội trưởng Cự đột nhiên đứng lại: “Chúng ta ăn bánh đúc!” Cả bọn lập tức sà vào hàng bánh đúc ngô. Mụ hàng hớt hải sang bên các lều bán nộm chuối, đu đủ xanh, nước chè tươi mượn mấy mảnh tre mới đủ ghế khách ngồi.

Chợ đã nhiều người nhưng chợ sớm chưa ai lê la hàng quà. Bọn người lạ mà ai cũng đã biết là các anh đội, khiến những mụ ăn quà như mỏ khoét và cả đám ăn mày cũng không dám lảng vảng. Từng chiếc bánh ngô lưỡi mèo vàng hây, giữa rốn mỗi chiếc đặt mảnh cháy vàng rộm. Một bát đàn tương mặn chát. Có anh đội bưng hẳn bát tương lên để chấm và húp, khỏi phải cúi lom khom và ngồm ngoàm hay là có nuốt chửng cả cái không ai trông thấy. Anh đội cũng đói như mọi ai. Có người hỏi bâng quơ: “Bánh ngô chấm tương à? ” Mụ hàng trả lời ngẩn ngơ như nói giữa trời: “Thời buổi khó khăn lắm, hạt vừng cũng là hạt vàng đấy”.

Chẳng biết khó khăn thế nào, cái bánh ngô xay bùi bùi, ngọt ngọt, vả lại đương đói móp bụng.

Năm ấy, tôi ngót ba mươi. Từ tấm bé chỉ ở thành phố. Đến tuổi đi làm kiếm được chân giữ cửa trông kẻ cắp cho hiệu thịt bò “Sáp phăng giông” phố Tràng Tiền. Cách mạng thì vào tự vệ phố, đến lúc kháng chiến, không còn đội tự vệ nữa, nhưng tự cho mình đã là Việt Minh, tôi đi theo kháng chiến lên Việt Bắc. Những chuyện tôi đi được cũng là gian nan. Tản cư, vợ tôi và con gái mới ba tuổi chạy lên Nủa trên Sơn Tây. Tất cả trai tráng phố tôi ở lại vào tự vệ. Phố tôi bị Tây trong thành tràn ra vây phải dồn vào liên khu Một giữa thành phố. Ta điều đình được với Tây để cho người già, đàn bà và trẻ con được ra ngoài. Lối ra trên đê làng Yên Phụ. Có lãnh sự Anh và lãnh sự Tàu đứng trên chòi gỗ chứng kiến.

Tôi trốn đội tự vệ trà trộn trong đám người lố nhố ra. Trời lạnh, tôi chít sùm sụp cái khăn vuông mỏ quạ, giả làm bà già, đi qua ngay trước mặt các ông lãnh sự trong trạm kiểm soát nhòm ra. Tôi thoát được lên Nủa tìm vợ con. Hỏi thăm cả làng, cả cái chợ giời tản cư, về sau gặp người biết, đã bảo mẹ con cô ấy theo người ta vào Hà Nội rồi.

Tôi chẳng biết đi đâu, cũng không dám “dinh tê”, sợ Tây đã biết tôi là tự vệ, tôi lần mò lên Thái Nguyên, rồi sang Tuyên Quang, lên thị xã Bắc Cạn, quanh quẩn ở những vùng đông người tản cư dưới xuôi lên. Cũng không có vốn mở hàng quán, tôi xin vào làm phát hành sách báo. Vào cơ quan bấy giờ dễ, cứ đến xin việc cũng được nhận ngay. Hàng ngày, mấy chục quang gánh báo Cứu Quốc và sách nhà Sự Thật quảy xuống khu Ba, khu Tư – như những đoàn người dưới đồng bằng thồ muối lên miền ngược. Không ai biết tôi trước kia làm loong toong, làm cu li giữ cửa và đã trốn tự vệ. Chỉ biết tôi là người trong Hà Nội ra có đôi ba chữ nên anh em cho giữ sổ sách văn phòng và kho. ở trong rừng, cơ quan chỉ có quyển sổ cái ghi các thứ trong kho, xà phòng, đường ta, quần áo khi nâu khi nhuộm thâm trên phát về.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ rồi Hà Nội được giải phóng, tôi trở lại thành phố.

Về đến Thái Nguyên cả cơ quan đàn ông đàn bà làm việc ở các cơ quan đều được may được phát quần áo một kiểu như nhau. Giày vải nâu, quần áo kaki xám nhạt. Và mọi người theo đúng điều lệnh tiếp quản: không về nhà, không mua bán, không ăn quà ngoài đường… Tối tối tôi vẫn lẩn đi chén phở. Không ai biết. Một hôm, được phép về nhà và ai có người quen được tới cơ quan thăm. Bố mẹ tôi mất đã lâu, tôi chỉ nhớ vợ con. Tôi hồi hộp về chỗ nhà cũ ở Tám Mái. Nhưng hàng xóm kể cho biết cô ấy đã lấy chồng làm cút lít cho Tây, tháng trước họ kéo nhau xuống Hải Phòng, vào Nam cả rồi.

Tôi như đuổi theo cái bóng. Cũng chẳng buồn, chẳng ngán ngẩm. Chỉ đôi lúc phảng phất nhớ mụn con gái mà thôi. Cái năm xa cách, nó mới ráo máu đầu, chẳng biết rồi nhớn nhao thế nào. Tôi bây giờ mà hoá ra quan trọng, tôi giữ ba sổ chi thu, – chẳng học nghề bao giờ cũng được lên chức kế toán trưởng. Năm sau, tôi lấy vợ. Cũng dễ ợt, cô ấy làm cấp dưỡng, theo cơ quan trên Thái về, chúng tôi biết nhau đã lâu. Rồi vợ tôi sinh một thằng con trai. Bấy giờ “phóng tay phát động quần chúng”, công tác cải cách ruộng đất là quan trọng nhất. Mọi người công tác ở cơ quan, từ cấp dưỡng đến cán bộ chuyên có biết đồng ruộng hay không nhất loạt đều phải đi làm “thổ cải”. Thế là tôi đi. Tôi đi công tác cải cách, cu Ngẩu nhà tôi đã được sáu tuổi.

Khi còn ở trên Việt Bắc mấy năm gần về Hà Nội, ai cũng đều đi làm giảm tô, có người giảm tô xong sang công tác cải cách. Tôi chẳng biết mặt mũi đồng ruộng bao giờ, tôi tìm cách lẩn. Bấy giờ không khó, bởi chỉ có mỗi mình tôi giữ sổ sách, không thể mỗi chốc đi đâu. Nhưng về thành phố thì chỉ còn trơ ra có tôi chưa được rèn luyện lập trường cách mạng ruộng đất. Ông giám đốc cũng chưa đi giảm tô, đi cải cách lần nào. Nhưng không ai dám nhắc ông ấy. Lại nói nịnh “bộ tư lệnh phải ở vị trí chỉ huy”, bên trong thì ghé tai xì xào ông ấy sợ đứng dậy thì có người ngồi mất ghế. Chiều thứ bảy nào cũng họp kiểm điểm trong tuần, thủ trưởng lại đập bàn nói choang choác: “Giải phóng nông dân lao động khỏi ách địa chủ phong kiến, mọi người đều có nhiệm vụ tham gia…”.

Tôi cũng khéo lèo lái, lẩn lút tránh được tới khi về Hà Nội vẫn chưa đi. Tưởng chiến thắng về Hà Nội giải phóng thế là đã hết mọi việc xóm làng, hoá ra vẫn còn. Không thể thoát, bấy giờ mới chỉ hết giảm tô, còn cải cách. Cơ quan đã đi cạn kiệt cả, lần này đích tôi có tên trong danh sách đi rồi không còn ngõ ngách nào lẩn nữa. Thế là phải đeo ba lô đạp xe đi. Tôi vào Thanh Hoá dự tổng kết các bước công tác của các đội vừa qua dưới xã. Lúc đầu tôi lo cứ rối tinh. Nhưng rồi cả tháng vừa nghe vừa hỏi thì cảm như mọi việc khuôn phép dần đâu vào đấy, công tác này cũng thế thôi. Còn gì khó hơn cái sổ sách kế toán, mình chẳng học mà cũng thành nghề cộng trừ nhân chia, thế ra đi cải cách không đáng sợ như những đứa đã đi về đồn thổi, doạ dẫm.

Mụ hàng bánh đúc chỉ đường cho chúng tôi về xã. áng chừng mươi cây số, hễ sắp hỏi thăm đã có người mách lối đi, như là ai cũng biết mình về đấy rồi. Cái ba lô trên lưng đã thấm đen mồ hôi, đoàn người nhấp nhô đi quá buổi trưa. Đội trưởng vẫn thoăn thoắt dẫn đầu cho nên không ai dám uể oải. Gió mát hây hây mà mồ hôi đổ ra dính lưng nham nháp. Mặt trời mờ mờ nghiêng trước mặt, người trên đê trỏ xuống cánh bãi bảo kia kìa, làng ấy đấy. Những khoanh tre xanh ngắt quây xóm làng ven con đê quai. Từng khúc dầm nước trong veo lác đác đám lá sen già đưa mùi thơm như rơm mới. Chắc xưa kia chỗ này vỡ đê hay dòng sông cũ còn lại hõm loáng thoáng thành những đầm nước. Giữa cánh đồng, một mỏm núi đá chơ vơ. Bên cạnh, còn trông thấy cái lô cốt xi măng tháp canh của bốt hương dũng.

Chúng tôi xuống, vào ngôi đền đầu thôn. Lại cái đền hoang, hai bên tường đổ trống huếch nhưng vẫn còn bệ gạch chưa ai ăn trộm. Đội trưởng Cự nhìn quanh, thấy người đi trên đê qua lại, chưa yên tâm đã được bảo mật. Cả bọn chui vào qua cái sân cỏ mọc lưng ống chân cho được kín đáo chặt chẽ. Những con chuột thấy động chạy rào rào vào hậu cung đã mất cả cánh cửa, ẩm ướt, tối om. Chúng tôi ngồi lại dưới mái hiên. Chỗ này, trên đê hay ngoài cửa không ai thấy. Kể ra cứ cẩn thận, chứ lúc ấy chưa chiều lắm, thế mà lúc nãy còn lác đác người bây giờ trên đê đã vắng ngắt.

Đội trưởng Cự kéo mấy cái ba lô, kê lên, trải ra tấm bản đồ xã vẽ kẻ bằng tay lúc sáng nhận ở đoàn uỷ. Chúng tôi xúm quanh, chăm chú. Cự nói một mạch:

“Một là, từ giờ phút này đội ta chịu trách nhiệm mọi mặt của xã. Xã đây ở vùng hai trăm ngày địch được đóng lại, địa chủ thì gian ác, tổ chức của địch để lại đã khéo lồng vào tổ chức ta, chúng nó đã làm giảm tô và cải cách giả. Công tác của chúng ta thật nặng nề. Hai là, xã có chín thôn, mỗi chúng ta phụ trách một thôn. Tôi đọc tên từng người đây. Tôi phụ trách chung và thôn Đìa với văn thư của đội, thôn Đìa cũng là trọng điểm, vì có nhà thằng bí thư chi bộ. Các đồng chí xem bản đồ rồi tự tìm đường về xóm. Không được hỏi han lung tung. Coi chừng tay sai địa chủ và tổ chức cũ sẽ đưa vào người nó bố trí sẵn. Kể từ bây giờ các đồng chí về vị trí chiến đấu dưới thôn cẩn thận cảnh giác không được liên lạc với tổ chức cũ, cứ chọn nhà thăm nghèo hỏi khổ, bắt rễ xâu chuỗi. Chiều thứ bảy, đúng giờ này – đội trưởng Cự cúi xem đồng hồ đeo tay, toàn đội về đây phản ảnh tình hình và duyệt rễ. Ba là, tuyệt đối bí mật, tuyệt đối bí mật.”

Tôi đói quá. Không biết có bệnh giun sán hay sao, hễ quá bữa thì bụng réo rong róc, mắt nảy đom đóm, hai bàn tay toát mồ hôi lạnh. Cứ từng cơn thế, người như lả dần.

Tôi duỗi chân đụng vào đít cái ba lô trước mặt để đặt bản đồ. Ngón chân hình như vướng vào mảnh lá chuối. Tôi lé con mắt dương hoa vàng mờ, cũng nhận ra cái lá chuối lòi ở góc mảnh bạt nắp ba lô. Bấm thấy mềm mềm. Tôi quờ tay. Ôi chao, tôi nhận ra cái lá bánh đúc ngô ở chợ. Tôi ngước mắt. Đội trưởng đương nói đến đoạn hăng, bắt đầu băm bổ bàn tay liên liến, hai con mắt trợn trừng như muốn bật ra. Tôi luồn tay dưới ba lô, thó luôn cả gói, bỏ nhẹm vào cái túi xách của tôi. Rồi lại vờ lơ láo nhìn mọi người. Ai nấy vẫn đăm đăm. Người hí hoáy ghi sổ tay. Người vừa chăm chú vừa thờ ơ nhìn đội trưởng. Người vẫn cắm cúi xem tờ bản đồ mở che kín trên mấy cái ba lô. Lúc ấy tôi mới bình tĩnh nhận ra thật cái ba lô ấy của đội trưởng Cự. Đúng rồi, ba lô bộ đội gờ nếp viền quai kỹ lưỡng, chắc chắn hơn những cái ba lô con cóc khâu túm mua ở cửa hàng bách hoá. Tôi sững sờ, nhưng rồi lại yên trí dần. Kỷ luật là ba cùng dưới xóm. Mà đội trưởng lại mua lén bánh đúc ở chợ. Bố bảo cũng không dám kêu mất. Và trông mọi người đương chăm chú thế kia thì chẳng ai nhìn thấy tôi vừa làm gì. Cho thằng đạo đức giả tối nay đói rã họng.

Mọi người đứng dậy, xốc ba lô lên vai. Hai anh đội cán bộ cơ sở ở xã lên, nách kẹp mo nang tài liệu, xắm nắm đi ngay. Họ háo hức như được về xã nhà. Mà họ tự nhiên như thế cũng chẳng lạ, chỉ có tôi mới phải lo lắng loăng quăng chẳng biết chốc nữa vào nhà ai, có bắt được trúng rễ không. Đội trưởng Cự một tay xua xua không biết là cản lại hay bảo đi, một tay nắm đấm, hô: “Vì giai cấp nông dân, quyết chiến quyết thắng”. Tiếng đáp lại rập một cái: Quyết thắng! Quyết thắng! Tôi thấy đội trưởng xách ba lô lên, sờ vào mép. Rồi nắn lại lần nữa. Mất mẹ nó rồi. Nhưng mặt vẫn bừng bừng như lúc đương nói, không khác. Đội trưởng đến trước mặt tôi. Tôi khúm núm co người túm miệng túi xách sợ lộ cái lá chuối, rồi nghiêng người đeo quai ba lô lên vai. Không phải đội trưởng tò mò gì về tôi mà Cự đến bắt tay từng người. Tôi kẹp chặt cái túi trong có gói bánh đúc ăn trộm rồi mới giơ bàn tay ra.

Đội trưởng bảo:

“Đồng chí đợt này được trên cử làm đội phó phụ trách toà án, cố gắng nhé.”

Tôi nhẹ nhõm nắm tay Cự. Mỗi người vào các xóm một ngả. Chỉ có Đình rảo bước theo tôi. Tôi hỏi:

“Cậu về cùng lối với mình à?”

Lúc chỉ có hai ba người, chúng tôi thường cậu cậu tớ tớ – chỉ có mấy anh ở xã lên vẫn nghiêm túc “đồng chí” như khi họp. Riêng với đội trưởng tác phong quân sự thì không mấy khi dám cợt nhả, lúc nào cũng “đồng chí” cẩn thận.

Đình đáp:

“Mình phụ trách xóm Chuôm láng giềng cậu. Về Chuôm đi xuống lối bờ đầm đằng kia gần hơn.”

“Thế sao lại đi lối này?”

Đình cười hếch cái mũi đỏ.

“Đi vài bước, cho nó vui mà.”

Tôi ừ hữ nhạt nhẽo. Đình ghé tai tôi, nói nho nhỏ:

“Này chia cho tớ bánh đúc với. Ông anh nhanh tay quá đấy. Tớ nhìn thấy trước đằng ấy cơ.”

Tôi ơ mặt như đứa ăn cắp bị bắt tại trận – mà thật thế, còn như nỗi gì. Gói bánh có bốn chiếc, tôi lẳng lặng lấy ra đưa Đình hai cái. Nhìn theo hút lúc ấy đội trưởng Cụ đã khuất vào bờ tre. Bỏ bánh lên túi ba lô rồi Đình cũng tất tả về phía ấy. Ôi trời, nó đi báo cáo thì toi mạng! Nhưng tôi lại dửng dưng ngay. Nó nói ra thì nó mất bánh. Mà đội trưởng đã định ăn vụng, đội trưởng trù cho thì cũng chết dở.

Tôi lững thững vào thôn Am. Đi bắt rễ khác nào đi câu. Còn chưa tối, mới chạng vạng mà trước mặt, sau lưng vắng tanh. Chiều chiều thông thường lúc này cổng đồng có người đi làm về, những con trâu bước thong dong, đàn vịt rúc bờ ruộng chân tre, trẻ con đương vác sào ra dồn về. Thế mà đường vào xóm quạnh quẽ, tưởng như không cả con chuồn chuồn chập chờn, con nhện nước loăng quăng. ít ngày sau, tôi mới được biết cả mấy thôn này đã được biết tin đội về từ lúc đội còn ngồi ăn bánh đúc trên chợ huyện. Thế là gà qué, chó má, trâu bò người ta tất tả nhốt chặt. Cả người cũng không ai dám ló mặt ra ngõ.

Có thể nhận biết một làng mới thoát khỏi vùng tề tiêu điều khác hẳn các làng hậu phương um tùm cây cối xanh mát trong Thanh Hoá. ở đây, cây đa, cây si ngã ba xóm, những luỹ tre và bờ bụi bị phạt trơ ra như những cái đầu trọc lông lốc. Đồn bốt Tây bắt triệt thế cho du kích mất chỗ ẩn nấp, đêm đến cả các chòi gác bốt hương dũng giữa làng rọi đèn pha phía nào cũng được.

Tôi nhòm ngó một vòng xuống cuối xóm rồi quay lại. Cả đến những giậu ô rô, giậu duối và bờ xương rồng cũng xơ xác như tóc cạo dối chẳng còn mấy. Trên những mái rạ mục đen sẫm không vẩn vơ một sợi khói bếp. Các cổng tán, cánh liếp mở há ngoác mồm. Tôi không biết người ta cốt làm thế để đội về khỏi nghi giấu giếm cái gì trong nhà.

Tôi toan cứ vào bừa một nhà nào nghỉ ngơi cái đã. Nhà ấy không dựa được thì mai đổi đi nhà khác. Tôi đã mấy đợt qua cái bỡ ngỡ lần đầu tiên ngày đầu đi bắt rễ rồi. Chợt trông thấy sau mấy cây duối quăn queo một người đàn ông cởi trần gầy nhom, quần xắn móng heo. Người ấy vừa đi vừa quay mặt vào trong cái sân đất, như nói với ai trong ấy: “Ông đã chặt cổ cả thằng Tây, ông đếch sợ anh đội”. Ngẩng lên thấy tôi, người ấy thoáng bối rối rồi nhìn trân trân: “A anh đội! Mời anh đội vào nhà em xơi bát nước!” Cái mặt người này dại dại, mắt trơ tráo, không biết nó dở người hay nó là thằng địch trắng trợn ra đặt bẫy. Giả vờ thế nào được với tôi, tôi không đáp. Tôi đâm cảnh giác, không dám vào bừa nhà ai như đã định thế, rồi cứ lúng túng, vẩn vơ…

Một quãng, gặp một đống rạ. Trong kia, thoáng bóng người quần nâu bạc đã tuông cả gấu, leo khoeo rút rơm. Tôi khấp khểnh lẩm nhẩm: đây rồi… đây rồi… rễ đây chứ rễ đâu… Tôi xăm xăm tạt vào. Người đàn ông đứng lại dưới mái rạ, hai tay luống cuống như vụng trộm thế nào. Khuôn mặt rỗ hoa xám nhợt đã luống tuổi. Người ấy phờ phạc ngẩng lên:

“Lạy anh đội…”

Gian nhà lợp rạ nát xám xịt như mặt người ấy. Tôi bước vào. Còn mấy người trong nhà, chốc mới nhận ra dần dần. Một người đàn bà ngồi xổm trong xó luồn, tay chống lên mảnh gỗ con. Một chú nhóc đóng khố một cởi trần đứng tựa cột. ở chái bếp bước vào một cô gái áo nâu lành lặn. Có lẽ có người lạ vào, cái áo vừa được mặc vội, một chiếc khuy đỏ chưa cài hở mảnh đuôi yếm cũn cỡn.

“Anh đội vào chơi. Nhà chẳng có chỗ nào ra hồn…”

Tôi ngồi xuống một mảnh vầu úp và nói:

“Tôi tên là Bối. Cả nhà cứ gọi tôi là Bối, anh Bối.”

Rồi trong bụng thoải mái yên chí chưa thăm nghèo hỏi khổ mà đã trúng phóc ngay. Tôi lại nói:

“Tôi là cán bộ đội về công tác. Ta đây là xóm Am, phải không?”

“Vâng ạ, xóm Am.”

Cô gái lại vào trong bếp lấy ra một cái bát đàn. Nhưng không có nước. Cô bối rối đứng. Bố cô rụt rè nói: “Nhà chẳng có hạt nụ vối, chẳng còn nồi chè xanh nào”. Tôi cười: “Vẫn uống nước mưa ngoài vại chứ gì. Vẽ, tôi cũng thế”. Nói rồi tôi cầm chiếc bát ở tay cô gái ra cái vại bên gốc cau có buộc cái mo cau hứng nước mưa. Tôi múc đầy bát nước, bưng vào, ừng ực làm một hơi hết tiệt. Quả là tôi đương khát se họng. Và mấy lâu nay ở với làng xóm tôi cũng quen ăn uống lôm lam, sống xít. Quả nhiên, chỉ cạn bát nước lã tôi lại cảm thấy công tác ba cùng đã đưa tôi gần gũi mọi người rồi. Đã chiều hẳn, phía bờ đầm nước, đôi chim chích choè bay rỡn nhau hót những tiếng dài ngắn gọi bạn vào hoàng hôn. Trong nhà nhoè nhoẹt xâm xẩm, chỉ còn thấy khuôn mặt cô gái trăng trắng.

Tôi đã thuộc mọi người. Bố tên là Diệc. Mẹ bị tàn tật ngồi trong vách đấy. Con gái là cô Đơm và mấy em, những thằng Vó, cái Lưới, thằng Cò… Nhà cò nhà diệc, những ao ước cầu mong hàng ngày đơm đó sông nước chỉ có vậy. Nghèo đến thế chứ nghèo sao nữa, những cái tên cũng đã khiến tôi gối đầu ngủ yên được. Chưa trông rõ hết, cũng đoán ra cái nhà tranh vách tuềnh toàng ẩm mùi rêu đất, đằng cuối sân, một chiếc hũ sứt hay cái chĩnh đội chiếc nón mê. Người đi làm đồng về được con cáy, cái tép thì ném vào cái hũ đã trộn lưng muối, vài tháng lại chắt ra làm cái mắm, thức chấm. Người ta đương tìm đây rồi. Thật cũng có may có rủi.

Tôi bắt đầu mở bài lục vấn con số:

“Nhà ta cấy bao nhiêu?”

“Chưa được hai miếng ạ.”

“Ruộng nhà a?”

“Thưa, cấy giẽ thôi.”

Tôi nghĩ sắp đặt ngay: “Bố với con, thế là nhà này đã được một rễ, một chuỗi. Bố làm trưởng thôn, con thì tổ trưởng dân quân. Hay!”. Trong nhà đã tối om. Một thằng cu vào bếp thổi đống trấu châm một que đóm. Phao đèn hoa kỳ không bóng sáng lung lay chẳng khác sợi lửa đóm. Tôi hỏi:

“Nhà chưa cơm chiều à?”

“Có… có… chưa, chưa…”

“Chưa thì cho tôi ăn với. Tôi có phiếu gạo đây. Mai cô Đơm đem lên đong gạo cửa hàng trên huyện.”

Người ta ở đâu dường như cũng đã biết lề lối đội cải cách đến thì ăn, thì ở ra sao. Những đồn thổi, những tiếu lâm, bao nhiêu chuyện buồn cười và chuyện rùng rợn về những anh đội. Năm trước, khi còn cái bốt hương dũng tề nguỵ lù lù giữa làng, thế mà những chuyện giảm tô, cải cách đã bay từ ngoài kia vào. Có người tò mò lẻn đi xem đấu địa chủ tận “hậu phương” bên kia sông. Nhiều nhà khá giả sợ xanh mắt, đã xuống Hải Phòng đi Nam. Người ở lại cũng mỗi người nói một khác, người ngóng đợi, người lo vu vơ.

“Cũng sẵn rồi nhưng cơm chẳng ra cơm đâu, mời anh đội ăn tạm.”

Cô Đơm bưng bày xuống mặt đất giữa nhà, lần lượt một nồi cơm, một cái chảo trông nhờ nhờ như muối. Đơm xới một bát cơm, gắp ra mấy cọng rau sam đặt lên bát rồi đem vào xó nhà cho mẹ ngồi bốc ăn trong ấy.

Tôi hỏi vui:

“Cơm trộn kê hay sao mà vàng ngon thế?”

“Vâng. Cám đấy ạ.”

Rồi bác Diệc nhẩn nha kể: “Cả vùng này mùa vừa rồi nhốn nháo vì người các nơi qua lại đổ xuống Hải Phòng. Các cụ đạo vào tận đây rủ người đi, chả dưới xóm Đìa có người theo đạo mà. Ai đi đâu thì đi, chỉ chết con nhà nông chúng tôi đi hay không thì cũng rối tinh lên chẳng cấy hái ra gì. Của ăn được thì còn chơi vơi ngoài đồng, không biết rồi nhặt nhạnh thế nào, bây giờ may lắm còn moi móc ra cái cám ăn cứu người”.

Hồi dự tổng kết trong Thanh rồi tôi về huyện Thiệu Hoá thực tập, ở nhà rễ, ngày hai bữa ăn toàn cám, bấy giờ được ăn cám còn phúc bảy mươi đời. Thanh Hoá đã kiệt lực, đói to. Cả một vùng các huyện trên xưa nay ỷ vào nước đập Bái Thượng chỉ quen làm một vụ lúa, không biết làm màu. Máy bay Pháp bỏ bom phá vỡ đập Bái Thượng. Người ta nói cái thằng Pháp chỉ đánh bom dấn một năm nữa thì cả tỉnh chết đói hết. Ngoài chợ tỉnh cũng bày bán trẻ con nhan nhản như bán chó. Tôi dự một cuộc đấu địa chủ. Có người rễ bị đói đã lâu quá, đứng lảo đảo, hét một tiếng rồi lăn ra chết. Những đơn vị trong Nam tập kết đóng quân dọc sông Mã. May được các chiến sĩ khu Năm đem ra kinh nghiệm và giúp dân trồng rau khoai, rau muống chống đói. Các mảnh vườn, các cánh ruộng khô nẻ được cuốc lên, đánh luống. Chỉ hơn một tháng, đã được hái lá ăn. Rau muống luộc, rau lang rau muống phơi làm lương khô và muối dưa, nấu lẫn cám nuốt tạm đợi mùa.

Tôi còn đem ra đây cái nhớ khủng khiếp về những bữa ăn cám. Có đến cả phiên, mấy phiên chợ không đi ỉa được. Mình mẩy ngứa nổi mẩn da cóc. Suốt đêm bứt rứt rôm cắn, không tài nào chợp mắt. Sợ quá, phải về bệnh viện tỉnh định xin thụt. Xuống đến chợ Rừng Thông, người ta mách ăn đu đủ xanh cũng rửa ruột được. Thế mà hiệu nghiệm có lẽ như thụt. Bây giờ cơm lẫn cám chắc ăn đỡ táo hơn dạo ấy. Cũng chưa biết thế nào, chỉ thấy từ ngày bị trận táo bón tắc ruột, bụng tôi như chắc lại, thỉnh thoảng mới phải tào tháo đuổi. Mà tối nay cũng chỉ nhấm nháp qua loa. Còn hai cái bánh đúc trong túi cơ mà.

Tôi ngồi xổm, cầm bát, định lùa luôn mấy đũa. Nhưng miếng cơm cám nguội ngắt, rắn như vôi vữa. Rồi từ từ nhai, tôi cũng tọng được hết bát rồi kiếu là đã ăn trên chợ huyện còn lửng bụng.

Một nhoáng, cả nhà đã xong bữa.

Giữa nhà, tôi và bác Diệc ngồi bên ánh đèn lom đom, mà tôi đoán nếu không có tôi, mọi người chỉ ngồi trong bóng tối. Người đàn bà què đã nằm im lẫn vào đất. Tiếng dế ti tỉ buồn như chấu cắn, như kèn đám ma.

Dần dà, tôi được biết bác Diệc năm nay bốn mươi mốt. Cả đời chỉ quanh quẩn trong làng chưa khi nào bước chân lên con đường cái Tây bên kia sông. Phải năm trời làm bệnh tả, bố mẹ chết cả. Còn trơ trụi có Diệc. Rồi bệnh đậu mùa để lại cho bác Diệc những lỗ chỗ vết rỗ hoa khắp mặt. Lăn lóc nhà này qua nhà khác. Diệc không thể nhớ được thuở tấm bé đứa trẻ chỉ biết gào khóc đòi ăn thì thế nào, nhưng đến khi biết đi biết chạy, cũng là lúc làm quen với cái thừng con trâu, cái liềm cắt cỏ, chiếc đòn gánh quảy nước rồi chẳng bao lâu đã thông thạo mọi việc đồng áng. Những trận đi làm thuê bị đòn đánh và cái đói, cái khổ nhục tháng ngày, làm sao nhớ được bao nhiêu khiêng. Tôi còn muốn hỏi Diệc lấy vợ bao giờ, tại sao vợ lại ốm đau thế. Nhưng chưa biết lựa lời thế nào.

Bác Diệc nói:

“Anh đội đi cả ngày, nhọc rồi. Đi ngủ thôi.”

Quả là hai mắt tôi đã cứng đơ. Tai nghe câu chẳng câu chuộc. Chốc chốc, ngật cổ một cái, lại choàng tỉnh.

“Ừ, ừ…”

“Anh đội nằm ở cái chõng kia. Chõng vẫn bỏ không, thỉnh thoảng mới đem ra ngồi hóng mát ngoài sân. Cả nhà tôi nằm đất đã quen, mùa rét thì lót lá chuối khô, ấm lắm.”

Cũng chẳng phải đợi chủ nhà giục lần nữa, tôi nói: “Tắt đèn nhé” – đốm đèn tắt phụt. Tôi ngả lưng xuống chõng, gối đầu lên ba lô. Thèm ngủ thế, nhưng vẫn nhớ trong túi dết có gói bánh đúc. Cái mảnh lá chuối rơi tuột đâu đấy, tôi ngoạm như nuốt chửng vừa hết bay hai cái bánh ngô thì cũng thiếp đi luôn.

Hôm sau, tôi thức dậy, trong nhà im phăng phắc. Cái chống liếp cửa trước đã được dựng lên từ bao giờ. Cả trong gian nhà cũng sáng bạch. Sau cái cột tre, người đàn bà ngồi yên thế như từ hôm qua tới giờ – hai bàn tay ếch đặt lên hai mảnh gỗ. Con mắt ngước trắng dã như miếng mảnh sành.

Tôi hỏi:

“Cả nhà đi làm rồi a?”

Cái bóng rũ rượi im lìm. Người tàn tật này có lẽ còn mắc các chứng câm điếc và thong manh nữa. Tôi xếp cái ba lô vào góc chõng rồi bước ra cổng. Đường xóm buổi sáng không đến nỗi vắng tanh như chiều hôm qua. Ngoài đồng, lúi húi người cào cỏ. Đuôi lúa con gái ngậm đòng rập rờn phe phảy mơn man trong làn gió nhẹ như sắp trông thấy hạt thóc mẩy về đuổi đi bát cám trộn. Một đám trẻ con trần truồng mình mẩy lấm như trâu đằm đứng rụi mắt nhìn tôi lững thững qua.

Vào liền mấy nhà đều im ắng như nhà hoang. Tôi đã biết một làng bình thường chẳng mấy khi có người ở nhà buổi sáng. Ai cũng còn đi moi móc đào bới, đơm đó lấy cái ăn. Nhất là các xóm trong ngoài luỹ tre phờ phạc, bên những chân tre còn sót lại, trồi ra những mái rạ như cây rơm, như chuồng trâu khác các chòm nhà giữa làng. Những nhà có máu mặt tụ hội ở xóm trong, xóm giữa, dần dà mới thêm ra xóm trẽ, xóm đồng, xóm bãi. Ngày trước hẳn đây là cổng đồng rồi người trong làng nhà đông san ra ở, người bơ vơ ở đâu tới ngụ cư lập nên xóm đuôi xóm trại. Xóm này chắc cũng mới thành nơi ăn chốn ở vài mươi năm nay, nhiều chỗ nền nhà chưa hoàn thổ, đất tảng mốc rêu. Những vườn xoan cây chỉ nhỉnh cao bằng sào nứa.

Tôi lại qua bụi cây duối rậm rịt buông xuống những nạm dây tơ hồng vàng rượi. Cái thằng quần xắn móng lợn vẫn như hôm qua. Chòm râu quai nón lủa tủa. Như nó vẫn đứng đấy rình tôi.

“Chào anh đội, đêm qua anh đội đã bắt được rễ, yên chí rồi thì hôm nay vào nhà em được chứ? Anh xâu chuỗi em đi. Đố anh tìm được thằng chuỗi nào hơn em. Hôm qua mà anh vào nhà em thì em đã được là rễ rồi, rễ cái chứ chẳng chơi, nói thật đấy.”

Tôi lặng lẽ theo hắn. Không để tâm những câu nói lẩn thẩn, lảm nhảm. Không phải nó say rượu, cũng không phải nó dở người, vẻ nó táo tợn nhưng nói khôn như người ta. Có thể nghe nó mà biết tình hình, mà kiểm tra, được việc cũng nên. Nhà này còn tồi tàn hơn nhà Diệc. Ba phía vách tuông ra, huếch hoác, lá khoai non xanh mát mắt phủ kín, dây bìm leo chằng chịt lên cả cột nhà như cái cọc tre. Một người đàn bà lúi húi trong bếp đương sàng sảy cái gì không biết. Tiếng lạt xạt khe khẽ như gà con bới đống dấm ủ bếp.

“Anh ngồi xuống. Nhà tôi ngồi chỗ nào cũng như nhau. Tôi là tiên chỉ cái làng này, tiên chỉ bần cố ấy chứ chẳng vừa đâu. Nhưng mà tôi không kể khổ với anh. Tôi chán ngấy cái khổ, cái kể khổ rồi. Tôi nói với đội việc khác.

“Lúc kháng chiến ấy mà. ở trong này tôi là du kích tập trung huyện. Tôi không báo công đâu, công tôi thì không đếm xuể, mà công bao nhiêu cũng hoá công cốc rồi. Tôi chỉ kể những chuyện ai oán thân tôi. Đêm ấy thình lình tôi lẻn về cái nhà này. Tôi nhòm liếp, đèn còn sáng, thằng xếp bốt hương dũng đương nằm với vợ tôi đúng chỗ cái cột này. Con vợ tôi kia, cái đứa làm chứng sống còn đấy. Tôi xông vào. Cũng ghê lắm. Thằng xếp bốt cứ trần truồng lăn xả vào tôi. Tôi mà không ghì lại nổi, nó chỉ lùi được mấy bước quơ được súng thì tôi ăn băng đạn tôi chết toi rồi. Nhưng tôi cũng bị nó quật mấy hòn gạch tưởng vỡ đầu. Bây giờ phải khi giở giời đầu tôi cứ buốt từ óc xuống xương sống. Thằng bệnh viện huyện bảo tôi đứt mất một dây thần kinh. Thì điên à? Đứa nào bảo ông điên? Ông điên mà ông nhớ được chuyện cổ tích a, nhớ được công lao kháng chiến của ông a?”

Người đàn bà trong bếp nghe láng máng tiếng người trên nhà cũng thò đầu lên như hóng chuyện. Cái mặt mụ nhăn nheo xém ngoét, miệng há hốc trơ ra lợi hàm dưới đỏ hỏn, đã mất hết răng. Như là nghe nói ai ở đâu chứ không phải chuyện về cái thằng xếp bốt năm ấy ngủ với mụ ta. Dáng ngơ ngơ, mụ ấy mới lẩn thẩn.

“Bấy giờ tôi khoẻ như ông hùm ấy chứ. Tôi lôi thằng dê xồm ra chỗ gốc duối kia. Tôi hoa mã tấu lên. Cái đầu nó nhảy nhốp nhốp dưới đất như con cóc phun nước. Tôi xách cái đầu lâu nó về huyện đội. ấy thế mà rồi sau tôi xin huân chương, chúng nó bảo tôi báo thù thằng ngủ với vợ chứ không phải là thành tích. Báo thù thì tao phải beng cổ cả vợ tao chứ, có phải không mẹ mày?”.

Người đàn bà quay mặt vào, không ừ hữ một câu. Lại nghe tiếng sảy hạt tấm hay mày ngô rào rào như mưa thưa. “Anh đội tính cho tôi thế nào? Công tôi to chứ, phải không?”

Tôi ậm ừ.

“Được rồi.”

“Ối, anh đã bảo được đấy nhé. Làm giấy cam đoan đi rồi cho tôi làm trưởng thôn, phế thằng tư Nhỡ đi. Tôi sẽ vạch cho đội lôi ra hàng đàn địa chủ. Cứ tính đứa nào có ruộng thì ghi tên nó là thằng địa, nhiều ít mặc kệ, có ruộng có đất chẳng là thằng địa thì là con hùm ăn thịt người à, có phải không anh đội?”

“Được, để đội xét.”

“Cái gì cũng bảo để xét, trên huyện cũng nói để xét, rồi mất hút con mẹ hàng lươn. Để xét thì ăn mẹ gì! Thôi, mời anh cút, cút đi.”

“Nóng tính thế. Tên là gì?”

“Anh là Tây đồn hỏi lục vấn tao để bắt bỏ tù à?”

“Không phải. Tây nó về nước Tây rồi, đội hỏi để biết.”

“Thế thì báo cáo đội tôi là bần cố, tên tôi là bần cố Vách. Cả hàng huyện này ai cũng biết Vách đồ tể. Ngày trước mổ Tây, bây giờ mổ lợn. Hôm nào được con lợn có lòng ngon anh đội đến đánh chén sớm nhé. Không, không được. Đội đương còn phải ăn cháo cám với dân kia mà. Cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm. Cùng hai thứ thôi chứ, đừng cùng ngủ với con cái Đơm nhé. Khớ! Khớ!”

Vách rụt cổ cười rũ rĩ. Về nhà, tôi hỏi bác Diệc:

“Cái thằng Vách ấy là thế nào?”

“Trước kia nó là du kích huyện, Tây bắt được, bị đem rập đầu vào tường một ngày rồi sau đâm ra lẩn thẩn. Nhưng nó mổ lợn thuê khéo lại nhanh mà cũng lắm lúc nói khôn đáo để.”

Có hôm tôi hỏi thì cô Đơm lại nói khác:

“Chú Vách đi du kích thoát ly, nửa đêm về bắt được ông xếp bốt hương Dũng nằm với thím ấy, chú ấy dong xếp bốt ra đem trôi sông, từ đấy bị cái ma oán đâm ra dở người.”

Buổi trưa, Đơm đi đâu chưa về. Ban ngày tôi mới trông rõ bát cơm màu vàng cám, lổ đổ vài hạt gạo còn sống nhăn. Tôi lại sợ tắc ruột, chỉ và nhếu nháo mấy miếng rồi ra ngoài vại chiêu bát nước lã. Tôi bảo bác Diệc:

“Sáng nay làm gì?”

“Chẳng làm gì cả.”

“Mai có đi làm rủ tôi với.”

“Tôi đi cả buổi, nhưng anh… anh ở nhà…”

“Tại sao, đi cả buổi mà?”

“Đi đào lỗ rắn thôi, anh không làm được, không, anh không được làm. Mùa này rắn bắt đầu vào ngủ hang. Đi bắt vài con về làm thức ăn.”

Cái đòi đi cùng làm của tôi chết ngấm. Bắt rắn! Tôi sợ rợn gai người. Tôi im lặng không nói gì nữa. Bác Diệc cười gượng, rồi chép miệng:

“Nhà có khách mà chẳng có gì ăn. Thằng bé đi câu ếch ngoài ruộng cũng về không. Mai ba bố con đi bắt rắn, bắt chuột. Cũng là còn sớm chưa có hạt lúa chưa chắc chuột nhà đã ra ở đồng. Nhưng mà trông anh…”

Không thấy rủ tôi đi bắt chuột, tôi nhẹ người. Tôi hỏi:

“Đồng áng thế nào mà hết rắn lại chuột…”

“Tháng ba ngày tám, chỉ còn ngồi trông ngọn lúa. Thỉnh thoảng cào cỏ. Nhà tôi có mỗi miếng ruộng, quơ nửa buổi đã sạch trơn. Chẳng đào đâu ra việc cả.”

Bác Diệc lại hoe hoe cười như không:

“Trông anh nhai cám tôi ái ngại lắm.”

Tôi ngượng, kiến bò rần rần trên mặt.

“Tạng tôi cơm nước thế nào cũng đểnh đoảng vậy thôi.”

“Hay là mai đi với tôi. Anh đứng trông rọ thôi. Tôi đã thấy một hang đất đùn, không phải vết lườn bụng rắn, chân chuột nhìn rõ ghê.”

Tôi chối khéo:

“Sáng mai tôi phải lên hội ý đội.”

Rồi tránh quanh quẩn rắn với chuột, tôi sang việc khác:

“Nhà nào có bát ăn nhất thôn này?”

“Nhà trưởng thôn tư Nhỡ.”

“Chỗ nào?”

“Bên kia cái ao có mấy cây dừa.”

Tôi toan giở ngón lười, vặn vẹo thêm bác Diệc mấy câu nữa để lấy con số. Nhưng lại nghĩ: Bước một của ta thế là thắng lợi trông thấy rồi, mai đi báo cáo thì ta nhất đội chứ ai. Nhưng cứ điều tra tình hình tường tận mọi mặt rộng ra, chẳng mất gì. Mấy lỵ chịu khó bây giờ, bước hai sẽ được thong thả.

Nghĩ thế, tôi đi đến nhà trưởng thôn tư Nhỡ. Diệc đứng dậy, nói: “Anh đừng…” rồi không nói thêm.

Tôi cũng chẳng để ý, bước ra ngõ.

Những cây dừa xanh om bên kia ao tôi đã trông thấy từ chiều hôm trước, nhưng không biết đằng sau vườn dừa còn có nhà. Vào quá mép bờ nước, trước mặt trải ra một con đường lát ba hàng gạch nghiêng, đi phía ngoài không nhìn thấy. Hai bờ giậu, hàng dâu xanh mướt. Những cây dừa lửa mùa này lúc lỉu chùm quả vàng xẫm. Trong kia, như trổ vào giữa luỹ tre, một chiếc cổng tán buông kín khít giữa hai cột tre đực, trên nóc cổng tán lòng vòng mấy hàng chông dây thép gai. Cái cổng ngõ chống cướp chống càn của thời nhiễu nhương vừa qua. Bên trong, ẩn một ngôi nhà ngói mái phủ trĩu rêu xanh xẫm, hai đầu mái nhô đầu chuôi vồ ngất nghểu.

Đàn chó xông ra sủa râm ran. Nhưng không phải chó dữ, chỉ là mấy con chó giữ nhà đánh tiếng. Một ông lão áo cánh năm thân nhuộm vỏ dà, bộ râu dài đen mướt như tóc buông. Hai con mắt còn nhưng nháu thế kia, tôi đoán không thể lão đã lên ngôi cụ mà lão chỉ là người chơi nuôi râu. Ông ta cúi, rút chốt nhấc cổng tán, suỵt đuổi những con vện, con vá lốc nhốc chạy quay vào dưới nhà ngang.

“Mời anh đội vào chơi.”

Trên một bên cánh cửa treo tấm gỗ mộc ở giữa sơn đen một dòng chữ to: Hutte cent ans [2] . Tôi đánh vần bập bõm, nhưng không biết nghĩa. Trong nhà, đúng kiểu cách nếp nhà phong lưu đồng quê, phản gỗ mít, giường thờ hương án sơn then, đôi giải y môn màu hoa hiên đã úa.

Chủ và khách ngồi bên chiếc tràng kỷ mây đan, giữa bàn đặt một bát điếu mộc và cái ấm rỏ. Chủ rót mời chén tống nước chè nụ âm ấm.

“Bác là bác tư Nhỡ trưởng thôn?”

“Thưa, tôi là tư Nhỡ. Còn trưởng thôn thì tuỳ đội bây giờ thương để cho thì được.”

“Nhà ta đi vắng cả?”

“Mẹ nó, với các cháu lên chợ huyện. Chả ngoài vườn có buồng chuối, buồng cau đem bán, nhân thể mua mắm muối. ấy làng xa chợ vất vả thế, mỗi việc đi mất cả buổi. Thế anh đội về ở nhà ai?”

“Nhà bác Diệc.”

“À, nhà Diệc…”

“Nhà ta năm nay…”

“Cảm ơn anh thăm nghèo hỏi khổ. Tôi xin kể sự tích tôi về cái xóm Am này cho anh nghe. Năm trước, tôi học trên huyện. Thời Tây, trên huyện mới có trường mà. Rồi bố mẹ tôi mất cả. Tôi phải bỏ học về trông nom cửa nhà. Nhà tôi độc đinh, tôi là con một. Ruộng nương có một ít, lại xâm canh bên kia sông.”

“Sao con cả lại là tư?”

Tư Nhỡ vuốt râu, cười:

“Ấy, tư là tư văn. Mua cái tư văn, được ra văn chỉ điếu đóm các cụ, khỏi bị xách nhiễu phu phen tạp dịch.”

“Bao nhiêu tuổi thì được vào tư văn?”

“Không lệ tuổi, chỉ biện mâm xôi con gà với khoản tiền khoán. Tôi năm nay ngoài ba mươi.”

“Ba mươi bao nhiêu?”

“Ba mươi tư ạ.”

“Thế mà để râu dài đến rốn!”

“Ấy bộ râu cũng có sự tích bộ râu ạ. Quê chúng tôi gọi râu này là râu chống càn. Chả là mỗi lần Tây các bốt quanh vùng kéo qua đây, khi lấy phu vác đạn, khuân đồ, khi bắt lính, bắt người đẩy ra đường 5 đi trước hứng mìn. Râu tôi dài thế này, già nua thế này, tôi lại chỉ lên biển có hàng chữ Tây “Cái lều một trăm năm” kia, thế là chúng nó cười hố hố, xuống lục trứng chuồng gà, ra vườn đẵn chuối, lấy đu đủ rồi cút. Lần nào tôi cũng thoát, anh ạ.”

“Bây giờ thì cắt râu được rồi.”

“Dạ.”

Tôi ngồi một lúc, không còn gì hỏi nữa, đứng dậy. Tính nhẩm đã vào các nhà trong xóm, mấy người… mấy người… Tối nay họp rễ chuỗi, chiều mai ra sân đền họp đội. Nhất định mình bơi loại một, thoạt đầu đã trúng rễ, lại chuỗi, mấy chuỗi. Có thể cả tư Nhỡ, ruộng vài ba miếng, lại xâm canh đồng làng khác thì chưa phải địa, phú mà lại có tinh thần chống càn. Nhưng mà trưởng thôn, lúc nãy quên mất chưa tuyên bố cắt chức trưởng thôn Tư Nhỡ, vì tổ chức cũ phải giải tán, có cử lại anh ta thì cũng là tổ chức mới. Sắp sẵn người khác, hay là Vách, Vách khùng có được không, còn Đơm thì đội du kích rồi… Trông Đơm lam lũ, rách rưới, nhưng cái vai, cái lưng mây mẩy và hai con mắt thì ngon như củ khoai lùi ăn được. Chạnh lòng nhớ cái câu trắng trợn của thằng Vách nói “ba cùng nhưng không được cùng ngủ với con Đơm”. Là đùa, cũng là thật, thằng khùng mà ma xó.

Về đến nhà bác Diệc. Cũng như chiều hôm trước Đơm đương lúi húi trong bếp. ở góc buồng ngoài, hai con mắt trắng rợn của người tàn tật nhìn lên. Đơm ra rút rạ.

“Anh đã về.”

“Trưa nay Đơm đi đâu?”

“Em xuống chợ mua cái này.”

“Chợ huyện à?”

Đơm không trả lời mà lấy trong yếm ngực ra giơ lên một gói lá chuối. Mảnh lá chuối cong cong, thò hai chiếc bánh đúc ngô vàng hây, cả miếng cháy ở giữa đen giòn. Đơm đưa bánh cho tôi.

“Ô hay, sao thế này?”

“Em thấy anh thích ăn bánh ngô.”

“Sao em biết?”

“Em nhặt cái lá ở gầm chõng, còn dính bánh…”

Chết tôi rồi. Đơm cười, nét mặt cô gái dậy thì xanh xao bỗng đỏ hồng, xinh hẳn. Có lẽ cô cười cái mặt nhăn nhó, méo mó khó hiểu của tôi. Nhưng tôi cầm ngay cái gói bánh. Vừa thấy cái bánh, cơn đói đã bồn chồn lên rồi. Tôi chẳng ngại. Năm ngoái ở Quảng Xương, ở Thiệu Hoá, ở Nông Cống, không ở đâu tôi chịu đói. Tôi vẫn ăn vụng. Mỗi hôm đi họp đội, tôi lại tạt vào chợ, vào quán, mua kẹo, bánh đa ướt, có khi lùa vội bát bánh đúc chan canh cua. Chỉ cốt trông trước trông sau, không để ai nhìn thấy thôi. Mà biết đâu, suy bụng ta ra bụng người, có lẽ cả đội cũng thế, cũng ăn vụng.

Tôi bỏ gói bánh vào cái túi đeo vai. Nhưng tôi vẫn nắm tay Đơm. Trong mảnh áo rách vai, cái chân vú nần nẫn. “Em ngoan quá”. Tôi lấy trong khe quyển sổ ghi chép ra hai tờ giấy bạc một đồng kẹp trong đấy.

“Cầm lấy, thỉnh thoảng mua bánh đúc cho anh. Đừng để ai trông thấy nhá. Anh đương phải ba cùng.”

“Em biết rồi.”

Đơm cầm tiền, đút vào mép yếm.

“Em có cái túi hay nhỉ?”

Tôi thò theo lách vào ngực Đơm.

Đơm đẩy tay tôi ra.

“Rõ cái anh!”

“Anh xem cái chỗ để tiền.”

“Ngoài này kia mà, lại đi sờ vào trong.”

“Anh nhầm.”

Tôi lại thọc vào ngực Đơm như vừa rồi. Lần này Đơm đứng tây ngây, mặt đỏ lịm, để yên cho tay tôi vân vê.

Chập tối, tôi nói với bác Diệc: “Đi bảo cậu Vách xem còn người nào trong xóm cũng nghèo như cậu ấy thì rủ vào đây tối nay họp rễ chuỗi”. Một lúc, mấy người lục tục đến, cả Đơm cũng được họp, mỗi người tìm cái cột ngồi tựa vào. Im lặng, chờ tôi nói. Tối mít chẳng ai nhìn thấy mặt ai. Đến lúc bác Diệc thấy tôi mở quyển sổ túi xách mới vào bếp cầm ra cái đèn đom đóm như đêm trước.

Một bóng người cao lớn lù lù vào cửa. ánh đèn vừa loé thấy tư Nhỡ. Vẫn tấm áo năm thân lụng thụng, nhưng bộ râu ria đã cạo nhẵn, mặt trơ khấc, lơ láo trông khác hẳn.

“Chào các đồng chí!”

Vách đứng bật ngay lên, sừng sộ.

“Ai đồng chí đồng chuột với mày! Mày là thằng trưởng thôn của đế quốc, ai bảo thằng tổ chức cũ đến đây. Anh đội cho thằng này họp với chúng tôi à?”

Tôi bước ra, nói nhỏ với tư Nhỡ:

“Hôm nay chưa họp xóm, tối mai.”

Tư Nhỡ tiu nghỉu quay ra, mất hút ngay vào bóng tối.

Vách còn đay đi đay lại hỏi người nào gọi thằng tư Nhỡ đi họp rễ chuỗi. Ai cũng im thít, không ai nói và cũng bởi vì không ai biết. Chỉ tại tôi, lúc chiều ở nhà tư Nhỡ ra, tư Nhỡ theo, nằn nì: “Tối nay họp à? – Không hiểu sao, tư Nhỡ đã biết. Anh cho đàn em họp với”. Tôi cũng ừ ào, thế là nó cạo râu, đến.

Tôi mở sổ tay, mặc dầu ánh đèn không thể nhìn ra chữ, tôi cúi xuống làm như nhìn giấy rồi ngẩng lên nói một thôi, một hồi: … phóng tay phát động… giai cấp nông dân đánh đổ giai cấp địa chủ… Tối mai họp xóm tôi công bố… tôi chỉ định đồng chí Diệc ra làm trưởng thôn xóm Am…

Vách hỏi:

“Thay thằng tư Nhỡ à?”

“Giai cấp nông dân ta từ nay làm chủ.”

Một mình Vách vỗ tay.

“Thế thì được.”

Tôi tuyên bố giải tán cuộc họp.

Vách sửng sốt lại hỏi:

“Còn cụng đầu tố khổ kia mà.”

Tôi gạt đi.

“Vừa rồi thế cũng là tố khổ. Chúng ta làm việc phải hết sức khẩn trương.”

Tôi nói và đứng dậy. Phải, họp cũng là tố khổ chứ còn gì. Cái thằng Vách nửa điên nửa tỉnh này có thể rầy rà đây. Mọi người về rồi, tôi lại nằm trên cái chõng. Tôi lần túi lấy hai chiếc bánh đúc ngô của Đơm, ăn xong chỉ kịp nhớ quờ tay bỏ mảnh lá chuối vào túi dết rồi ngáy khò khò.

Sáng hôm sau, bố con bác Diệc đã biến đi từ bao giờ. Không biết Đơm đi đào chuột với bố hay lại lên chợ huyện mua bánh đúc. Bác Diệc không rủ tôi như hôm qua nói. Và bác tưởng tôi phải đi họp. Thôi thế cũng may, bắt chuột cũng khiếp như bắt rắn, những cái nợ đời gớm ghiếc ấy. Mà tôi biết bụng người ta chẳng ai dám thật lòng rủ đi làm. Anh đội bảo thì phải rủ thôi. ở Nông Cống, tôi cũng vác cuốc ra đồng, rồi quảy đất đắp đê, sưng tấy cả bên bả vai. Thấy tôi lớ ngớ ngứa cả mắt, lại đau vai, hôm sau anh rễ xin tôi cứ ở nhà nghiên cứu tài liệu, trông đỡ trẻ con và quét nhà. Thì ở đây cũng thế.

Tôi mở sổ tay ra, kê lên ba lô. Người mẹ ốm như cái cọc bếp, có cũng bằng không, tôi chẳng để ý đến. Thực tôi cũng không có việc phải nghiền ngẫm sổ tay. Tôi ngồi rình xem Đơm có về. Tôi nhớ cái vú nây nây. Con mèo đợi vồ chuột. Đêm ngủ say quá chứ thèm từ chiều hôm qua. Khác nào thỉnh thoảng được cái bánh đúc, nuốt hết rồi mà môi mép vẫn tóp tép. Nhưng không thấy Đơm về.

Đến gần trưa, bác Diệc lùi lũi vào cổng. Những vết bùn xám xì lấm lên tận mặt. Không được con rắn con chuột nào. Chuột làng mới chỉ đánh hơi tìm hang mà chưa ra đồng ở. Về qua cái vũng trâu đầm, be lên, bắt được mấy con tép. Mọi khi thì ném vào cái chĩnh làm nước cáy. Nhưng nhà có khách, đem nướng cho bữa có mùi thịt cá. Không thấy Đơm cùng về. Đơm đi đâu? Hay bởi nồi cơm cám nuốt khé cổ buồn như chấu, chỉ có người mẹ không lạch đi được đành ngồi nhai nghẹn từng miếng. Chứ ai kiếm được cái ăn chỗ nào cứ việc đi, chẳng cần bữa ở nhà. Vắng cả những thằng cu con. Tôi với bác Diệc ngồi ăn bát cám có mùi gạo tấm, mùi tanh con tép, cũng dễ nuốt, hơi khác mọi khi.

Ngủ trưa dậy bác Diệc đã lại đi rồi. Tôi vào góc bếp, cầm một cái cào cỏ. Tôi vác cào lên, một bên vai đeo túi dết. Cả xóm biết anh đội đóng bộ đi làm đồng đấy. Ai chả biết anh đội làm trò, tôi mặc họ và thản nhiên. Tôi xắn quần, đi từ xứ đồng cao trong chân tre ra con ngòi sâu rồi lại lội qua mấy khoảnh ruộng trũng. Đương khi nông nhàn, đồng áng lơ thơ xa xa mấy người lúi húi cào cỏ. Thấy người lội đồng đội mũ, quần xoe trên gối, người ta ngẩng lên rồi lại cúi xuống quờ tay quanh gốc lúa. Anh đội, anh đội thăm đồng đấy mà.

Tôi có thăm hỏi đồng áng gì đâu. Đi guốc vào bụng những anh đội mắt trố như mắt chó giấy, cái gì cũng lạ lại làm vẻ ta đã thạo. Nhưng tôi còn láu cá hơn cả những người có thể biết tôi vờ vẫn. Tôi cốt vác cào cỏ, sục mấy cái cho răng cào dính bùn và hai ống quần thì lấm tấm cỏ may. Tôi ra cửa đền ngoài chân đê hội ý đội. Làm bộ như tôi đi làm đồng về chưa kịp rửa ráy, vác cả cào cỏ đến thẳng chỗ họp.

Tôi bước lên đường cái. Có người trong xóm chạy ra hớt hải gọi:

“Anh đội! Anh đội!”

Tôi quay nhìn. Lại thằng Vách. Tay Vách lăm lăm con dao bầu sáng loáng. Tôi chợt hoảng. Thằng này nổi cơn điên hay sao. Nhưng nhớ ra cái nghề mổ lợn của Vách, tôi bình tĩnh lại.

“Gì thế?”

“Tôi bảo anh đội hai câu này nhé, hai câu thôi. Có nghe tôi mới nói.”

“Nói đi.”

“Tối hôm qua anh không cho tôi tố thằng tư Nhỡ, tối nay họp xóm tôi tố nó. Anh bảo phóng tay kia mà…”

“Còn câu thứ hai, nói nốt đi. Đương vội đây.”

“Anh ra đền họp bí mật với đội chứ vội quái gì.”

Rồi Vách cười khạch khạch, giơ dao:

“Này tôi mách anh: cái thằng Diệc làm rễ của anh là rễ thối đấy. Con cái nhà địa, anh biết chưa?”

Tôi đứng nhìn Vách, không biết nó lỡm hay thực.

“Tôi chỉ nói thế. Anh đi hỏi cả làng này xem.”

Rồi Vách múa con dao quăng quả đi. Tôi có cảm tưởng câu nói của nó vừa rồi có lẽ là tỉnh, bây giờ hoa dao lên mới là điên. Tôi lặng một giây, rồi lại tiếp tục đi. Cũng chưa nghĩ ra thế nào.

Tưởng đến sớm, hoá ra đội trưởng Cự và mấy anh đội bần cố ở xã lên chưa có tiền sắm đồng hồ thế mà đã đúng giờ ngồi trong đền. Hai anh đội này sợ Cự một phép, việc gì nặng nhọc cũng xung phong. Cả cán bộ Đình ở xóm bên cũng đã đến. Lại ngỡ chỉ một mình mình cầm cái cào cỏ có vết bùn. Không, xem ra người nào cũng khoe ngầm ta vừa chân ướt chân ráo ở nơi bán lưng cho trời bán mặt cho đất về đây. Người thì cái giỏ đeo đít; người cái cuốc trên vai hạ xuống; có người quang gánh lõng thõng để ngoài thềm, cái thừng và chiếc nõ xỏ mũi trâu lăn lóc trong đám cỏ làm như đương đi đuổi trâu. Nhưng ai ấy có khôn mà chẳng ngoan. Sợi thừng gác bếp còn rơi ra cả tảng bồ hóng. Biết tẩy nhau cả. Mọi người nhìn nhau chỉ nhác một cái và lặng lẽ quay mặt đi.

Trong chân tường, chuột đùn lên từng đống đất. ồ, mai ta bảo bác Diệc ra đây mà hun chuột. Tôi chưa biết mùi thịt chuột thế nào, nhưng đã lâu chẳng được miếng thịt vào miệng, đã nghĩ thèm, thịt nào chẳng là thịt. Mọi người tới đông đủ. Chúng tôi như một bọn lén lút cờ gian bạc lận, kéo ra đây đánh xóc đĩa lột nhau giữa nơi hoang phế đồng không mông quạnh. Hoặc như ngày xưa, cánh cướp tụ bạ một chỗ đợi đêm tới bật hồng lên xông vào làng. Vẻ mặt người nào cũng ra chiều đăm chiêu, quan trọng. Chúng tôi đương làm thay đổi cái làng này, xã này. Cả nước đã đứng lên. Các tổ chức sẽ bị đánh đổ, bao nhiêu địa chủ và bọn bóc lột phải đạp xuống đất đen, chúng tôi phóng tay đưa bần cố nông lên vị trí và địa vị người chủ thực sự của đồng ruộng. Tôi đương làm thế, tôi đã làm thế, tôi đương làm từng ngày, từng ngày theo kế hoạch…

Tôi nhấc túi trên vai xuống, kê cái cào, ngồi. Tự nhiên, tôi liếc nhanh cái ba lô đội trưởng xem có lá bánh lòi ra không. Gớm thế, cái đuôi mắt có ve của Đình đã nháy tôi một cái. Không biết thằng thâm thiểm này định ra hiệu thế nào. Có lẽ cũng chỉ thông báo: không có gì trộm được của đứa ăn vụng khác đâu.

Tôi mở sổ tay ra nhẩm việc. Đã bắt được rễ, rễ cái chắc chắn. Đã họp rễ chuỗi. Chắc là cái thằng chuỗi điên dèm pha bác Diệc thôi. Ta phải quyết chứ. Tối mai họp xóm, giúp cho Diệc đứng vị trí vai trưởng thôn. Nguyên tắc: làm kỹ nhưng không được làm thay. Các bước sau còn dồn dập, còn nhiều cái khó. Đã nắm được tình hình xóm và tổ chức cũ. Cứ báo cáo cách ăn nói của Vách và cuộc thăm dò nhà tư Nhỡ, đi sau đi sát đến thế chứ thế nào. Có ba hôm làm những ngần ấy việc.

Nhưng tôi vẫn còn lờ ngờ. Ai cũng trình bày sôi sùng sục. Chưa đến lượt tôi, nhưng thoáng so sánh, việc mình làm đâm ra chỉ bằng con muỗi mắt. Họ giỏi thế thật hay sao? Đội trưởng Cự đứng băm cả hai bàn tay, mắt đỏ đòng đọc. Lợi dụng lúc ấy, tôi đá ngầm cái đít túi dết. Quả là chỉ vấp cái mép bìa sổ cứng.

“… Liền hai đêm đội họp rễ chuỗi. Cụng đầu tố khổ luôn, bộc lộ tức khắc tình hình. Tinh thần nông dân lên, chặn đứng mọi thủ đoạn âm mưu địa chủ. Đêm qua họp xóm tố khổ suốt sáng. Phải cản lại chứ nhiều người cầm dao vừa chạy vừa khóc đi tìm địa chủ (Tôi nghĩ bụng: – ờ mình đụt thật. Tưởng chưa đến bước ấy. Không sao. Sẽ báo cáo đã tố khổ suốt đêm, suốt hai đêm). Đến sáng, tất cả đầm đìa nước mắt. Tôi cũng khóc. Cái khổ như núi đè xuống, phải cứu giai cấp nông dân. Không đợi họp xóm, chưa đưa rễ lên làm trưởng thôn mới, cứ tập thể rễ chuỗi là trụ cột rồi. Tôi đã xin được lệnh đoàn uỷ cho bắt bí thư chi bộ xã, thằng bí thư hai mang. Hai tên khác có nhiều hối cải nên cho canh gác khống chế tại nhà. Xóm nào cũng phải phòng đưa nhân sự lên. Lấn bước sau, để có thì giờ dự trữ làm kỹ. Thế là đội ta đã chiếm lĩnh trận địa, dựng được một đầu cầu vững chắc ở thôn Đìa. Các xóm khác cho biết tình hình thế nào?”

Đình còn hăng hơn đội trưởng:

“Tôi đến đây họp thì ở nhà rễ chuỗi còn đương cụng đầu tố khổ, quên cả cơm trưa. Trưởng thôn cũ nghe mong manh đã chạy trốn, tôi cho đuổi tóm được giải về cũi vào chuồng trâu rồi.”

Lúc đội trưởng Cự bắt bí thư và cho du kích canh gác nhà địa thì tôi câm như hến. Nhưng nghe cán bộ Đình nói thế tôi đứng phắt lên:

“Phải có biên bản, tôi ký đề nghị bắt đã chứ. Tôi đội phó phụ trách toà án. Phóng tay, nhưng đúng pháp luật mới được.”

Đội trưởng Cự nói như quát:

“Đồng chí Bối phát biểu đúng.”

Tôi phổng mũi nhưng lại xẹp mũi liên tiếp, khi đội trưởng vẫn nói:

“Song không thể lề mề, lối bàn giấy như đồng chí Bối, thế thì xổng bu, xổng chuồng, chúng nó chạy ráo. Cứ như đồng chí Đình, đến khi bắt đầu bước hai, đội đặt văn phòng cố định bấy giờ bày biện giấy tờ ra cũng vừa. Bây giờ cứ miệng nói tay làm, nhanh nhanh lên, nhanh lên.”

Tôi chưa định thần thì đội trưởng trỏ tay, đến lượt tôi báo cáo. Đã nghe mấy thôn rồi, tôi biết cách thêm chi tiết dấm ớt, hơn hẳn những tính đếm dự định lúc mới đến. Riêng việc thằng Vách đón đường mách Diệc có liên quan địa chủ thì tôi giấu. Nói ra chỉ rắc rối, mà còn phải kiểm tra đã. Báo cáo tình hình thôn Am…

“Không được thì thào chuyện riêng. Nghe thôn Am…”

Tôi thao thao dõng dạc, mạch lạc, tự tin, như thật. Không dữ dội bắt bớ, nhưng đúng phăm phắp bài bản ba hôm đầu tiên xuống xã.

“Các đồng chí góp ý kiến với thôn Am nào. Mau lên, tối nay còn họp xóm cho kịp lịch công tác.”

Bên kia đê, mặt trời đã xuống vàng khé. Bỗng nhiên đội trưởng Cự choảng tôi chan chát:

“Đồng chí Bối bắt ngay được rễ, lại xâu chuỗi, cụng đầu tố khổ rồi nắm tình hình xóm và đi xem xét đồng ruộng, thế là ưu điểm. Nhưng mà ưu điểm ấy chỉ để thằng biết võ đánh nhau với thằng biết võ. Kẻ thù không cần như thế, đồng chí còn đương múa may ra võ, nó đã thò tay bóp dái đồng chí ngã lăn đùng ra rồi. Nó phá ngay trước mặt mà đồng chí không biết gì cả. Cái thằng khiêu khích, thằng Vách ấy phải gô cổ nó lại, sao lại để cho nó họp chuỗi. Không được, về cho bắt ngay. Phải gác nhà thằng tư Nhỡ, nội bất xuất ngoại bất nhập. Thằng này vờ vẫn mua chuộc cán bộ đấy.”

* * *

Tháng ba năm ấy, làng vào hội lệ.

Xưa nay, làng này chẳng có hội bao giờ. Chẳng phải vì sự tích ông thần hoàng, vì cái hèm có kiêng kỵ, mà bởi làng nghèo không đủ người có tiền giắt lưng đóng góp được xuất việc làng. Đến ngày kỵ thánh hàng năm cũng chỉ có mâm xôi con gà, thẻ hương của hội tư văn biện lễ. Rồi thì gặp năm phong đăng hoà cốc, được vẻ no ấm mới gọi phường xứ Đông sang hai ba đêm chèo hát. Thế thôi, mọi thứ chỉ thèm mà không có rồi đi xem hội, đi xem rước làng khác. Con trai, con gái nô nức đi nhòm ngó cái vui của người ta. Có lẽ bởi thế mà con gái làng, như cái Duyên, nhiều đứa lấy chồng thiên hạ.

Tiếng trống chèo rộn từ chặp tối. Bốn bên lặng phăng phắc, người đã đổ ra bãi cỏ cây đa đầu làng. Nhà trên, nhà dưới, ngoài vườn nhà lão phó Thìn cũng im lìm như mọi nhà cả xóm. Lần lần vào đêm, tiếng mõ, tiếng trống, tiếng thanh la xa xa cứ thanh mảnh, giòn tan, có lúc trong gió vẳng lại cả tiếng hát ơi ới.

Trong nhà vắng người, những con mối đuổi nhau vờn nhau trên vách, kêu roèn roẹt, rồi lại im như tờ. Dưới nhà ngang – ngày mùa vào vụ chiêm hay tháng mười, thợ cày thợ cấy, thợ gặt đến ở, kẻ ăn người làm tấp nập ngày đêm như phiên chợ. Cả khi vãn vụ cũng còn lại mấy người ở mướn quanh năm trông nom vườn ruộng.

Đã gần nửa đêm. Bên kia những khoanh tre, tiếng trống, tiếng gõ beng beng sắp tan trò cứ sôi lên rồi lại phẳng lặng. Ngay từ sau cơm chiều với mấy chén rượu lão phó Thìn đã ngủ được một giấc, bấy giờ trở dậy. Lão ra sân, bước thong thả, không ra đi dạo, không đi canh nhà. Mà thói quen như đi tuần, như đốc phu, đêm nào cũng từ lúc ấy đến sang canh, tay cầm cái gậy tre, lão rà rà trên sân gạch xuống sân đất ra ngõ cổng tán rồi ngoài bờ luỹ. Cho đến lúc nghe tiếng con vạc đi ăn đêm về bay qua ngọn cây dừa, lão mới vào nhà, lại ngủ lại cho đến sáng bạch.

Những đêm chèo hát thế này, lão phó Thìn còn thức đợi bọn người làm đi xem về, soát chúng nó đóng cửa có cẩn thận không, thường khi cứ phải chốt lại. Phó Thìn đứng ở cổng trong, cạnh bụi chuối, ánh trăng nhạt thấp thoáng những người đi chơi về không trông thấy, mà có nhìn thấy chắc cũng biết lão hay đứng như ma xó, chẳng phải rình mò gì. Nhưng phó Thìn đã đếm từng người vào. Lão lẩn thẩn đếm chơi, mà cũng thử xem thừa thiếu thế nào, ngộ có đứa phản chủ dắt đất đem kẻ cướp vào thì sao.

Người đã về cả, lão ra mó máy những cái then, cái chốt đã cài, đã nêm kỹ chưa. Những tối thường ngày cũng làm thế, có vậy lão mới vào ngủ lại được.

Diệc về sau cùng. Lão trông thấy bóng thằng Diệc cởi trần đi lênh khênh. Diệc ở nhà ông phó đã lâu. Diệc mồ côi cha mẹ, Diệc đã đến ở làm nhà này từ năm Diệc còn để chỏm, chưa nhấc nổi cái cày, chỉ xách nước và đi cắt cỏ suốt ngày. Lão phó Thìn nổi cơn tò mò. Quái sao thằng Diệc lại đi sang phía bếp, chúng nó ở bên nhà ngang cơ mà.

Bếp có một gian, gian bên đựng củi, thùng rơm và chạn bát. Bên trong, con Khoèo ở. Nó không nói, không đi được. Để ở nhà trên không tiện cơm nước và mọi thứ. Lão cho vảy thêm một trái làm cái ổ cho Khoèo.

Nghĩ đến con, lão phó Thìn khi nào cũng rầu rĩ trong lòng. Như là thói quen đi rà rà trong nhà ra vườn ra luỹ rồi mới về chợp mắt lại được. Nhưng đây không phải giấc ngủ mà là nỗi lo, là sự đăm chiêu cả đời. Vợ chồng lão đông con, đủ nếp tẻ, đều đã nên người, dẫu lấy vợ lấy chồng làng hay ở xa thì cũng cơ ngơi đầy đủ cả. Chỉ còn một cái khốn khổ này. Sao mà lại sinh ra cái quái, cái nợ thế. Không khi nào lão dám nghĩ hơn nữa.

Thằng Diệc kia đi vào trong bếp làm gì. Lão chỉ nghĩ thấy lạ thế thôi, chứ lão cũng không sinh nghi. Thằng Diệc hiền như đất, không phải đứa trộm cắp. Mà trong bếp cũng chẳng có của nả để lấy và lão cũng không mảy may ngờ nó có tình ý ra sao với cái con Khoèo bộ xương ngồi xương nằm. Mà trời ơi, con Khoèo cũng ngoài hai mươi tuổi đầu, nhưng mà nó có phải là người đâu, nó có được làm người đâu, nó là cái phúc cái tội của nhà này thế nào đây.

Nhưng trông thấy Diệc đi tới, lão phó lý chợt nảy một ý khác, lão phó chưa nghĩ ra thế bao giờ.

Diệc đã trông thấy ông phó trong bụi chuối ra. Diệc chẳng lạ cái tính ông phó hay rà rẫm đêm hôm các xó xỉnh như thế.

Diệc chắp tay:

“Ông chưa đi nghỉ. Con đã chốt cẩn thận cổng tán, cổng trong rồi.”

Lão Thìn vẫy cái gậy.

“Đứng lại, tao hỏi. Mày vào bếp làm gì?”

“Con không vào bếp. Con đứng đái chỗ nồi nước thiếc ở ngoài.”

Lão Thìn sừng sộ.

“Đừng có chối. Ông đã trông thấy, ông đã biết, ông đã đi guốc vào đầu mày rồi.”

Nói thế, ông phó Thìn lại dịu giọng, rẽ rọt buộc mở từng câu:

“Mày vào trong bếp với con Khoèo. Thôi tao cũng cho phép, đừng lén lút nữa mà tội nghiệp, tao cũng thương. Tao cho mảnh đất đầu đồng mà làm cái nhà, vợ chồng đem nhau ra đấy ở. Rồi làm hai miếng ruộng ở đồng cao ấy, tao cho. Tao cho không, nghe chưa?”

Diệc dạ nhịp. Diệc đã ngoài ba mươi nhưng biết là cái kiếp đi ở nợ cả đời rồi. Chưa bao giờ dám có ý nghĩ lấy vợ. Chẳng cơn cớ nào có thể để cho dám thế được.

Ông phó đã nói thế, thế là thế nào. Thoạt đầu, câu nói lạ, khiến Diệc thảng thốt, Diệc nghe chưa thủng, đến lúc Diệc nghe ra rõ ràng thế rồi thì lại thấy êm êm.

Một hôm, Diệc khiêng mấy cây tre ngâm trong ao ra, rồi dỡ cây rơm, quảy mấy gánh. Diệc lội ao vét bùn lên trộn trấu, ai hỏi bảo để chát bức vách. Chẳng mấy lâu, người đi qua đã trông thấy một túp nhà mái rơm mới.

Đêm kia, trăng sáng nhàn nhạt như cái đêm hát chèo ngoài bãi cây đa. Diệc vào trong trái bếp, xốc cái Khoèo lên. Diệc vẫn cởi trần như đêm đi xem hát. Diệc cõng cái Khoèo ra nhà mới – cái nhà vẫn ở đến tận bây giờ.

[1]Những bần nông, cố nông Đội Cải cách lấy lên làm cán bộ đội được gọi là rễ, chuỗi.
[2]Tiếng Pháp, nghĩa là: Cái lều một trăm năm.

TÔ HOÀI
Ba Người Khác
II
Trời nắng ong ong đã mấy hôm, như sắp bão. Thôn Am rúc tù và từng hồi thúc người đi đắp đê quai phòng lũ. Người ra đồng cứ cung cúc như chạy mưa. Mọi khi chả việc công ích nào được nhanh nhẹn thế. Chính quyền xoá hết rồi, chưa có cả đến trưởng thôn. Vậy mà trên huyện vẫn có công văn thúc mọi việc. Thế là đội, các anh đội phụ trách xóm cáng hết. Ai cũng lội bì bõm như trâu đằm, cả các anh đội xung phong ra chuyển đất, bùn ánh lên mặt tôi nóng rát. Hò lơ… hó lơ… hò lờ… Lại hò hát. Kể ra mọi người cũng hăng thật, không việc công thì đi kiếm miếng ăn, cứ biền biệt từ mờ đất, trưa về lại ngồi học chữ.

Ấy là chỉ có ở thôn tôi mở lớp. Đợt công tác nào tôi cũng giở môn võ mở lớp i tờ xoá mù chữ. Chưa nơi nào ê a nhai hết quyển vỡ lòng đã vỡ lớp bởi cải cách ở xã đã xong, hết đợt. Nhưng mỗi cuộc tổng kết tôi đều được biểu dương thành tích về văn hoá hơn các thôn khác. Chỉ có Đình cười nháy cái ve mắt. Chắc thằng này chửi thầm tôi úm phép mấy em. Quả là ở đâu cũng có các nàng dân quân đến lớp đông. Tối họp khuya, rồi đi gác rồi lại như ai dựng gáy lên từ mờ sáng. Không một lúc ngớt đầu tắt mặt tối. Hò lơ… hó lơ…

Ngoài đê về, tôi vừa rửa chân tay xong dưới cầu ao, thấy đi vào một người, thoạt loáng thoáng, đến lúc ra khỏi bụi duối mới nhìn tường mặt một cô gái bước nhanh nhẹn, áo vải phin nâu, cổ tay tròn, mũi súng trường nhấp nhô bên mái tóc chít khăn đầu ngôi rẽ lệch. Không quen mặt, tôi đoán là dân quân thôn khác. Cô này gọn gàng, mắt sắc long lanh, cứng cỏi. Mấy hôm đầu mới về nhìn đâu, nhìn ai cũng chỉ thấy lam lũ. Cái áo tấc của Đơm về vệt bùn, bong mất cái khuy ngay giữa bụng. Ngửi người lúc nào cũng mùi cỏ khô. Nhưng lâu lâu, trông các cô cũng cứ hay mắt dần lên.

Từ hôm tôi đánh vỡ cái ang quảy nước, bác Diệc bảo: “Anh đừng kín nước, cũng đừng ra đồng nữa, cứ ở nhà. Chẳng ai nói gì đâu”. Tôi bảo: Anh mặc tôi, tôi phải cọ xát với bà con”. Nhưng nói thế, bây giờ tôi định vào đánh giấc. Cả buổi sáng đắp đập be bờ vẹo xương rồi.

Tôi ngồi xuống chõng. Bác Diệc gái im lìm trong xó tối, nhìn con cóc rình đớp mồi. Nhà không có ai.

Cô gái nọ bước vào.

“Em là chuỗi, em làm dân quân bên thôn Chuôm.”

“À… vâng…”

“Đồng chí Đình…”

“Đình bên thôn Chuôm, tôi biết.”

“Báo cáo, đồng chí Đình phạm kỷ luật.”

“Sao?”

“Đồng chí ấy dám hủ hoá.”

“Tôi không phải đội trưởng. Cái này đồng chí lên văn phòng đội.”

“Em chỉ muốn nói riêng với anh thôi.”

Ơ mà lạ, ai cũng gọi nhau là đồng chí, cô này lại “anh”, dám thế à. Nhưng lại thấy dìu dịu. Tôi nhìn đôi mắt cô lừ đừ, chẳng có vẻ đi báo cáo việc đứng đắn, nghiêm trọng. Đình à, Đình thế nào. Tôi vẫn vừa biết, vừa kiềng tay Đình. Thằng này gớm, đi với nhau hai đợt, chẳng lạ. Không phải nó chỉ tinh quái trông thấy tôi thón cái gói bánh đúc của đội trưởng. Gì cũng vậy, nó tính đếm và lật mặt phăng phăng. Cách bắt rễ của Đình cũng khác người. Thoạt đầu, Đình sục khắp xóm một lúc, vào nhà nào cũng kê tiêu chuẩn ra hỏi ngay: – Mấy nhân khẩu? – Thưa, năm ạ. – Có bao nhiêu? – Một mẫu hai. – Năm khẩu. Trung nông rồi – Tôi bị thằng Thìn đánh nhét cứt trâu vào mồm… – Không, cứ trung nông cái đã, còn cái ấy để rồi tố khổ. Chào cả nhà nhé. Thế là Đình xách ba lô sang nhà khác. Cứ lần lượt cho đến lúc nhà nào người ta nói con số đói rách nhất, thì Đình đặt ba lô xuống, ở lại. Chỉ một buổi đã xong rễ chuỗi cả thôn. “Thăm nghèo hỏi khổ thế mới quán triệt. Hà, hà… – Đình nói nói cười cười.

Bây giờ cô này tố cáo Đình. Đình hủ hoá, tôi đã gạt đi. Chẳng dây vào thằng Đình. Nhưng thấy cô con gái mà nói chữ hủ hoá ngon như nói công tác, tôi cũng thấy hay hay. Tôi hỏi:

“Hủ hoá thế nào?”

“Hủ hoá em ạ.”

Rồi tôi không kịp ngạc nhiên hay gật lắc thế nào, cô ấy kể vanh vách:

“Tên em là Duyên. (A cô Duyên thôn Chuôm tôi đã biết tiếng) Đồng chí Đình về bắt rễ vào anh cả Cối em rồi xâu chuỗi sang em và bố em. Thế, nhà em cả thảy ba rễ chuỗi. Đồng chí ấy bảo: thôn này có địa chủ Thìn, cả hàng huyện đã biết tội ác nó, nó đã bị bắt, mai kia sẽ đem xử bắn. Thế là tôi xung phong bước hai nhất đội, hết công tác rồi. Cả ngày đồng chí ấy chỉ nằm nhà. Em đi làm về đồng chí ấy lại lôi em xuống bếp. Em cào cho một cái vào mặt chảy máu ra đấy, anh có trông thấy một vết quào ở bên mũi đồng chí Đình không?”

“Việc này phải lên…”

“Tệ lắm, em không chịu được.”

“Cán bộ Đình công tác giỏi, đã lôi ra được ổ phản động xui đồng bào bỏ quê vào Nam, khi địch còn ở đây hai trăm ngày.”

“Anh không tin em sao?”

“Nhưng mà, chẳng nhẽ…”

“Thử thì biết ngay thôi.”

“Thử thế nào?”

“Tối nay, anh ra nấp sau cột trụ cửa đền thế nào cũng thấy đồng chí ấy vào nhà em, bắt quả tang được.”

“Tối nào chả họp!”

“Ấy, tan họp chứ. Nhà em không có rào, có cửa, đến tận chỗ em nằm cũng như không.”

“Nhưng mà cán bộ Đình ở nhà đồng chí kia mà.”

“Không, ở nhà anh cả Cối em ngoài bãi cổng đồng, em ở với bố em trong xóm.”

“Tối nào cũng thế à?”

Cô gái cười mỉm khó hiểu:

“Vâng ạ. Nhưng em phải trốn chứ!”

“Được rồi.”

“Tối nay nhá, nhanh lên đấy.”

Câu nói trống không thật hỗn mà lại êm tai rớt lại, tự dưng tôi cũng đâm tò mò hơn.

Chứ quả thật bận đâu đến tôi. Mà cái thằng Đình cũng ác ôn ra trò, phét lác một tấc đến trời, lại tỏ vẻ lý sự, đạo đức, phải phết nó một đòn bịt mồm. Nhưng tôi lại nghĩ đến cô dân quân thôn Chuôm ấy nhiều hơn, người đi rồi mà vẫn như còn đâu đây. Cái vai lẳn, cái cười mắt tít lá dăm – khác hẳn Đơm, ôm trói lại rồi mà mặt vẫn đực ra.

Trăng mùng mười lơ lửng xuống sau rặng tre bên kia. Dòng sông cạn đã bị lấp cửa, mùa mưa mới có nước, bây giờ chỉ lác đác những vũng ao chuôm, lúc nãy như những con mắt thao láo dưới ánh trăng. Thế mà vẫn còn người mò đến, tiếng lội lõm bõm qua, lại thanh vắng như không. Dần dần khuya, làng xóm bàng bạc như trăng suông. Những lùm nhãn nhấp nhô lù lù, những khoanh tre lởm nhởm và cái cột trụ ngôi đền hoang cắt bóng trên nền trời sao. Tôi đứng nép một bên tường hoa, quần áo nâu nhoà vào màu rêu tường, không ai có thể nhìn thấy.

Chắc đã muộn, những con giun con dế vừa kêu ti tỉ, đã lặng ngắt. Tôi nghĩ các chuyện loăng quăng. Rồi dâm trợn. Không phải sợ ma, mà có điều vớ vẩn bây giờ mới nghĩ ra. Có thật con bé ấy người bên Chuôm, là chuỗi, là dân quân. Hay đấy là địa chủ quăng lưới? Có thể lắm, đang lúc mới vào bước hai, công việc rối canh hẹ, bọn phản động, bọn mật thám trá hình, cả ban chi uỷ đội trưởng Cự đã phát hiện được là tề nguỵ cài lại đội lốt và chi uỷ giả đã mưu mô làm cải cách vờ trước khi đội về, chúng nó sắp sẵn cả rễ chuỗi cho đội dựa. Chúng còn bày vẽ đấu dối nữa. Đấu tố phường chèo thế nào mà thằng địa lại bảo nông dân: “Anh này làm chức gì mà được lên vạch mặt tôi những bốn lần, nhiều quá”. Bố con địa đi bừa đêm, dân quân hỏi, chúng nó trả lời ngông nghênh: “Nhà địa chủ đây. Các ông bà nông dân ăn thịt hết trâu, chúng tôi phải đi làm trâu thôi”. Thôn Am này còn chưa moi được ra địa chủ, thế mà tôi mất cảnh giác, đi rình mò bơ vơ thăng thiên. Chỉ bởi lời xúi bẩy của một con bé cha căng chú kiết. Khéo không thì bị nó cất vó cũng nên, không xong rồi.

Tôi thu mình, cúi xuống, co chân định nhảy ra chạy về. Nhưng tôi sững ngay lại. Vừa thấy thoáng ngoài một bóng người. Chỉ nhác một cái cũng nhận ra dáng thằng Đình cao lêu đêu. Tôi áp tới, giơ đèn hai pin rọi vào mặt Đình. Tôi trông thấy vết xước ở một bên mũi nó thật, tôi quát:

“Ai?”

Đình xoè tay che mắt bị chói, hỏi lại:

“Thằng nào thế?”

“Tao.”

“À, thằng Bối.”

Tôi đút đèn vào túi, đặt một tay lên vai Đình, thân mật.

“Đi đâu đấy?”

Đình thản nhiên:

“Đi chơi.”

“Đi chơi là thế nào?”

“… là đi chơi…”

“Biết tỏng rồi, mày đi chơi gái.”

Đình hỏi tôi một câu đột ngột:

“Cậu đã biết chiến thắng của tớ bên thôn Chuôm chưa?”

“Chiến thắng?”

“Tớ rình năm tối, tóm được hai thằng nhãi ranh ném đất làm ma ném để không ai dám đi họp. Truy ra là âm mưu của địa chủ Thìn. Tớ sắp được biểu dương toàn đội, lại báo cáo lên đoàn nữa. Biết không?”

Rồi Đình lạnh lùng thong thả buông từng tiếng như từng phát súng:

“Này mày hãy lo cái thân mày đã nhé. Mày chưa moi được thằng địa nào. Rễ chuỗi mày liên quan đến nhà địa, thối um lên, không ngửi thấy à? Lão Cự sắp làm thịt mày. Khôn hồn thì cút mẹ mày đi.”

Tôi lại hoá ra đứa bị đóng đinh vào mặt, lúng búng không mở được miệng. Đình ung dung đi vào bờ tre phía nhà bố cả Cối. Tôi đứng trơ ra một lúc thật lâu. Những lời ghê rợn Đình vừa đe đã làm cho tôi bủn rủn, lú lấp cả mọi mưu chước.

Từ nách tường sau đền, cô Duyên chạy thoắt ra, vẫn khoác khẩu súng sau vai.

“Sao anh không bắt nó lại? Quả tang thế rồi mà.”

“Quả tang quả táo cái con khỉ!”

“Rõ anh này. Đêm mai đồng chí nó lại mò sang, em biết đi ngủ ở đâu?”

Bỗng Duyên táo tợn thật lực ôm chầm lấy tôi, lúc lắc cái mũi súng sau lưng, cười hinh hích. Thân hình nóng ran ưỡn lên, tôi gồng người, dằn xuống. Chẳng còn biết ra thế nào, mày dẫn xác đến, ông đương bực mình đây. Duyên cởi khẩu súng dựng vào chân cột trụ sau lưng. Hai đứa lăn xuống bãi cỏ, chẳng còn biết trời đất ở đâu nữa. Tôi thở dốc, ngoi lên hớp từng hơi. Nhưng đến lúc thằng đàn ông sắp nghẹn cổ chết thì con đàn bà rên ư ử, nhũn ra.

“Em cho anh…”

“Bận sau, bận sau. Em đương có tháng.”

“Đâu nào?”

“Sờ mà xem.”

Cuộc quần thảo không biết còn lồng lộn bao nhiêu lâu nữa. Đến lúc tôi chỉ còn như con chó què, bước xiêu vẹo, lử khử. Lần được về nhà, nằm uỵch xuống chõng, thiếp đi.

Mỗi buổi sáng đều có cuộc hội ý đội, sang bước hai càng khẩn trương. Cán bộ đội các thôn lên báo cáo, nhận công tác mới từng ngày. Họp xong, Đình và tôi về cùng đường.

Câu chuyện ma quái đêm trước dường như mỗi người coi tựa không có. Chúng tôi đối đáp bâng quơ, không đầu đuôi. Đình hỏi tôi đã giảng hết tiêu chuẩn trung nông chưa. Tôi bảo xong từ lâu. Nói văng mạng thế chứ đâu ai vặn vẹo khám sổ tay của nhau. Mà các tiêu chuẩn bần, cố, trung, phú, địa đến công thương, dân nghèo, dân chài lưới, đến thế nào là phản động, gian ác tôi đã ghi kỹ, tôi đã thuộc đã giảng từ trong Thanh, cứ vậy mà tương ra, màu mè vơ thêm mấy cái liên hệ mới nhặt được, chứ khó khăn gì. Tôi nói thật vậy, Đình khen tôi láu. Thì Đình, thì Cự chắc cũng rứa, xóm nào ở đâu và đợt nào cũng tương tự, dần dần chúng tôi tự hào có kinh nghiệm nắm tình hình nhanh. Như về đây chưa hết bước một đã tỏ rõ ngọn ngành cả các xóm xưa và nay. ở đâu thì nhà giàu, quan lại, địa chủ cũng ăn trên ngồi trốc. Nhà có máu mặt con cái chỉ mười lăm mười bảy đã đút tiền hộ lại chữa sổ khai sinh tăng tuổi lên để sớm ra làm chưởng bạ, làm thư ký hội đồng kỳ mục, rồi dần dần lên phó lý, lý trưởng, chánh phó hương hội, chánh phó tổng hàng phủ hàng huyện. Như ở đây, khi Tây chiếm làng mấy năm trước thì ra làm xã uỷ, hương chủ, trưởng đồn, xếp bốt hương dũng, tiên chỉ, tổng uỷ… Đã thuộc cả, moi đâu trúng đấy. Có thế công tác mới chạy nhanh như trâu bồn, bằng khen giấy khen bay về tới tấp.

Lại các thứ chuyện. Biết nhau đến tận củ tỷ, cũng dễ ba hoa.

Đình nói:

“Đội trưởng Cự sắp cho cấy lúa thần kỳ ở trọng điểm xóm Đìa.”

“Đương vội thế này, lúa má gì!”

“Còn lạ đâu, lão ấy đã định làm thì sắt thép lắm.”

Đình hỏi tôi:

“Cậu có biết lúa thần kỳ thế nào không?”

“Chưa.”

“Cái ruộng lúa thần kỳ đến lúc sắp được gặt, người ta bước trên mặt thóc chắc chân như đi cầu qua sông. Mà chỉ một tháng thôi, thóc đã mẩy hạt.”

“Ở đâu thế?”

“Trên thế giới khắp nơi. Cái khi lúa thần kỳ mới bí mật đem về trại thóc giống bên nước Manila, thế mà tình báo của ta lẻn vào lấy trộm được một vốc hạt. Cậu biết làm thế nào không, khách tham quan thón một vốc hạt, nhét vào trong giầy. Thế đã khiếp ta chưa.”

“Giỏi nhỉ. Ta làm ở trọng điểm xóm Đìa rồi cấy lan ra cả xã chứ.”

“Chắc sẽ vậy.”

Rồi Đình bĩu dài môi:

“Không nói phét. Tớ ấy a, giá còn cái trại đại đồng của tớ thì lúa thần nông, thần kỳ có đã lâu rồi.”

Đình sôi nổi kể:

“Cậu còn nhớ không, cái hôm đội ta được thành lập sau hội nghị tổng kết khu ở Quỳnh Côi (Tôi nhớ rồi, hôm ấy có hai người được trên giới thiệu bổ sung xuống đội). Không biết vui miệng hay họ cốt khoe: người này thì thời Tây đã đỗ tú tài, người kia thời ta đậu kỹ sư bằng đỏ bên Liên Xô. Đội trưởng Cự cười nhăn mũi, hôm sau gửi lên trả đoàn cả hai người. Báo cáo là đội đã đủ khung rồi. Đội trưởng vẫn nói chỉ “cần người chữ nghĩa èng èng, học nhiều thì chỉ tài nói không tài làm, xuống xã tổ vướng chân”. Có lần Cự hỏi học lớp mấy, tôi nói: học lớp ba thời thực dân, đến độc lập thì là cán bộ rồi, không học nữa. Cự cười: “Tớ còn kém cậu một lớp. Thế mà hay, học lắm thì chỉ lý sự cùn. Chúng mình đã giới thiệu lý lịch với nhau khi thành lập đội, hôm ấy tớ mới nói khi khởi nghĩa tham gia cướp chính quyền huyện chưa kể thành tích công tác thằng Đình này đã lập nên trại sản xuất, cả huyện có mỗi trại ấy. Tớ đặt tên là trại “đại đồng”, đại đồng thế giới ấy mà. Còn hay hơn lúa thần kỳ nhiều. Nếu bấy giờ uỷ ban tỉnh mà nghe kế hoạch của tớ thì bây giờ cả tỉnh, cả nước đã thành trại đại đồng rồi.”

Suốt dọc đường, rồi Đình còn theo về tận nhà, kể chuyện cái trại đại đồng. Đình thao thao nói, ve mắt nháy lia lịa, sùi cả bọt mép. Cái vết con Duyên cào cạnh mũi đã bong vảy, chỉ còn hơi đỏ. Tôi lại nghĩ lắt léo hay là lúc ấy sướng quá, nó bấu vào mặt thằng này. Đình đương hăng. Khi đấy, Đình làm tuyên truyền trên huyện. Khắp nơi tiêu thổ kháng chiến, nhà cao cửa rộng phá hết, đốt hết. Các làng, các thị trấn, thị xã dựng lên những cây tre cao như chân gầu sòng, giữa buộc thanh sắt đường ray, ngày đêm dân quân đâm đổ hết tường, sụp nhà cả dãy phố. Người đường xuôi từ các làng quanh Hà Nội lũ lượt chạy ngược dòng sông Hồng lên trung du. Người tản cư được chia vào ở nhờ các nhà trong làng. Đất rộng người thưa, dân cũng sẵn cái ăn, lá sắn ngắt về nấu canh, muối dưa, sắn trựa bỏ đấy cả mấy năm chưa đào, quả đu đủ chỉ để cho lợn thì bây giờ người ăn ngon. Chẳng mấy lúc, người tản cư ai quyết tâm ở lại cũng ổn cả, mặc dầu là tạm bợ, nhưng tin tưởng.

Đình đã nghĩ được ra cái trại đại đồng cho mọi người vào ở tập trung qui củ, trật tự sản xuất. Huyện đã cử Đình đi báo cáo điển hình trại đại đồng nhiều nơi. Nghe cũng hay, nhưng không đâu làm nổi vì các huyện ở sâu vắng người tản cư, không được trên cấp tiền. Huyện ven sông này có quĩ của tỉnh cho để trợ giúp đồng bào, bây giờ gom người ở một nơi thì phát tiền cũng dễ. Nhưng không phải Đình chỉ vì một cái tiện ấy, Đình nói ngày trước ở Hà Nội, Đình làm phó nhỏ thợ xẻ đã vào ái hữu thợ mộc, Đình đọc sách và anh em bàn bạc đã biết rồi đây loài người sẽ lên thế giới đại đồng, thì cái trại đại đồng này là một bước đúng như thế.

Năm dãy nhà dài một trăm thước, bên trong một loạt hai dãy giường nứa cho một trăm người. Nhà của phụ nữ riêng bên kia đồi cũng to rộng thế. Chỉ đánh một tiếng kẻng điều khiển được cả nghìn con người. Kẻng dậy, kẻng thể dục và hát, kẻng cơm, kẻng họp, kẻng đi sản xuất, kẻng về, kẻng ngủ… Ai nấy răm rắp, miếng cơm manh áo như nhau, không có ganh tỵ vì không ai hơn ai. Ngày chủ nhật, kẻng đi chợ, tối kẻng lửa trại vui nhộn. Buổi sáng buổi tối, cả trại ra đứng ngoài sân hô: khoẻ vì nước, kiến thiết quốc gia, quyết tâm lên thế giới đại đồng…

Tôi hỏi dớ dẩn:

“Ai cấp lương cho ăn mà lên thế giới đại đồng được?”

“Đã nói từ nãy rồi mà. Quỹ trên đưa về, ai ở xuôi tản cư lên vào trại cũng được nuôi. Nhiều người tinh thần lắm, những thứ ở thành phố đem lên, quần áo, đỉnh nến, chén bát, đưa ra chợ bán hết lấy tiền bỏ vào quĩ trại. Nhiều quần áo sang trọng, nhưng trại đại đồng không cần những cái loè loẹt ấy của giai cấp tư sản bóc lột.”

“Cậu là trại trưởng à?”

“Mỗ đây chứ còn ai vào đấy!”

“Có được lương không?”

“Có chứ.”

“Sao bảo người địa phương không được ăn trợ cấp.”

“Nhưng tớ là lãnh đạo, tớ không phải địa phương, cũng không phải người tản cư.”

“Thế rồi sau ra sao?”

“Sao à? Giá còn đến bây giờ chắc đã lên đại đồng rồi. Trồng sắn mau ăn lắm, lại chuối, lại dứa, lại trẩu, lại chè…”

“Thế rồi thất bại?”

“Không, không thất bại. Không ai nản chí xin ra, không một người trốn. Không một vụ hủ hoá – Đình nghiêm nét mặt, nháy nháy ve mắt.”

Tôi không muốn biết thêm ngọn nguồn nữa. Vì thấy Đình quả quyết “nhất định thắng lợi” quá. Nhưng lại nhẹ nhàng hỏi ơ hờ:

“Thế rồi làm sao?”

Định trợn ngược mắt.

“Làm sao ấy à? Loài người đến tận bây giờ vẫn chưa đủ sức chống thiên nhiên, phải bỏ nửa chừng vì thế chứ làm sao. Nhưng mà có tiền nhiều chắc cũng vượt qua được. Tự nhiên lụt lội, bão, sét đánh đổ nhà chết người, cả sốt rét lăn đùng ra. Mới vỡ nhẽ người xuôi lên chưa quen, cả trai ốm ngã nước sốt rét ác tính chỉ hôm trước hôm sau đã đái ra máu. Nửa tháng chết vãn cả người. Đầu tiên còn mua gỗ đóng quan tài, cả trại đi đưa đám, có điếu văn đọc lúc hạ huyệt. Rồi sau người chết lắm quá, không kịp mua săng, phải bó nứa, hai người vác thuổng khiêng đi chôn. Thế là những người sống sót sợ, bỏ đi hết.”

“Cậu cũng chuồn?”

Đình cười hề hề, hồn nhiên:

“Ở lại để bị lây chết mất ngáp à?”

“Rồi cậu đi đâu?”

“Tớ về huyện, lại công tác bán nói lấy ăn. Mấy năm sau được lên tỉnh, cho đến bây giờ. Chức vụ: phó phòng tuyên truyền.”

“Rồi có đâu làm trại sản xuất nữa?”

“Trại đại đồng chứ. Phi tay này thì thằng nào dám. Trên tỉnh cũng công nhận nếu không bị sốt rét phá hoại, trại đại đồng nhất định thành công. Tỉnh tớ năm nào cũng đạt tiền tiến tiên phong, mọi mặt công tác. Không nói phét!”

Đình trợn mắt, giơ tay:

“Cả bây giờ đấy. Kể ra, nói cho công bằng, cái tỉnh này nó máu xung kích, xung phong. Trước kia, trong bóng tối, làng nào cũng có cơ sở. Kháng chiến thì đi bộ đội, đi dân công ra trò. Giảm tô, cải cách cũng cờ đầu. Tớ mới được thư tỉnh, chúng nó báo tin, tỉnh tớ được cử đi làm điểm về phúc tra. Cải cách ruộng đất xong phải qua phúc tra mới thật căn bản. Lại cùng một lúc, tỉnh tớ làm điểm chỉnh đốn tổ chức từ tỉnh xuống huyện, xuống xã, lôi ra được nhiều phản động chui vào tổ chức lắm. Đằng ấy có biết không, tỉnh tớ được chọn cán bộ đi giúp chỉnh huấn khu 5, Nam Bộ, rồi giảm tô cải cách trong ấy. Biết đâu tớ chẳng sắp được đi. Người tỉnh tớ thế mà ghê.”

Đột nhiên, tôi cười to:

“Ha, ha, ha…”

Đình nhăn mũi, không bằng lòng, tưởng tôi chế nhạo. Hỏi xẵng:

“Thằng đểu, cười chó gì?”

Rồi Đình không đợi tôi trả lời, Đình hạ thấp giọng, nhấm nháy:

“Tối hôm qua ấy, mày liệu hồn.”

Vừa dứt cười, thật tình tôi đương buồn cười về những khoe khoang tận đâu đâu của Đình, tôi vẫn đùa:

“Tối hôm qua thì làm sao?”

Đình lùa thẳng tôi một quả:

“Sao ở trên trời ấy. Đằng ấy vật nhau với cái Duyên. Hì, hì…”

“Đâu nào!”

“Biết điều thì nghe tao dạy đây. Tớ mách cho mà biết, con ngựa cái ấy cú cáo lắm. Tớ đương theo dõi xem nó có phải quốc dân đảng chui vào lũng đoạn hàng ngũ chuỗi rễ.”

Tôi im, dần dần bối rối, ỉu hẳn. Thằng này ma quỉ quá. Còn đi với nó, có ngày thì mất mạng.

Nhưng Đình đã nói:

“Đằng ấy ở phường phố, lớ quớ chẳng hiểu mẹ gì nông thôn. Tớ bảo cho miếng võ cảnh giác này mà phòng thân. Còn cái tối hôm qua thì tớ xuý xoá cho, không báo cú báo cáo lên lão Cự đâu. Tớ với đằng ấy về đây đã thông cảm xít xao từ hôm canh ty ăn trộm gói bánh đúc ngô của đội trưởng ở trong đền cơ mà.”

Đình cong một ngón tay giơ ra cho tôi ngoặc. Như trẻ chơi móc xương móc xảu bỏ lỗi cho nhau. Thế là hai thằng cười hi hi, hà hà loạn xạ cái nhà vắng. Người đàn bà tàn tật ngồi trong xó vách vẫn dửng dưng.

Rồi Đình về xóm Chuôm còn dặn lại “Nhớ nhé”. Chẳng biết nhớ nhé ra làm sao.

Cũng không biết nhớ nông nổi thế nào thật. Những tưởng bấy lâu rình rập hạ nhau, bây giờ ăn cánh với nhau, thấy trong lòng nhẹ hẳn nỗi lo nghĩ tính toán. Phải thôi, chẳng biết tội thằng Đình ở đâu, chứ tôi vừa dăng dện cái Đơm, lại cái Duyên. Kỷ luật cải cách hủ hoá phải ngồi chuồng trâu, phải đuổi về mà vẫn nhơn nhơn trơ trẽn như không. Thằng đàn ông như cái đó vác đi đơm, thế thôi. Nhưng đây là quả cấm. Mà cũng lạ, cứ cấm thì lại hay mân mê táy máy. Mà con bé mới gớm ghê, nó là quốc dân đảng thật hay sao, nó cho mình vào tròng, hay nó hại thằng Đình, hay là thằng Đình xỏ lá chơi tôi một miếng. Chỉ biết, nó đã nắm thóp hai đứa. Nó sang tận Am mách tôi về thằng Đình thì nó sẽ lên lão Cự báo cáo tôi, biết đâu là chừng. Tôi lại đâm lo.

Tối tối, xóm Am đã cụng đầu tố khổ trong rễ chuỗi và mở rộng ra tổ nông hội. Có nơi đi nhanh, đã dấu địa chủ. Đội trưởng Cự nhanh nhất đã xin lệnh bắt bí thư chi bộ và một lúc sáu địa chủ có tội ác. Trong cuộc họp đội, Cự quát tháo “Phải ra tay mới phá được thế bị khống chế, bởi địch đã có tổ chức phá hoại, gây rối loạn. Ông lão loà ở xóm lội xuống ao trẫm mình, hay là địch dìm chết. Lại một đám cháy nhà. Đội trưởng nói: “Tăng cường tố khổ, mở rộng tố khổ để tìm ra đứa giết người, đứa đốt nhà”. Chúng tôi hội ý đội buổi sáng, có khi cả lúc chập tối. Đứa nào bức tử, đứa nào đốt nhà cứ tố khổ rộng khắp cả thôn thì ra thôi. Đường làng vắng hẳn, người nào bần cùng lắm mới ra đường, đi len lét, không ai dám đến nhà ai. Gặp anh đội, người già lùi vào bờ rào ngoảnh ra cúi đầu chắp tay vái. Đội trưởng Cự vào đỡ tay bà lão, nói: “Nông dân làm chủ không được khúm núm thế, không được mắc mưu địch hòng xoá nhoà ranh giới bạn thù. Ta đương đấu tranh, nông dân phải ngẩng mặt tự hào, còn thằng địa chủ có quỳ giữa đường lạy ta cũng mặc xác nó, bà cụ biết chưa?”.

Những cuộc lên hội ý đội, lúc có đội trưởng thì rậm rịch, bối rối tít mù, nhưng vắng Cự thì lại uể oải, trễ tràng. Hai cậu bần cố ở xã được lên đi làm anh đội mà tôi vẫn xem khinh nửa mắt, cứ ngồi chầu hẫu, chốc lại ngáp, vừa ngáp vừa gãi nách kêu ối giời ơi rồi cuộn tròn tờ nội san: “Bận quá, cho em mượn về xóm đọc” – “ừ đọc báo thì càng thông suốt”. Tôi đoán có cậu mới biết đánh vần, ngại mở tờ báo trước mặt người khác. Một đội viên thở dài khượt một cái: “Xóm của mày ít địa, có thì giờ nằm nghiền báo, sướng thật”. Các thôn vẫn chưa lên đủ, mà Cự đi đâu không biết. Đã biết lệ, lão không về thì thôi, đã về muộn thế nào cũng nhiều việc quan trọng hay không cũng cứ đùng đùng, tới tấp. Một lúc sau, cũng chẳng thấy đội trưởng, thế là lả tả rút dần. Cũng chẳng biết là bận quá hay không, nhưng đã có lịch công tác hàng ngày, rồi quá giờ phải đi việc khác.

Một hôm, đội trưởng Cự sang xóm Am tìm tôi. Đội trưởng đến là có việc, thằng lười tôi cũng ngại. Cự đặt bịch cái túi da bẹt đít xuống chõng. Những gì trong túi mà nặng thế, sổ sách tài liệu và khẩu súng, hay chỉ hòn đá bỏ vào bao cho oai, hay lại gói bánh đúc ngô. Anh nào cũng như ma ăn cỗ, ai biết đâu. Nhưng cái dáng buông túi nặng nề tất có chuyện. Mấy hôm nay tôi đương lo sốt vó. Được phổ biến là trên đoàn uỷ nhận xét: xã này chưa đạt chỉ tiêu địa chủ. (Mà thôn tôi thì chưa tìm ra mống nào). ở cuộc hội ý hôm trước, đội trưởng Cự nói: “Chỉ thị đoàn uỷ phải triệt để chấp hành, thực hiện bằng được. Đưa phú lên địa thì dễ thôi, một lúc cả chục thằng cũng có, nhưng làm ẩu mà bị kiểm tra thì hỏng hết. Cố lên, không được để cờ tuyên dương đợt này lọt vào tay đội khác”.

Trong những người phải cố, tôi khốn khổ nhất. Rễ chuỗi cả thôn tôi chưa tố ra được địa chủ. Tôi chưa phân tích tìm ra cái đầu cái đuôi địa chủ ở đâu. Hay là thôn này không có, không thể như thế, ở đâu có nông dân là ở đấy có địa chủ, sách lý luận thế. Không, không khi nào chưa đấu tranh đã rút lui. Chỗ nào có nông dân, có ruộng, tất có bóc lột. Tôi lên dây cót tôi. Hay là thằng tư Nhỡ? Nhưng cũng phải cẩn thận, chống ẩu mà. Các loại đất ruộng, đất vườn, đất thổ cư, các thứ lao động nhà nó chưa tính xong, không thể qui. Mỗi tiểu chuẩn địa, trên duyệt từng con số, bở hơi tai ra ấy chứ. Mà tôi nghĩ cũng chẳng nỡ. Mình thường qua lại nhà nó, hôm nào cũng chè thuốc, có hôm làm chén rượu tắc kè bổ dương, Cự biết thì đi đời anh đội, nhưng mà chỉ có mình với nó thì ai biết. Ruộng nhà ấy chia đầu người, lấy cả đất vườn gò, chưa đủ bình quân hai miếng. Mà nó cũng cổ cày vai bừa bao năm nay. Bắt nó cái phú cũng còn non. Đêm nằm bức bối nghĩ không chợp mắt. Thì lại lần vào xó nhà vày vò cái Đơm. Con bé cứ lúc mưa lúc nắng, cũng như trông nó khuôn mặt ngơ ngẩn trẻ con, nhưng cái người nó thì nùng nục con gái. Cứ vần như khúc gỗ, nhưng lắm bận Đơm nổi cơn, vừa động đến đã nóng rẫy rên lên, cắn bừa vào mũi vào tai tôi đau chết điếng mà không dám kêu. Tôi chỉ tránh nó ngoạm vào mũi, sợ thành sẹo như thằng Đình thì khốn. Dù sao, ấy thế cũng tan cơn nghĩ, ra ngã vào chõng mới ngủ được.

Đội trưởng Cự ngồi xuống bên cái túi da bò vàng nghệ vững chãi như cái ấm giỏ. Cự không uống rượu, nhưng mặt lúc nào cũng đỏ găng. Trong cuộc họp, Cự lườm một cái lộn lòng trắng mắt, ai đương nói cũng phải nghẹn lời, đợi nghe Cự. Mỗi tiếng Cự văng ra cục cằn như ném gạch. Cách nói năng thô lỗ ấy cũng không giống kiểu chính trị viên đại đội mà nghệ thuật ăn nói phải hàng ngày, có khi tôi đoán lão Cự khai man, cóc phải chính trị viên cũng nên. Đợt trước hôm đầu tiên họp đội tố khổ và tự giới thiệu, cố nông Cự trình bày đã đi Vệ quốc đoàn từ 1945 bây giờ chức vụ chính trị viên đại đội. Cự được quân đội điều đi cải cách ngay khi đơn vị ở khu 5 ra tập kết. Nói thế thì biết thế, cũng chẳng ai hỏi lại. Cái việc lý lịch, ai cũng nơm nớp, như tôi cha mẹ họ hàng dấm dớ, nhỡ cái phải ngồi chuồng trâu thì bỏ đời. Vả chăng, Cự bẳn tính, hay cáu, hay xúc động. Có hôm họp đội đọc báo, tin vụ thảm sát ở Hướng Điền tỉnh Quảng Trị, cả 92 người thôn Tân Lập và Tân Hiệp bị giết, còn hai người sống sót vượt tuyến ra Bắc, đội trưởng Cự khoanh tay lên gối, cúi đầu khóc rưng rức.

Cự ngồi xuống hỏi tôi:

“Ở nhà à?”

“Hôm nay không đi ba cùng được, tôi…”

Cự cười nhếch mép – cũng là cái cười hiếm, có thể lúc ấy đương hiền từ, rồi Cự chống tay xuống mặt chõng.

“Biết rồi, thằng rễ bảo cậu ở nhà quét nhà. Quảy chưa được gánh nước đã choang vỡ cái nồi của người ta.”

Tôi tái người. Chuyện kín bưng thế mà Cự biết!

Cự lại cười nhẹ nhàng. Tôi yên yên cơn lo. Cự thân mật, bỗ bã:

“Tối mai cậu xuống thôn Đìa dự đám cưới mình nhé.”

Tôi trố mắt. Cự lại nói:

“Tớ lấy vợ.”

Tôi không dám hỏi: “Anh chưa có vợ a? ” Cự rủ rỉ: “Tôi ra tập kết chỉ biết lao vào công tác. Nhưng tuổi đã ngoài ba mươi, thì phải tính rồi. Vì tình thương yêu giai cấp, tôi lấy một cô cố nông ở thôn Đìa. Hôm qua họp toàn thôn, tôi ra câu hỏi: Khổ nhất thôn Đìa là ai? Cả thôn nhất trí cô ấy. Tôi tuyên bố tôi sẽ lập gia đình với người khổ nhất. Hội nghị cười râm ran, vỗ tay hoan nghênh. Dù việc riêng cũng công khai như ban ngày, càng thuận lợi cho công tác. Cậu nhớ bài báo về kỷ luật thằng Bổn chứ?

“Nhớ.”

“Lấy vợ không phải là hủ hoá, cần minh bạch.”

“Đúng thế.”

Chẳng những nhớ, tôi còn cắt giữ bài báo ở tờ nội san Cải Cách Ruộng Đất đăng cái nghị quyết của Đoàn ủy mà đội trưởng Cự đã bảo, tôi đã hai lần đọc to cho cả đội nghe để liên hệ và ngăn ngừa.

Nghiêm khắc phê phán sai lầm nghiêm trọng của Nguyễn Bổn – Đợt 5 này là đợt đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt. Phần lớn cán bộ đều có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ. Đặc biệt, một số cán bộ xuất sắc đã được tuyên dương khen thưởng xứng đáng, nhưng bên cạnh những đồng chí tốt đó, tiếc thay có một số phạm sai lầm nghiêm trọng cần phải xử trí đúng mức. Đồng chí Nguyễn Bổn là một trong số đó.

Đồng chí Nguyễn Bổn năm nay 30 tuổi, một cán bộ trao trả [1] đã đi cải cách (đợt 4 và 5), hiện là đội viên đội Đào Khê.

Trong đợt 4, đồng chí Bổn đã phạm lỗi nghiêm trọng: vì hủ hoá mà phải đổi đi 4 xóm, đến xóm nào cũng lại hủ hoá ở xóm đó, hủ hoá với vợ bộ đội, vợ tử sĩ và chòng ghẹo cả bà già trên 50 tuổi. Điên cuồng hơn nữa, ngay trong đại hội nông dân, đồng chí Bổn đã công nhiên cắn vào vú, vào mặt một chị chuỗi tích cực. Tổng cộng trong đợt 4, đồng chí Bổn đã thông dâm với 8 người và có hoạt động chòng ghẹo nhiều người khác. Tác hại là cả 4 xóm ấy đều lạc hậu, rễ chuỗi bị hỏng, mất tác dụng, đồng chí Bổn bị kỷ luật cảnh cáo toàn đoàn.

Mức kỷ luật đó chứng tỏ chính sách khoan hồng mở đường cho người sai phạm tự giác giáo dục, nhưng sang đợt 5 mới triển khai mà đồng chí Bổn đã tái phạm khuyết điểm với mức độ trầm trọng hơn trước nữa.

Về xã Đào Khê mới ba ngày, đồng chí Bổn đã liên lạc với con ái, con địa chủ cường hào gian ác. Cho con ái vào dân quân, đêm đến nấu chè đậu đen cho nó ăn rồi hủ hoá với nó. Lại cho mẹ con nó đi họp nông dân khiến không ai dám tố bố nó là địa chủ cường hào gian ác. Đồng chí Bổn lại đưa con Hạnh thành phần công thương vào dân quân, đem con Hạnh về hủ hoá ở nhà rễ. Bố thị Hạnh có tội đánh chết người đã bị quần chúng tố, nhưng đồng chí Bổn che giấu không báo cáo với đội. Đồng chí Bổn lại hủ hoá với chị Chắt, thiếu nhi trong xóm đã bắt được 4 lần trong bụi cây. Chồng chị ấy đi dân công vắng; mẹ chồng bị loà, tối nào đồng chí Bổn cũng vào nhà chị ấy để hủ hoá. Tác hại: Suốt bước 1 địch phá không trấn áp, địa chủ cường hào gian ác lọt lưới không truy ra, quần chúng phát động không lên. Cả 3 xóm đồng chí Bổn phụ trách đều bị phân loại 3 xóm lạc hậu.

Những sai lầm của đồng chí Bổn thật vô cùng nghiêm trọng. Đồng chí Bổn đã mất hết phẩm chất con người chứ không còn nói phẩm chất đảng viên và cán bộ cách mạng. Rõ ràng đồng chí Bổn đi cải cách ruộng đất không phải để phục vụ quần chúng mà để hủ hoá dâm ô. Đồng chí Bổn đã thành kẻ đầu hàng bao che cho địa chủ vứt bỏ hết quyền lợi nông dân, làm tổn hại đến cả sinh mạng quần chúng. Thực tế, đồng chí Bổn đi cải cách ruộng đất mà lại đã phá hoại cải cách ruộng đất. Đoàn uỷ quyết nghị thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Bổn: đuổi khỏi đoàn Cải Cách Ruộng Đất, khai trừ đảng tịch, cho áp giải về cơ quan…

Học tập bản kỷ luật đồng chí Bổn, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, đề phòng không để cho những tư tưởng xấu tấn công…”

Ngày còn trong Thanh Hoá, khi tôi mới về đội này, đã nghe phong thanh Cự lấy một cô là “rễ cố nông” rồi Cự xin cho cô ấy đi làm cán bộ cải cách, được ra công tác ngoài Thái Bình. Những người ở đội trước xì xào thế, nhưng cũng không ai tò mò hỏi. Cũng là ngủ với đàn bà, nhưng mẹo như đội trưởng Cự không ngu dại như đội Bổn để vi phạm điều 4 trong 10 điều kỷ luật cán bộ phát động quần chúng “không được hủ hoá trai gái và rượu chè”.

Tôi vẫn tỏ vẻ vui vui, xun xoe:

“Cưới thật à?”

Cự trố mắt, mặt chững lại, trả lời không đáp vào câu cười cợt nhả của tôi:

“Tối mai liên hoan giản dị nước chè xanh thôi. Đồng chí sắp sẵn mục thơ ca hò vè. Bây giờ thì ta làm việc…”

Tôi ngồi xổm xuống vỉa hè đất nện. Tôi lấy sổ tay, mở tháp cái bút máy oerơvơ.

“Sắp hết bước hai mà xóm này chưa có địa chủ. Các thôn đã lên hết, thôn Đìa dẫn đầu lên ba địa, năm phú. Thôn Am vẫn mù mờ không mống nào. Có nơi đã mít tinh quân dân chính đảng toàn xã, xã này cũng sẵn sàng rồi mà chỉ vì thôn Am…”

Cự nhác nhìn tôi rúm ró ghi chép dường như thương hại.

“Tôi phải báo cáo che quạt nan cho trên thông cảm với cậu chứ không có thì cậu bị tróc về đoàn lâu rồi. Mới hôm qua họp, tôi phải đem danh dự bảo đảm với đoàn uỷ, tôi hứa đội sẽ giúp cậu.”

Mồ hôi tôi chảy dài sống lưng.

“Cám ơn anh.”

“Ơn iếc gì, vào việc gấp thôi. Cái rễ của cậu dựa chưa thối nhưng đã lung lay, vì cậu không phát động cho vùng lên được. Địa chủ Thìn đã bị bắt, thằng Diệc rễ cậu là rễ nhà nó. Cái con vợ đui què câm điếc kia là con nhà địa chủ Thìn. Thằng tá điền Diệc phải rước của nợ đi, mà thằng địa chủ đểu cáng chỉ cho mượn hai miếng ruộng đầu đồng cuối đồng. Cho nên, về mặt nông dân, nó không liên quan, nhưng nó cũng chưa dám vạch tội ác địa chủ. Cậu đã hiểu như tôi vừa nói chưa?”

Quả tình, nhiều việc Cự nói tôi chỉ mang máng rồi lại tự gạt đi, tôi nhớ cái câu thằng Vách doạ hôm trước: “địa” đấy à, thế ra… Nhưng tôi đáp lời Cự nhanh nhẹn, như đứa học trò quen nói giấu dốt:

“Tôi hiểu… tôi hiểu ạ…”

Hai con mắt Cự xếch lên như mắt diều hâu. Tôi run tay. Tôi đoán có khi Cự đã biết cả cái sự tối ngày tôi mò mẫm ăn vụng như thằng Bổn. Giời ơi, tôi phát sốt lên đây này.

Cự nói to, dằn từng tiếng:

“Cũng không còn thì giờ để cậu loay hoay một mình. Xã vùng tề nguỵ này đặc biệt khó, nông dân bị chết mọi cách, chết đuối, treo cổ, địch giết hay thế nào. Đội ta đã giải quyết hết, chỉ còn mỗi thôn cậu. Đồng chí đã biết câu ở đâu có áp bức ở đấy có đấu tranh, tố khổ cả tháng mà không ra địa chủ, cái thằng rễ không mở mồm vạch thằng bố vợ gian ác một câu thì còn ai dám nói. Thằng Diệc được bồi dưỡng thế nào mà vẫn là cái đụn rạ, họp thôn ấp úng không nói đủ được câu “thưa toàn thể đồng bào”, người ta xỏ lá phản ảnh lên là cốt cán ăn nói khinh nông dân. Tôi biết hết, chẳng cần báo cáo của đồng chí đâu. Việc xóm nào cũng không qua được mắt này. Từ nay đội trưởng Cự thay cậu kiêm phụ trách thôn Am.”

Rồi Cự hỏi:

“Có ý kiến gì không?”

Tôi nhẹ nhõm:

“Không ạ.”

Cũng chẳng biết thế nào mà không với có. Nhưng cứ cung cách nói năng, vẻ mặt đội trưởng đã dịu, có lẽ tôi cũng không đến nỗi bị bắt lên chuồng trâu giam cảnh cáo trên đoàn. Bây giờ đội trưởng kiêm thôn này thì tôi có đôi ba chữ nghĩa tôi về làm văn phòng đội chăng. Nhưng cũng không dám hỏi. Con cua nằm co quắp dưới bàn chân con ếch, nhúc nhích một cái, nhỡ bị nuốt chửng thì chết ngay.

Cự nói, như ra lệnh:

“Tôi điều đồng chí sang thôn Chuôm. Bên ấy, địa chủ Thìn đã vào tù, rễ chuỗi đâu đấy cả rồi. Chỉ còn đợi mít tinh tuyên bố xoá bỏ giai cấp địa chủ toàn xã…”

Tôi “à” một tiếng như vừa mới hiểu. Nhưng Cự cũng không quan tâm, Cự chỉ để ý câu mình nói.

“Cậu thấy thế nào?”

Tôi nói:

“Tôi phụ trách thôn Chuôm chung với đồng chí Đình à? Bên ấy căng lắm, mới bị trận bão Lốc, tôi sang…”

Hôm kia, bên Chuôm bị một trận bão cạn ghê gớm. Vùng này thỉnh thoảng lại gặp thiên tai ấy. Tự dưng, phía chân trời cửa bể, dựng lên một cột xoáy giữa vòm trời cơn mưa đen kịt. Rồng lấy nước! Rồng lấy nước! Cả làng cuống cuồng. Cơn lốc lao vào chuyển thành gió cuốn qua làng mạc, cánh đồng. Đâu đâu cũng gõ thùng, gõ mâm, gõ nồi đuổi lốc. Người đi đường nằm rạp xuống kẻo lốc hắt lên trời. Một vệt lốc ập qua, nhà cửa, cây rơm, cả gà lợn bị hất tứ tung lên đê, xuống bãi, ra đồng. Đội đương dồn người tới cứu đỡ thôn Chuôm.

Cự nhìn vào trong nhà. Hai con mắt như hai mảnh sành của người đàn bà què hau háu trợn trừng như bao giờ cũng vẫn thế. Cự khe khẽ:

“Tôi nói riêng cho đồng chí biết. Thằng Đình bị bắt rồi.”

“Bị bắt? Sao thế ạ? Vâng, vâng…”

“Thằng Đình là thủ lĩnh quốc dân đảng chui vào phá hoại ta từ lâu. Địa phương làm chỉnh đốn tổ chức kết hợp phúc tra cải cách đã đấu tranh phát hiện ra. Ô tô xuống tận đây xích tay giải đi đêm qua, bí mật đến độ trong nhà cũng không biết.”

Tôi lại rối ruột lên nữa, trước mọi việc xảy đến hồ như các việc cứ diễn ra ăn khớp thế nào. Ngay hôm ấy, tôi đeo ba lô xách túi sang thôn Chuôm. Quả là bên này chẳng có việc đáng kể và mọi lo lắng đều như trút lại sau lưng. Sáng sớm, tôi lên hội ý đội. Ra khỏi cổng đồng, thấy Đơm. Không phải gặp, mà Đơm đứng đợi tôi từ lúc nào. Như mọi khi, mảnh áo cánh rách lướp tướp. Một đám bùn khô còn dính bết trên đầu gối. Tôi chạnh nhớ trong đêm, những lúc Đơm đạp chân cuống quít, tiếng những miếng bùn rơi lộp độp. Rách rưới không bớt được cái hơi nồng nàn của cô gái đương thì vừa ngủ dậy. Quen tay, tay tôi vê đầu vú Đơm.

Đơm đứng yên như mọi khi, mặt đỏ rần. Nhưng những giọt nước mắt rơi xuống. Đơm nói nho nhỏ:

“Anh bỏ em rồi.”

“Đội đổi công tác anh sang Chuôm.”

“Không phải. Anh sang bên ấy ngủ với con Duyên.”

“Tuyên truyền của địch, láo nào!”

“Ai cũng biết hết rồi.”

Tôi giải thích:

“Bọn phản động đương hoành hành dữ lắm. Vừa có người thắt cổ dưới xóm Đìa. Lúc hạ thừng xuống không thấy hơi trong bụng hứ ra. Đúng là bị treo cổ. Phải đề cao cảnh giác.”

Đơm đẩy tay tôi ra.

“Con Duyên mặc áo ba lỗ của anh có mùi nước hoa thơm, cả cánh đồng ngửi thấy.”

Chết tôi, hôm ấy, tôi phơi cái may ô cổ vuông ngoài sân, Duyên ướm lên ngực rồi chui đầu mặc luôn. “Anh trông em có đẹp không?” Từ hôm sang Chuôm, tôi ở nhà bố Duyên như trước Đình đã ở. Bởi dưới nhà cả Cối lít nhít con nhỏ nằm đạp nhau chí choé cả đêm. Bố Cối nặng tai, ai trò chuyện thì thào hay nói to cứ mặc con vịt, khi nào cũng thở than mỗi một câu không ra khoe không ra phàn nàn: “Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi chưa biết mặt đôi guốc, cái màn, chưa lên đến chợ tỉnh”. Nhiều ông già bà cả trong làng cũng tương tự, người thì chưa nhìn thấy cái xe tay, người thì mới đến cái cột dây thép ngoài đường cái tây áp tai vào nghe u u, có người mới một đôi lần cuốc bộ lên chợ huyện.
Nhà có người già được ngăn nắp đâu ra đấy, có cửa, có bờ rào. Nhưng trong nhà cũng tuềnh toàng mỗi cái phản, một chõng nằm, một chõng mâm ăn cơm. Nền đất nhẵn thín, hạt trám đóng chi chít, thành thử mặt đất cũng phẳng như cánh phản, được nằm ngồi như nhau. Nhưng rồi không phải bọn trẻ con chỉ chí choé ở nhà bố mẹ chúng nó ngoài bãi. Tối nào chúng nó cũng san bớt nhau ra đi ngủ lang, kéo vào nhà ông nội. Có đến ba bốn đứa, đứa chạy đứa cõng vừa đến nơi đã díp mắt lăn ra giữa nhà. Mọi khi, Duyên nằm giường. Tôi không thể đoán thằng Đình nằm chỗ nào. Bây giờ cái giường tre nhường cho tôi. Duyên chặt mấy tàu chuối vào lót ổ góc trong. Đi họp về, lũ trẻ con đã ngủ mê tơi cả. Ông lão điếc nằm xó cột nào, không trông thấy. Tôi đặt cái túi đầu giường, rồi cẩn thận, cởi quần áo, chống hai tay như con ếch bò vào chỗ Duyên. Cái Đơm nói cũng chẳng ngoa.

“Ấy…”

“Lại có tháng à, xem nào.”

“Không.”

Duyên lăn xả vào, cưỡi lên tôi. Đến lúc tôi lử cò bợ, Duyên vẫn quắp không cho giẫy ra.

Duyên thì thào vào tai tôi:

“Tháng sau, em về nhà chồng.”

“Sao bảo rồi đi Hà Nội với anh?”

“Chỉ được cái thăng thiên. Ra đấy rồi anh bỏ em bơ vơ.”

“Anh thề.”

“Chẳng phải thề cá trê chui ống, cứ chui vào đây này.”

“Thật tháng sau em lấy chồng hả?”

“Có thật thì người ta mới cho tha hồ, chứ không để mà chửa hoang với ai. Mai kia, thằng con đầu em đặt tên nó là thằng Bối.”

“Tên nó là thằng Đình.”

Duyên ngoạm vào mặt tôi, lại đè tôi ra, hùng hục: “Xem con ai nào! Xem con ai nào!”.

Có hôm nhà vắng, chúng tôi ngủ với nhau cả ban ngày. Duyên thật ra dáng con gái, lại có bộ mồi cái quần thâm, chiếc áo cánh phin, không man dại như Đơm. Hai đứa nằm đất mát lạnh trong khuya, sực nức mùi xà phòng hoa lý. Tôi có một bánh bọc giấy bóng cất đáy ba lô, thỉnh thoảng mới lấy gội đầu, thế mà Duyên lục được.

“Xà phòng này để anh gội đầu thôi.”

“Em tắm, em xoa khắp người.”

“Phải dội kỹ mới hết nhờn.”

“Không, để nguyên cả bọt cho thơm, ngửi sướng cả mũi.”

“Rồi ghẻ ngứa đấy.”

“Chẳng sợ.”

Có hôm tôi bắt được Duyên mặc cái may ô màu lơ của tôi, không phải chỉ người ta đồn mà Đơm đã nói lại. Duyên mặc đi chợ, lót trong tấm áo phin nâu mà vẫn hằn lỗ cổ vuông xanh lơ. Tôi víu Duyên lại, bắt cởi ra. Duyên cười cười, cởi lột ngược cái áo, trần ngực ra trước mặt tôi. Thế là hẵng khoan đi chợ. Nhiều lần những áo lót tôi chưa mặc đã có mùi xà phòng thơm. Tối nào tôi cũng đe cô mà mặc nữa thì tôi đi ở nhà khác. Duyên cười, không nói. Nhưng ả vẫn không chừa. Duyên muốn khoe ngầm với làng xóm “ta được mặc áo anh đội”. Cái này thì khéo mà tôi đi tù chứ chẳng chơi. Nhưng cũng chỉ thoáng sợ thế lúc một mình. Những khi có Duyên ám thì cái bài báo về thằng Nguyễn Bổn hủ hoá lại là chuyện của người khác, mình không thế, mình không giống nó.

Nhìn lại đầu làng không thấy ai, tôi lôi Đơm vào bụi duối rậm rạp. Đú đởn, nhấm nhẳn, vẫn quanh quẩn.

“Cái Duyên nó lấy áo của anh nó mặc đi làm đồng.”

“Thật trông thấy à?”

“Không trông cũng ngửi thấy mùi.”

“Được, để rồi bắt nó về kiểm điểm, nó là dân quân mà.”

Đơm lại sa nước mắt, lã chã. Hai con mắt ướt tình quá, quên đời. Đơm nhấm đầu ngón tay tôi, nói nhỏ:

“Tối nay đấy.”

*

Nhà tù của liên đoàn uỷ đoàn phúc tra là lô cốt và trại giam ở phủ lỵ thời Pháp. Dây bìm bám rêu trùm lên lù lù tựa quả đồi xanh om, bên trong các xà lim, các buồng giam lồi lõm như hang hốc núi đá, dân quân các xã suốt ngày đêm đổi phiên canh gác vòng trong và bên ngoài. Người bị bắt càng đông – cái nhà cũ không đủ chỗ chứa, phải làm thêm. Đẵn tre để nguyên cả dóng chôn liền thành bức tường dài rộng đến hơn hai trăm thước chia thành ngăn, mái lộ thiên trống hốc. Trông giống cái chuồng trâu. Các đoàn cải cách, đoàn phúc tra, đoàn chỉnh đốn tổ chức đều có nơi giam người tương tự. Có câu hù doạ “phải ngồi chuồng trâu thì toi đời”, là những trại tạm giam này.

Chiếc xe commăngca Ru đít vuông xóc lồng lên. Đình bị trói quặt tay chân nằm còng queo dưới sàn xe, không thể cựa được. Thế mà những bàn chân người ngồi trên ghế còn chặn lên cho nó khỏi quẫy. Ô tô chạy từ đêm đến sáng sớm, người đi chợ huyện thấy nhấp nhô trong xe hai người quần áo nâu mới, thắt lưng da to bản cầm dựng khẩu súng trường. Chỉ lạ mắt, không ai đoán được xe công việc gì đi hay về sớm thế. Sắp đến huyện, người ngồi ghế đằng trước quay lại:

“Chốc nữa đến nơi, gọi một tiểu đội ra gác rồi cởi chân cho nó đi. Vào chỗ giam trói ngay vào cột. Thằng này nguy hiểm số một. Để xổng thì mất đầu cả nút đấy.”

Nơi giam Đình ở cũi phía ngoài lô cốt. Không một lỗ cửa sổ, trên mái trống hốc mà như tối mù. Nhiều người đã bị nhốt trước ở đấy, bùn cứt thối khẳn lõng bõng ngập mắt cá chân. Đình phải trói đứng suốt ngày. Đêm ngủ lả đầu xuống, lưng cong như con tôm, hai tay vẫn treo lên cái vấu tre. Lúc lúc lại quờ quạng dật dờ ngọ ngoạy. Đình vẫn chưa hết cơn choáng váng bởi không hiểu thế nào.

Mấy ngày liền, không biết. Hôm đầu Đình còn tỉnh, nghe sau các vách cũi bên cạnh, tiếng rên, tiếng ho, tiếng nôn ồng ộc, tiếng thở dài não nuột, chẳng rõ người hấp hối hay con chó vừa bị một chầy vào đầu, chỉ còn ư ử mấy tiếng mơ hồ.

Một buổi sáng, nghe người quát hỏi bên ngoài: Thằng Việt gian Nguyễn Văn Đình ở buồng nào, thưa lên, ở buồng nào? Đình ú ớ: Tôi… tôi… Mấy cây tre gộc được nhấc ra, đẩy Đình ngã bệt xuống trước hai mũi súng chĩa.

Một cánh tay thò vào, lôi ra.

“A, nó giở trò.”

Thực sự, Đình không ngồi dậy được. Những cái lưng thề lễ mấy quả lựu đạn lại cúi xuống lôi Đình đứng lên. Nhưng người bị giam lại khuỵu xuống, không nhấc nổi hai bắp chân tụ máu. Xung quanh hét lấy lệ: đi, đi. Đình bò lồm ngồm, cũng không ai đoái hoài ngó lại. Đến bậc thềm, Đình như sực nhớ, mắt chớp chớp. Đình trông thấy cái bể nước đằng gốc cau, cái bể nước trơ trụi bên tường từ hồi Đình còn công tác dưới huyện. Hình như bây giờ để tôi vôi, thành bể trắng nhoe nhoét.

“… đồng chí…”

“Ai đồng chí với mày! Thưa các ông, mày nghe rõ chưa.”

“Các ông cho tôi nước, tôi khát quá.”

Mọi người thương hại, đem gáo dừa nước lại. Người đứng cạnh, chắc là tiểu đội trưởng, giằng gáo vứt đi.

“Không được liên quan giai cấp. Phải cảnh giác, nó cầm cái cán gáo chọc vào cổ chết bịt đầu mối thì sao.”

Qua sân, Đình bò lên bậc thềm, vào một toà nhà ngói. Đấy là công đường cũ của quan tri phủ, rồi sau là trụ sở uỷ ban huyện, Đình đã ra vào, thuộc từng xó. Dường như vẫn thế, chỉ khác đằng cuối, những lá cót mới quây ngăn thành gian riêng, ngoài thềm kê một hàng giá gỗ, trên đặt những chậu tráng men hoa và chiếc khăn mặt bông trắng vắt cạnh – nơi ở của các đoàn uỷ, và đoàn cố vấn đâu cũng giống nhau. Bàn ghế lộn xộn, những người làm việc đều lạ mặt, ai cũng quần áo nâu một loạt.

Đình được dẫn tới trước một bàn làm việc.

“Thưa đồng chí, phạm nhân Nguyễn Văn Đình…”

Người ngồi sau bàn, một thanh niên nhỏ nhắn, trắng trẻo đôi mắt kính trắng, như thầy lục sự ngày trước, nhưng lại đánh bộ quần áo nâu non mới. Không đoán được là cán bộ gì. Thoạt trông, hồi tưởng những hôm ở chỗ cửa phủ ngoài kia cách đây hơn mười năm, khi mới cướp chính quyền, suốt ngày trống ngũ liên gọi người đến ghi tên đầu quân. Lại phấp phỏng như hôm nào ta lên báo cáo đoàn uỷ, lại nghĩ không phải, lại…

Người ấy ngẩng nhìn Đình rồi hỏi nhẹ nhàng, nhưng lạnh ngắt, thấy Đình lúng búng “bẩm, bẩm…”.

“Cái gì?”

“Tôi xin hụm nước. Mấy hôm tôi chưa được hạt cơm hạt nước nào.”

Đình run rẩy ngã sụp xuống. Đám người giải Đình tới đã lui ra ngoài từ nãy, đứng hai bên cửa. Người ngồi bàn giấy ngẩng lên, hất hàm ra phía ấy, vẫn giọng dịu dàng:

“Cho nó uống nước.”

Một người ra chỗ những chậu rửa mặt, nhìn quanh quất rồi cầm cái nắp nhựa hộp xà phòng, vục vào cái chậu còn nước, bưng lại cho Đình.

Đình ừng ực uống hết nắp nước quyện mùi xà phòng thơm. Vẫn khát như móc họng, nhưng không dám xin thêm. Từ hôm nọ bây giờ mới thấy được đối xử có vẻ như khác.

“Mày là Nguyễn Văn Đình?”

Câu hỏi gay gắt, Đình lại buồn hẳn.

“Vâng ạ.”

“Vâng ạ thế nào?”

“Vâng ạ, Nguyễn Văn Đình.”

“Quê quán, tuổi, nghề nghiệp.”

“Tôi… tôi ba mươi tư… cán bộ phó phòng… tỉnh…”

“Được rồi. Mày mắc tội gì, biết chưa?”

“Không ạ.”

“Mày là thằng quốc dân đảng có rất nhiều tội ác với nhân dân.”

“Tôi không biết.”

“Câm mồm. Năm ấy, bọn phản động cho mày lập ra cái trại tên là đại đồng… Chúng mày thâm lắm, đại đồng là hai chữ dân đảng dđ viết tắt, là tên Quốc dân đảng của chúng mày. Ở trại, mày đã giết hàng trăm người vô tội. Hiện có nhiều người dưới xuôi lên nhận mả người tản cư đã chết ở trại cùng với nông dân trong huyện tố cáo tội ác của mày. Khai ra, mày theo phản động từ bao giờ, ai đưa mày chui vào Việt Minh.”

Ông toà án vẫn nói nhỏ nhẹ. Nhưng Đình nghe đến đâu, như từng miếng thịt sau gáy giật lên.

Đình luống cuống:

“Xin toà soi xét, tôi không phải quốc dân đảng, tôi không giết người.”

“56 người bị giết, danh sách từng người chết oan đây.”

“Không, tôi…”

Người trẻ tuổi đứng dậy, khoan thai như thầy giáo giảng bài:

“Các đồng chí dân quân, khai khẩu cho nó nói ra.”

Lập tức, tốp người trực ở ngoài ùa vào lôi Đình xuống sân. Một cái gộc tre xù xì đập bốp vào mồm Đình còn đương há hốc. Ba chiếc răng cửa Đình văng ra như những hòn cuội, máu tuôn lênh láng. Đình lăn ra, thở sằng sặc. Những đầu mấu tre giáng xuống như giã giò, thình thịch, vun vút, bất kể vào đầu, vào lưng. Đình trợn ngược mắt, nhuôi ra. Chiếc gậy chọc vào lưng, lay đi lay lại. Rồi gậy lại chan chát xuống, như thử biết người còn sống không. Hai bàn tay Đình duỗi như búng con quay rồi đuỗn thẳng không nhúc nhích.

Người cán bộ kính trắng đã đứng đằng sau từ lúc nào.

“Khiêng nó về nhà giam. Cho cơm nước tử tế. Nó mà chết, các người gác phải thế mạng, không giỡn đâu.”

Cả ngày Đình được một nắm cơm không và một gáo dừa nước lã. Cái miệng vừa mất răng, mặt sưng vều lên đỏ rừ, nhưng Đình cũng trệu trạo nhai nắm cơm và tu sạch gáo nước. Người canh gác đứng đợi Đình nuốt hết cơm rồi lại trói Đình vào cọc xong mới cầm chiếc gáo đi. Một người khác đến ngay, cắt lượt gác canh suốt đêm ngoài dóng cũi.

Tuy đau, nhưng nuốt được vào bụng của ngọc thực, Đình cũng tinh tỉnh đôi chút. Càng tỉnh càng khiếp sợ, có lúc muốn đập đầu chết ngay, có lúc tưởng tự dưng cũng sắp tắt thở. Làm sao nên nông nỗi này? Làm sao cái trại đại đồng lại lên trại quốc dân đảng? Những người ở xuôi tản cư không quen thung thổ đã ốm sốt rét ngã nước, cả vùng ai cũng biết. Thế là thế nào, bí thư, chủ tịch còn cả đấy, ở huyện, ở trên tỉnh à… à…

Có nhẹ trong đầu, nhưng khắp người đau như dần. hai tay bị thít vào cột, cả đêm Đình ỉa đái tuôn xuống quần. Có lúc khát rát cổ quá, cứ ngửa mặt như con cá mè úi nước. Những trại giam, chuồng giam thế này, Đình đã biết nhiều. Mọi khi anh đội rảo bước qua, rồi hét dân quân giải phạm nhân lên, điều không thể tưởng rồi ra có ngày anh đội lại phải trói đứng trong cái cũi tre. Đình đau đớn, ruột xót như bào.

Hôm sau, Đình lại bị dẫn lên. Mặt tấy to tròn như cái tráp. Đình tập tễnh lạch đi. Mà không biết thế nào, không biết ai giải cứu cho được. Cố cũng chỉ được vài bước, Đình với vịn người dân quân đi cạnh. Người kia chẳng nói chẳng rằng giơ báng súng tống vào mạng sườn Đình một cái, Đình bật tay ngã rụi.

Một lúc sau, cũng rật rờ đến được trước bàn.

“Toà hỏi lại, trả lời cho rõ: mày vào đảng phản động bao giờ, ai đưa vào, ai tổ chức cho mày trá hình chui vào Việt Minh, ai ra lệnh cho mày tập trung người, giết người.”

“Tôi lập trại nuôi người tản cư.”

“Lại chối hả? Không sợ mất nốt hàm răng?”

“Bẩm có chủ tịch, có bí thư ban cán sự huyện làm chứng. Các anh ấy bây giờ đương còn công tác trên tỉnh.”

“Hai thằng phản động ấy là trùm quốc dân đảng vùng này, đã phải đền tội trước nhân dân rồi. Chúng nó cho tiền mày lập trại giết người phá kháng chiến thế nào, khai rõ ra.”

“Thưa, không…”

Thế thì chết rồi, Đình hốt hoảng, run rẩy. Nhưng rồi Đình tỉnh hẳn. Những câu hỏi móc vào ấy Đình cũng đã quen tai, chẳng biết Đình đã từng nói hay Đình đã nghe hỏi thế nhiều lần. Cặp kính trắng của ông toà mặt hiền lành cúi xuống đọc tài liệu, ký giấy tờ, nhưng những câu ông hỏi, ông nói lại là con dao bầu cứ thế, nhất định mổ lôi từng khúc ruột gan lú lấp của Đình ra, khiến cho Đình chỉ biết, chỉ nhớ Đình có tội, tội nặng. Thế ra những thằng bí thư, thằng chủ tịch ngày ấy cũng là bọn phản động, mà “được đền tội” cả rồi.

“Tội nhân Nguyễn Văn Đình.”

“Dạ, em… Thưa, con…”

“Mày nhận thấy tội mày chưa?”

“Con nhận thấy tội rồi.”

“Tội thế nào?”

“Con giết nhiều người.”

“Mày vào đảng phản động bao giờ?”

“Đã lâu lắm con quên…”

“Không được quên. Đứa nào đưa mày vào? »

“Vâng ạ. Thằng chủ tịch, thằng bí thư, còn đứa nào nữa…”

“Làm sao mày lọt lưới đi cải cách?”

“Con không biết.”

“Mày lọt lưới cả phúc tra cải cách?”

“Vâng, con lọt lưới.”

“Thôi, cho về.”

Đình lại giở chứng, không muốn về cái chỗ thối ghê gớm ấy, giá cứ được đứng đây. Một báng súng đã thúc vào lưng, đun ra.

Nhưng hôm sau thêm nhiều người nữa ngồi ở hai cái bàn kê ai cũng hỏi hỏi, ghi chép, có cái máy chữ đánh tanh tách ngay cạnh. Thỉnh thoảng, một tờ giấy vừa đánh chữ bật ra lại đem cho Đình ký vào cuối trang. Đình cứ ký, cứ vâng dạ trả lời. Đình đã giết người thế nào, bao nhiêu người. Có người bị chọc tiết, phải không? – Vâng ạ – Có ai bị chôn sống không? – Có, có. – Mấy người? – Một ạ. – Cả thảy mười lăm người, danh sách đây. – Có người chân còn thò lên mặt đất? – Có ạ – Mày lấy cuốc chặt đi, phải không? – Vâng ạ – Chặt thế nào? – Tôi chặt một cái. Những chuyện ghê rợn cứ người nói người kể. Cái sợ, cái chết đến nơi, bí thư và chủ tịch huyện đã xuống suối vàng rồi, Đình cũng đương đi… Đình tỉnh rồi lại mê.

Người thẩm vấn hỏi một câu lạ, khác lúc nãy.

“Sao mày làm nhiều tội ác dã man thế?”

“Vâng ạ.”

“Tại sao, trả lời ngay!”

“Chúng nó bảo tôi làm.”

“Được rồi.”

Ở cũi giam, lại một nắm cơm, một gáo nước ngày ngày. Nhà Đình ở ngay trong làng, cuối phố huyện đây. Nhưng làm sao vợ con biết được, chúng nó có biết không. Mấy hôm nay thôi phải gọi lên hỏi nữa. Hai tay Đình được cởi trói, Đình ngồi phệt trên vũng bùn cứt, như con lợn quết bụng trong chuồng. Từ chân lên mặt vẫn sưng tấy, buốt đến tận óc. Đình chẳng còn chờ đợi gì, chỉ còn mong chóng được chết. Nhưng mà thế nào cũng sắp chết rồi. Cứ chôn đứng chôn ngồi thế này thì cũng chết đến nơi.

Một thoáng rồi ba tháng đã qua. Đình vẫn ngắc ngoải.

Hôm ấy, Đình phải điệu ra toà xử công khai. Cũng như những phiên toà giữa trời ở các xã. Một cái bãi liền chợ, đông nghịt cả hàng huyện kéo đến trường đấu. Trên hàng người, những chiếc đòn ống vát đầu tua tủa lên như nắm chông. Dễ thường có con mẹ hĩm mẹ cu vợ Đình trong đám ấy – các cụ để lại, xưa rày nhà Đình chỉ có mỗi miếng ruộng, hồi giảm tô, vợ Đình được là chuỗi, là tổ trưởng dân quân. Ôi nhưng mà có khi cũng bị đấu vì tội liên quan với phản động hay là đã chết cả rồi.

Những hy vọng vừa mơ màng tới, lại tối sầm. Từng đợt hô khẩu hiệu ồn ào bốn phía làm cho Đình xanh xám. Đình bị trói giật cánh khuỷu, mỗi bước cứ khuỵu xuống, hai bên dân quân lại lôi xềnh xệch. Trước dãy bàn xử án, mấy tấm cót ken nối nhau, dài hàng chữ hắc ín: Đả đảo Việt gian phản động Nguyễn Văn Đình. Bên cạnh, một cọc tre tươi còn cả chòm lá phơ phất được cắm xuống, đất mới loang lổ xung quanh. Đình đã trông thấy những cái cọc như thế ở các mít tinh xử án, cọc trói người đem bắn. Đình bủn rủn lại ngã gục, không gượng lên được nữa. Bởi vì Đình lại đã trông thấy khuất sau chiếc ghế dài các đại biểu ngồi, trang trí tết lá dừa lưa thưa, hai người vừa khiêng ra một cái quan tài gỗ gạo tươi còn lướp tướp trắng bệch. Đình đã biết cả.

Mấy báng súng tống vào lưng, đẩy Đình ngồi tựa ngay vào cái cọc tre ấy. Một chiếc thừng luồn vào nách, buộc néo lên cọc, giữ cho Đình khỏi ngật ngưỡng. Đình lom khom như quỳ nghiêng trông ra đằng chợ, không được sấp mặt vào hàng ghế toà án, mà cũng không được chổng đít xuống đám đông mít tinh dưới kia. Từ nãy, cái vỏ ốc thằng Đình cứ bị xoay đi xoay lại mấy lần, đằng nào thì Đình cũng trông thấy quang cảnh đã biết ở đâu.

Hình như linh tính thế nào, Đình nhác mắt ra. Thoáng đằng sau hàng dân quân cầm dáo mác, dưới kia, trong đám các làng còn đương kéo lên có một người đàn bà nhấp nhô. Không nghe tiếng hô khẩu hiệu, không giơ tay, chỉ thấy nhảy nhảy. Trông rõ cả người ấy bồng lên cổ một cu con, mặc áo ca rô xanh. Ối giời ôi, cái áo kẻ ca rô mà tháng trước Đình được chia cho phiếu mua ở cửa hàng mậu dịch trên thị xã rồi gửi về cho con. Thằng cu nhà Đình! Thằng cu nhà Đình! Mẹ nó xốc nó lên cho Đình trông thấy. Đình trông thấy rồi, thấy rồi. Nhưng cái cổ Đình sái như gãy không ngoảnh được mặt. Rồi chỗ đông nhô ra ấy bị mấy đầu gậy túi bụi rúi xuống, chẳng thấy nữa. Khắp bãi lặng im nghe toà đọc cáo trạng tội Việt gian phản động Nguyễn Văn Đình chống phá kháng chiến, lập trại giam trá hình giết chết hàng trăm người vô tội.

Xung quanh, mỗi lúc một phẫn nộ. Chốc chốc, bốc lên hàng loạt tiếng hô, đứt quãng cả tiếng người đương nói trên loa. Đả đảo Việt gian phản động… Đả đảo Việt gian… Bản cáo trạng dài lắm. Dần dần đã tan hẳn sương, trời quang. Một hàng năm người ngồi ghế cao sau tấm cót, hai đàn ông ba đàn bà, áo nâu non mới. Đình không dám nhìn ai, lại lẩn thẩn nghĩ không biết toà án của đội hay của trên đoàn tổ chức.

Ông nhỏ nhắn đeo kính trắng hỏi cung mọi khi hôm nay mặc đại cán màu xi măng, vai đeo túi dết, trịnh trọng đứng lên.

“Tội nhân Nguyễn Văn Đình!”

Có mỗi một cái loa tiếng e é, đặt trên bàn toà án. Đình ngồi dưới chỗ cái cọc trả lời hay im lặng, chẳng biết. Chỉ có tiếng ông toà án bốn phía nghe được mà thôi.

“Toà hỏi: ai xui mày lập trại giết người?”

“…”

“Bây giờ đồng bọn mày trốn ở đâu?”

“…”

“Mày đã giết bao nhiêu người?”

“…”

“Phải nói con số cụ thể.”

“…”

“Toà không mớm cung, ép cung, toà yêu cầu nói sự thật những việc đã làm.”

“…”

Một câu hỏi bỗng vang xuống hàng nghìn người ngồi, đứng dưới kia.

“Có còn ai lên vạch mặt tội ác Nguyễn Văn Đình?”

Mấy người lên, vừa chạy vừa hét. Toà cho đứng nói ở chỗ loa. Tiếng quát rít lên: “Thằng Nguyễn Văn Đình ngẩng mặt lên”, nhưng Đình không còn sức ngọ ngoạy được cái cổ, cứ trơ ra. Người ấy la hét, kêu khóc kể Đình bỏ đói, suốt ngày bắt lên đồi đào sắn trựa, lấy thức ăn nuôi lợn. Hôm nào cũng thấy xác người bị nhét trong những cây nứa tươi đập rập đem đi vùi, có đêm đốt đuốc khiêng đi.

The thé tiếng một người đàn bà:

“Đêm nào thằng Việt gian cũng đi hủ hoá. Nó hủ hoá cả tôi. Hu, hu…”

Ở dưới nhộn nhạo, không rõ người ta buột miệng cười ầm lên hay đả đảo, đả đảo, có lúc nghe tiếng khóc thảm thiết rồi lại dồn dập: Đả đảo Việt gian…

Một người vọt tới, xỉa tay vào trán Đình – mặt Đình ngoẹo đi.

“Ba đời nhà mày làm cai tổng, hành hạ cả làng, cả tổng. Có phải thế không, nhận đi.”

Đình lờ đờ ngước mắt như xem có ai bị trói bên cạnh. Nhưng không. Người ta đấu có mỗi một Đình, thằng bạch đinh.

“Ông mày cai tổng thì ông tao chết đường, bố mày làm lý trưởng thì bố tao phải bỏ làng đi ăn mày, đến đời tao…”

“Đả đảo! Đả đảo!”

Ông toà án ngồi giữa đứng ra nói:

“Tội trạng Nguyễn Văn Đình đã rõ trong cáo trạng và những tố cáo của quần chúng. Bây giờ sang mục toà nghị án.”

Rồi ông cất cao giọng:

“Tôi lấy ý kiến giai cấp nông dân, xin hỏi tên Nguyễn Văn Đình đáng tội gì?”

“Tội chết! Tội chết!”

Trong làn nước mắt mờ mờ, Đình cố trông lại cái chỗ người đàn bà bế con lên vai lúc nãy. Chẳng biết có phải lại thấy mẹ con nó đương nhảy nhảy không. ánh mặt trời chói lói, ấm áp trong các đội sắp hàng nhốn nháo, huyên náo: Chết! Tội chết! Đả đảo mật thám! Hát lên, hát lên: Hò lơ, hó lơ… – Không, không, Nông dân là quân chủ lực! Một hai ba: Nông dân là…

“A lô! A lô! Yêu cầu đồng bào im lặng.”

Bỗng lặng phắc:

“Toà tuyên án: tử hình Nguyễn Văn Đình! án xử ngay tại chỗ.”

Lại sôi lên:

“Hoan hô giai cấp nông dân! Kiên quyết tử hình Việt gian.”

Đình bị kéo đứng thẳng, ngay ở cái cọc tre ấy, dân quân xúm lại thít chiếc thừng bó giò cả chân tay, cả người. Lúc mặt Đình đã buộc miếng vải thâm thì cái quan tài gỗ trắng nhởn cũng được hai dân quân khiêng ra, mở nắp sẵn, đặt cạnh. Nhưng Đình đã li bì, không biết gì nữa.

Bài hát Nông dân là quân chủ lực vẫn vang vang. Mỗi đám gào một phách, loạn xạ như vỡ chợ. Chỉ có tiểu đội dân quân trên bãi cỏ trước cái cót vẫn lúi húi, hì hục, lặng lẽ. Người nện cán cuốc lèn thêm cho chặt đứng chân cọc. Người thít lại mối thừng quấn lên người phạm nhân. Đằng sau bước ra một tiểu đội dân quân khác. Tám người, súng trường bồng trên vai, áo nâu mũ lá cọ, thắt lưng da to bản bóng nhoáng cài hai quả lựu đạn có rọ đan cẩn thận. Tiểu đội ấy đứng dàn hàng ngang, trông về phía bãi trống, trước mặt người sắp bị xử bắn. Rồi hạ súng, báng dựng ngay chăm chắm, đợi lệnh.

Đột nhiên, một người từ đằng sau nhô lên chỗ bàn toà án. Ông toà nhỏ nhắn đeo kính trắng cúi khom giơ bắt tay người mới đến. Ông cán bộ đã đứng tuổi, mép để hàng ria con kiến, đằng lưng áo gồ hẳn lên chuôi khẩu súng lục to. Rõ ra cán bộ cấp trên. Cả mấy người đã đứng dậy. Có người lóc cóc chạy đi bưng thêm cái ghế tựa.

Ông cán bộ nói mấy câu với các vị toà án rồi bước vào trước loa micrô, thong thả, vang lừng:

“Thưa toàn thể đồng bào giai cấp nông dân huyện ta, tôi bí thư đại diện đoàn uỷ khu về truyền đạt một chỉ thị quan trọng của Trung Ương. Tôi thông báo để đồng bào rõ, kể từ giờ phút nhận được lệnh này của khu, các đội cải cách, đội phúc tra, đội chỉnh đốn tổ chức đình chỉ tất cả các vụ xử bắn. Toà án phải thi hành đúng pháp luật Nhà nước, yêu cầu triệt để thi hành.”

Ở dưới vẫn im, không hoan hô, không đả đảo. Rồi lại nhốn nháo và cứ thế lộn xộn, xô bồ, người ta kéo về không ra hàng ngũ gì cả, cũng không cản được, mà cũng không ai cản cả. Đình đã thỉu đi rồi và như bị bỏ quên vẫn bị trói đứng trơ ra đấy. Cả các ông toà án cũng lúng túng, chỉ có đoàn uỷ khu về chậm nhưng vẫn còn kịp, ông bình tĩnh và cẩn thận, ông đề phòng nông dân còn đương bồng bột, nhỡ đám đông xông lên đánh chết người, thì lại phạm pháp.

Đình được khiêng về chỗ giam. Ông bí thư khu xem xét lại mọi hồ sơ của Đình, bàn bạc với các ông toà án, đến hôm sau, Đình được thả. Xoá cái án chém mà nhẹ như không, những người già bảo rằng trời còn có mắt.

Không biết đến hôm nào Đình mới lết về được nhà. Làng làng vẫn im ắng vừa sợ vừa phấp phỏng, mặc dầu bây giờ đương bắt đầu công tác sửa sai. Nhưng đường xá có thảnh thơi hơn. Các đội sửa sai, vẫn quần áo nâu và ba lô về làng nhưng mặt mũi tươi tỉnh, gặp ai cũng chào và đi xe đạp đến tận trụ sở uỷ ban xã. Sửa sai mà, sửa sai cải cách, sửa sai phúc tra cải cách, sửa sai chỉnh đốn tổ chức – sửa sai chồng đống cả loạt. Lớp cán bộ mới từ huyện, tỉnh đến Trung Ương lũ lượt xuống cơ sở. Cán bộ đi cải cách trở về cơ quan, đơn vị. Những rễ chuỗi đã thành cán bộ đội, không dám trở về làng, hàng trăm con người ở lỳ các trạm chờ khắp các tỉnh, không biết rồi các địa phương giải quyết thế nào.

Để ý kỹ, quang cảnh cũng có khác. Buổi chiều, một chú bé đội chiếc mũ lá vắt vẻo trên lưng con trâu nhẩn nha lên đê gặm cỏ. Bây giờ người ta mới nhớ ra có con chim chích choè hót sáng sớm. Con chim gáy báo giờ trưa chiều. Con thủ thỉ thù thì ầm ừ trong hoàng hôn bên kia sông. Con tu hú về mùa quả vải. Khi hoa gạo nở đỏ khé, hàng đàn sáo đá đến đậu trên cành cãi cọ vang vang.

Nhưng đấy câu chuyện rồi xảy ra nhiều năm về sau.

Tất cả những chuyện trên tôi biết được và nhớ lại, vì cái hôm tình cờ tôi gặp lại Đình. Ai có thể tưởng tượng cuộc gặp gỡ kỳ lạ đến thế.

Có đến hơn hai mươi năm sau, không nhớ đích xác. Trên vỉa hè, các ngách ngõ và quanh công viên thành phố dạo này người ta ở đâu kéo ra lắm người lang thang đến thế. Gầm cầu, chân tường vợ chồng con cái rúm ró với mọi thứ việc, không thể gọi là việc được. Mót rác, ăn mày, ăn cắp, cướp giật. Khi mưa khi nắng vào những kỳ gió bấc thổi, không biết người ta trốn tránh thế nào.

Bao nhiêu bệ rạc tụ hội lại, quần áo rách rưới chăng mành mành trên sợi dây nhựa căng đợt trên đợt dưới giữa hai gốc cây bạch đàn đầu công viên. Những mẩu gạch làm ông đầu rau ám khói đen thui. Chiếc nồi nhôm cơm lên hơi nghi ngút. Một xoong rau muống xào bốc mùi tỏi. Hai đứa trẻ lấm láp nghịch chơi tụt dốc trên lưng mẹ đương cúi cời than bếp. Một người con trai mặt sốt rét bủng rứ ngồi với một ông lão trên mảnh chiếu đã xạm xám mồ hôi trải sát chân tường. Chai rượu trắng đặt cạnh một đĩa lạc rang ủ trong bọc giấy báo mới lấy ra. Ông lão mặt đỏ lựng ngất ngưởng chòm râu lởm nhởm không ra để, không ra lâu chưa cạo. Đôi chốc, người trai lại thò chân bới đống rác dưới gốc cây. Ngón chân cái chia gạt ra chỗ giẻ rách, chỗ miếng nhựa, chỗ chai bia, vỏ đồ hộp, ống bơ. Anh ta uống rượu đợi cơm mà vẫn chịu khó lam làm.

Cái mặt lão này, ờ cái mặt, như đã gặp ở đâu. Chỉ lạ bộ râu xồm xoàm tuổi tác, còn thì quen lắm. Con mắt ốc nhồi, cái mũi đỏ, cái ve đuôi mắt nhấp nháy. Trong đời, mọi giao du hàng ngày, biết đâu nhớ xuể, nhưng những khuôn mặt về già mà vẫn gày gùa thì thường ít thay đổi, không như những người béo phì. Vụt một cái, như óc mở nắp, nhớ rồi: hình như thằng Đình, cán bộ Đình.

Tôi bước tới:

“Đình phải không?”

Đình cũng nhận ra ngay được tôi.

“Bối hả?”

Kể ra hai con người tóc bạc da mồi, đã tả tơi cả, vừa nhận ra nhau bởi linh cảm, còn những hoàn cảnh và trường hợp đã trải với nhau thì không thể quên. Cứ ngẫm từ cái thằng tôi, vui buồn chỉ còn lại một nỗi ngậm ngùi. Nhưng Đình thì dường như không. Lũ ăn mày trôi dạt trên vỉa hè mà đình huỳnh như giữa nhà. Đình cười khớ khớ – lại nhận ra vẫn cái cười láu tôm, bất cần từ hồi ấy. Đình trỏ tay:

“Vợ tớ kia, bà hai đấy. Bà cả mất ở huyện Sông Mã, được mỗi thằng cu nhớn này từ ở làng đem theo.”

Rồi Đình hỏi tôi dồn dập:

“Thế nào? Làm ăn ra sao? Quần áo người ngợm coi bộ phờ phạc thế? Bây giờ thống nhất bắc nam rồi, phải phóng tay chứ?”

“Phóng cái con hươu!”

“Còn đẽo cơm nhà nước hả?”

“Bị đá đít đã lâu rồi.”

“Thì cũng như tớ ngày ấy, lo đếch gì. Dạ dày, gan ruột tốt chứ, làm một tợp.”

Tôi ngồi xuống mảnh chiếu. Ngỡ ngay mình cũng đương lang bạt như bọn nhà này. Đình nhìn quanh rồi chùi chiếc vung nhựa đựng muối, lật ngửa như cái phễu, rót cho tôi một vung rượu.

Lại chẳng đợi tôi hỏi, Đình kể một thôi một thốc, từ cái ngày đương ở Chuôm rồi bị bắt. Bao nhiêu rùng rợn đau đớn mà cứ liến thoắng bô bô như chuyện ai ở đâu.

Đình chép miệng:

“Đến nước ấy thì chỉ còn chết chứ gì. Ba đời cùng đinh mà nó đấu nâng lên ba đời cai tổng, ba đời mật thám. Toàn những bố láo, bố láo tất.”

Tôi cười, chọc tức:

“Cũng bố láo đại khái như cái trại đại đồng của mày. Tội giết người thì không có, tao biết mày, nhưng tội hủ hoá thì chắc là sẵn.”

Đình cũng cười, nhưng nói nghiêm:

“Không được nói bậy, tớ đã bỏ bao nhiêu tâm sức vào đấy.”

Tôi lấy làm lạ vẻ kiên quyết đột nhiên của Đình, trong khi Đình kể tiếp:

“Được tha chết, nhưng chẳng còn ai nhìn nhọ đến mình, ở làng để chết đói hả, thôi thì chết ở đâu thì chết, không chết ở đất này, vợ chồng tớ với thằng cu này bồng bế nhau lên tận huyện Sông Mã giáp nước Lào. Mấy năm sau dần dần mới có các nơi người ta lên Tây Bắc phá rừng khai hoang, ít lâu thành làng xóm mới.”

“Lại làng đại đồng!”

Tôi nói câu vô ý ngỡ chạm vào chỗ đau. Nhưng Đình đã cười cười nhăn nhúm cả mặt, cả râu ria.

“Đại đồng đã suýt toi mạng, chẳng chơi. Mà cũng chẳng ai cần đến mình, chân trắng dân đen mà. Cứ tự nhiên, cũng cái xóm cái làng, nhà nào nhà ấy như dưới xuôi. Tớ kỳ cựu ở lâu nhất, làm trưởng thôn, rồi lên chủ tịch xã. Bấy giờ miền núi đã cải cách dân chủ rồi cũng nhẹ nhàng thôi, làm chân chủ tịch chân không chẳng rợn gáy nữa. Cả vùng Mường, vùng Thái huyện Sông Mã gọi tớ là cán bộ Đinh, chủ tịch Đinh. Hãi chữ Đình quá, vứt mẹ nó cái dấu huyền đi, thành Nguyễn Văn Đinh rồi.”

“Oai nhỉ? Vẫn oai!”

“Oai chứ. Nhưng miền núi ngoài này chó ăn đá gà ăn sỏi, còn đâu moi ra lấy cái ăn, lại năm nào trời cũng ra tai, khi hạn hán, khi lũ ống, vợ tớ chết bị trận lũ lở núi. Đến khi nghe tin đã thống nhất, tiếng đồn trong Nam đất đai sướng lắm, làm chơi ăn thật, tớ mới cho vợ con…”

“Vào Nam?”

“Chưa. Mới về đến đây.”

“Ở lại Hà Nội?”

“Không, dừng tàu dừng toa thôi chứ ở lại Hà Nội đi ăn mày thì không được. Trong người thằng Đình này vẫn sôi nửa trăm độ máu cán bộ. Tớ được cả làng trên Sông Mã góp tiền cho đi vào thăm luồng trước. Nếu làm ăn được thì về kéo nhau vào. Tớ tạm trú lại đây để lo xin Hà Nội cho cái giấy kinh tế mới đi Lâm Đồng. Có giấy tờ mới chắc chân vùng vẫy. ái chà chà… Kể ra đất phường phố cũng dễ kiếm gạo. Mấy mẹ con nhà nó, cả hai thằng oắt tỳ kia với thằng nhớn này, với tớ, ngày ngày bới rác cũng ra gạo, ra rượu. Nhưng không, vùng kinh tế mới mới là nơi hoạt động của cán bộ Đinh.”

Đức tính ấy của Đình mà tôi không có, bây giờ tôi mới nhận ra, có thể nó bắt đầu từ cái trại đại đồng khiến anh suýt ngoẻo mà tư tưởng anh vẫn đa mang. Đình đậm trò tổ chức, khoái làm cán bộ, đến già vẫn vậy thì thành tích cả đời rồi.

Tôi ngồi chịu trận giữa bãi rác nghe Đình thia lia nói những câu tự tin và quyền hành. Không hiểu sao, mỗi lúc lại thấy ra cả đời tôi là thằng đụt, thằng hèn, chẳng có mảy may chí khí. Sao tôi không có được cái tin tưởng thảnh thơi như nó. Cái thằng Đình suýt chết chém đến bây giờ đầu râu tóc bạc rồi mà vẫn cười nhăn răng, vẫn đi chạy giấy tờ, vẫn mộng lập làng mới.

Đình hỏi tôi:

“Mày có biết cửa nào chạy được nhanh.”

“Tao chỉ biết có cửa mả thôi. Mà mày không có hộ khẩu ở đây.”

“Rồi xoay cũng ra thôi.”

“Tao chịu.”

Tôi giở giọng trốn việc. Nhưng tôi có gì, tôi bùi ngùi trạnh nghĩ thân mình cũng đang cầu bơ cầu bất. Tôi thở dài.

“Tao chẳng biết.”

Hôm sau, hôm nào lò dò qua hồ tôi tránh đi về phía ấy. Nhìn xa xa, thấy ở chỗ gốc cây bạch đàn vẫn thấy hơi loi thoi những mảnh quần áo. Chiều chiều, khói bếp um lên. ở các gốc cây khác cũng thế, phải một lúc mới nhận ra chỗ lão Đình râu Trương Phi ngồi xếp bằng. Vẫn đương uống rượu với thằng con trai như mọi khi. Tôi lủi sang bên kia hè phố.

Nhưng rồi lại cứ tò mò nhìn phía ấy. Một hôm, nhận ra những gốc bạch đàn trơ trọi, vòm lá reo reo. Không trông thấy dây phơi quần áo. Tôi đến tận nơi. Vẫn ba hòn gạch vua bếp trên đặt một ống bơ cơm đương sủi. Một người đàn bà tóc xoã sượi nằm đắp chiếu rên khừ khừ ngay bên cạnh. Người ốm thò tay run rẩy vun những mảnh giấy vụn vào bếp.

Nhà Đình đã đi rồi. Không biết Đình đi kinh tế mới hay đã đổi chỗ đến những xóm liều giữa bãi rác, kiếm nhanh hơn. Nhưng tôi đoán chắc Đình đi Lâm Đồng.

*

Thế là ngày ấy tôi sang thôn Chuôm thay “thằng phản động Đình”. Thôn này đã có địa chủ, địa chủ đã đi tù, yên chí anh đội. Duyên là chuỗi, tổ trưởng dân quân, Đình đã cắt đặt từ trước. Tôi vẫn không đoán được cái đêm rình thằng Đình ở cạnh đền, Duyên bẫy tôi vào lưới cô ấy hay là chuyện thật thế. Đằng nào thì cũng vậy thôi.

Nhưng ông trời khoảnh ác không cho cái thằng lười tôi yên thân. Theo kế hoạch chung, tối nào cũng họp tổ nông hội, họp thôn kể khổ, đôi khi đấu lưng cả địa chủ đã chết tới sáng. Phải soi mói cùng kiệt, không để lọt lưới. Bố mẹ nhà địa xuống âm phủ đã tám hoánh thì moi lên đấu bóng, đấu cho tăng căm thù đón ngày mít tinh xoá bỏ giai cấp địa chủ toàn xã. Nhưng tố khổ địa chủ sống vẫn sôi sục hơn. ở ngay cái sân gạch Bát Tràng mà xưa kia Lý Thìn, đến mỗi vụ thuế hàng năm đã nọc ra đánh không biết bao nhiêu cùng đinh chậm thuế, thiếu thuế. Đêm đêm người ta tính sổ tội. Lý Thìn cởi trần, thắt lưng lụa điều, cầm hèo, tổng cộng ngần này năm phó lý rồi lý trưởng trước khi lên chánh tổng, đánh bao nhiêu người, hai trăm tám mươi bảy cả đàn ông đàn bà, đếm được rõ ràng đến thế. Tôi buồn ngủ cứng mắt, rơi cái bút lúc đương vật vờ ghi chép. Mặc dầu, tôi vẫn chốc lại cố cất giọng khàn khàn: “Bà con ta ai có khổ nói khổ, nông dân ta vùng lên”. Nghe gà đã eo óc gáy dồn, tôi đứng dậy, chỉ kịp nói “bế mạc”, cả đám họp đã cung cúc chạy. Vẫn chưa thoát cái vất vả nữa. Các thôn lại nháo nhác. Có hai đám tự tử, một người đâm đầu xuống giếng, một người thắt cổ. Dưới thôn Đìa – thôn trọng điểm của đội trưởng, nửa đêm cháy hơn chục nóc nhà, người phải ra đồng chất đất cày như xếp ải làm vách lỗ đất hang chuột để ở tạm.

Cuộc hội ý đội sáng sớm vẫn thường ngày. Và từ tờ mờ, cái Đơm đã ra đứng đợi tôi trong bụi cây duối. Đến lúc vào họp, tôi vẫn còn thờ thẫn, nhớ lúc nãy hì hục với cái Đơm.

Đội trưởng Cự đứng lên.

“Các thôn báo cáo.”

Cuối bước hai, thôn nào cũng dồn dập. Có thôn, cả bốn địa chủ với hai phản động gian ác phá tường nhà tạm giam, trốn mất. Xóm nào cũng mất trộm gà, bốn con trâu bị dắt ra đồng bị đâm lòi ruột, kềnh đấy.

Đội trưởng Cự nói, ngay câu đầu đã gay gắt:

“Tố khổ bước một, bọn địa chủ còn nghe ngóng, bây giờ chúng nó mới ra mặt chống phá. Chớ quên thành tích đội ta đã giật được cờ đầu đánh địch nên mới được ra làm cải cách vùng đất hai trăm ngày này. Quân Pháp được rút chậm hai trăm ngày ở Hải Phòng cho nên xung quanh thành phố là cái túi đựng mọi loại phản động. Chi bộ xã này, một địa chủ cường hào gian ác đội lốt huyện uỷ viên về thành lập lúc bị tạm chiếm. Ngay khi ấy đã chi bộ hai mang, bí thư hai mang. Khi đội về, chi bộ có 47 đảng viên, đoàn uỷ cho ta thanh lọc đã duyệt đuổi ra 37 địa chủ, mật thám, quốc dân đảng và các thành phần linh tinh, thế mà thế lực chúng vẫn còn uy hiếp nặng nề. Tôi đã lên đoàn đề nghị xử bắn bí thư. Không thế, khí thế nông dân không lên được. Nó làm bí thư ta, lại bí thư phản động. Tôi đã đi cải cách ba đợt, chưa đợt nào gặp nhiều địch như lần này. Các đồng chí đã biết rồi, chúng nó đã chia sẵn ruộng đất trước khi đội đến. Hôm tôi vào nhà bí thư, nó khiêu khích ngay: “Ruộng đất các thôn trong xã đã được chia lại hết. Mỗi chủ ruộng, mỗi người được chia đều có hỏi ý kiến cả hai bên, thật công bằng. Thế là nhẹ việc cho các anh”. Có gớm không, vậy thì chúng ta chỉ còn có việc đầu hàng giai cấp địa chủ.”

Đội trưởng Cự quắc mắt từng đợt:

“Tình hình nghiêm trọng, các thôn phải tuần phòng cẩn mật suốt ngày đêm. Kế hoạch ba ngày nữa, duyệt xong hết địa chủ. Yêu cầu mỗi thôn lập hồ sơ đề nghị làm án nặng một địa chủ có tội với nông dân, có thế mới đưa được tinh thần nông dân lên.”

Hôm sau, mít tinh xử bắn tên phản động đội lốt bí thư chi bộ dưới thôn Đìa. Tôi đã nhát thấy máu, lại phụ trách toà án. Nhưng tôi đã có được lý do chính đáng. Đội trưởng Cự đã phát hiện ra bọn phản động thôn Đìa – tôi chưa tìm ra cách thoái thác trốn việc thế nào, đội trưởng đã nhận phụ trách toà án vụ này và phân công tôi huy động dân quân toàn xã bảo vệ mít tinh xử án.

Tháng này, các chuôm ngoài bãi chỉ còn xâm xấp nước. Ngoài sông, không có một người mò đến, kéo tôm, vắng cả trẻ con lau nhau đi đổ đó. Không biết người ta biến đâu, chẳng thấy một mống. Chúng nó đi xem hay chúng nó sợ, trốn ở nhà. Tôi dạo quanh một vòng bãi, gặp các tổ trưởng dân quân, dặn dò mấy câu kỷ luật rồi trở về, úp quyển sổ tay lên mặt, để cái bút máy mở nắp ngang nan chõng. Tôi định ngủ một giấc, nhưng cứ trằn trọc. Những tiếng ồn ào hô khẩu hiệu ngoài bãi vọng lại. Tôi lo sợ vẩn vơ về một người sắp bị bắn mà tôi cũng không biết mặt.

Đến lúc nghe đoàng đoàng mấy tiếng súng, tôi ngồi bật dậy. Thế là ngoài bãi mít tinh xong rồi. Tôi hí húi thảo một kế hoạch canh gác sít sao. Làm kế hoạch thì tôi quen rồi. Chỗ nào cũng để mắt tới, con chim lạ bay qua cũng phải biết. Tuần các ngõ, lại lập chen vào những chốt gác bí mật. Cán bộ đội các thôn đi tuần với dân quân. Tôi chạy đi gặp đội trưởng, báo cáo kế hoạch, làm như cả buổi mít tinh tôi vẫn có mặt ở đám du kích canh gác, bảo vệ.

Hôm sau, lại một người thắt cổ – một nông dân. Cứ có người chết, tôi được phân công viết điếu văn. Tôi có tiếng là người nhiều “văn hoá” trong đội. Chết đói, chết ốm, chết đuối, điếu văn đều gây xúc động và gợi căm thù. Hương hồn anh yên nghỉ, tên anh từ đây ghi vào lịch sử đấu tranh máu và nước mắt của nông dân xã ta… Tôi đã chép được ở đâu câu ấy. Cứ thế, cứ thế, chạy loăng quăng, giữa những việc lút đầu.

Tối nào tôi cũng đi tuần với tổ trưởng dân quân Duyên – kế hoạch tôi vạch ra cho dân quân cả xã cơ mà. Vả lại, mấy hôm nay mới có người thắt cổ, Duyên hốt đi qua quãng ấy. Bây giờ Duyên đi đâu cũng mặc cái áo lót cổ vuông của tôi, kể cả đêm đi tuần. Tôi lại phải doạ tôi sắp đổi đi thôn khác, tôi doạ không cùng đi tuần với nữa. Con bé vẫn nhõng nhẽo nài: anh cho em mặc ở nhà, mặc tối thôi, cái áo anh có bùa mê, anh ạ. Tôi đành chịu. Mà tôi cũng quen mũi cái mùi mồ hôi cỏ, mồ hôi bùn của Duyên, của Đơm. Vả lại, lũ trẻ con đến tối mới cõng nhau vào nhà không lên đèn. Bố Duyên thì hai mắt lông quặm, phải kẹp tre kéo mí lên từ thuở trẻ. Họp xóm, ông ngồi thụp vào một góc, tránh ánh đèn chói, tối đi ngủ từ lúc gà lên chuồng.

Đội tuần thôn chia từng tốp đi khắp. Tay gậy, tay súng, thắt lưng giắt quả lựu đạn điếc, vòng ra tận ngoài bờ tre. Quá nửa đêm tụ tập về trạm đầu xóm. Lúc ấy vãn dần. Đám con trai lỉnh đi, lùa theo những con mái nào, không biết. Khoảng một giờ sáng, trở lại trạm gác chỉ còn mấy cô – tối nhụ nhoạ, chẳng rõ mặt ai, các cô ngồi đứng xoã tóc gió thổi như ma đánh đu.

Anh đội và các cô dân quân rúc cả vào túp lều sàn lát mảnh hóp đá, cái giống hóp mỏng mặt nhưng chắc và mát lưng, nửa chân cột lều cắm xuống mặt nước ao làng. Các cô đẩy nhau nằm cạnh tôi. Duyên quát rít lên: “Tao là tổ trưởng, tao phải xít xao với anh đội”. Rồi Duyên nhảy phắt vào, xô cả tôi rạt sang bên. Duyên nằm sóng xoài ra gối cái báng súng trường lên đầu, làm như ngủ luôn. Không cô nào chen, tỵ nạnh nữa.

Chúng họ xoay sang nói kháy, trêu trọc nhau.

“Mai kia mày vác anh đội phó về Thanh Hà quê chồng mày à.”

“Tao để lại cho chúng mày đấy.”

“Thanh Hà chẳng đói như ở đây đâu, anh Bối cứ về. Có nước cáy, lại đến mùa rươi…”

“Bắt rươi vất bỏ mẹ!”

“Được lấy một lúc hai chồng, sướng quên chết rồi.”

“Cứ doạ làm anh ấy ghê. Anh Bối ạ, chẳng đâu bằng ở đất này, tháng ba ngày tám thì gầy giơ xương sườn, teo vú một tý chứ đến mùa ngày hốc hai bữa cật lực thì lại tròn như con cun cút. Béo nần nẫn ra ấy chứ. Anh đi với cái Duyên xuống Thanh Hà hay anh ở đây với chúng em?”

Duyên quát:

“Tao sắp về Hà Nội đây.”

Rồi rúc mặt vào lưng tôi, cười rinh rích.

Canh khuya, tiếng thở dài thườn thượt khao khát, tiếng cù nhau cười như chuột rúc, tiếng nước bọt nhổ bèn bẹt xuống mặt ao như cá đớp. Chỉ một lát đã chập chờn, im ắng dần. Duyên nằm đè lên tôi quẫy huỳnh huỵch, chẳng ra ngủ mê chẳng ra thức. Tôi thấp thỏm ngại tiếng rin rít mảnh giát hóp đương lung lay, khéo đổ cái sàn mất. Duyên rên ư ử như con chó mê ngủ rồi lăn ra.
Những hơi thở nồng nàn chờ đợi hai bên lay tôi tỉnh lại. Nhớ những cuộc tuần đêm khi còn ở trong Nông Cống. Hệt thế này. Sao những lúc mơ màng ngái ngủ thì người ta giống nhau thế. Ăn nằm với nhau hẳn hoi mà như ngủ mê. Tiếng thở lẫn tiếng ngáy rờn rờn nâng cổ tôi dậy, tôi bò sang. Chốc chốc, sàn lều rập rềnh như thuyền. Chỗ góc ao này chắc lầy lội, con chẳng chuộc, con chẫu chàng càng khuya càng uôm oạp đinh tai, át cả tiếng kẽo kẹt mắt nứa, mặt hóp lẫn lộn vào đấy. Tôi lần lần… Thì ra chưa cô nào ngủ cả. Có cô nghiến răng cắn áo níu tôi lại. Nhưng tôi đã như con lươn luồn đi, chẳng bao lâu đã lại rúc về chỗ Duyên. Tôi không còn sức lê đi nữa, tôi quờ quạng úp mặt ngủ trên bụng cô ấy.

Tôi như con trâu con bò, không ra sợ không ra liều. Những điều về công tác, về kỷ luật viết trên giấy trong lịch ngày, lịch tuần, lịch bước, lịch đợt. Tôi không hiểu, tôi không muốn hiểu, lỳ. Duyên nói tỉnh khô: “Anh mà ngủ với em khi ngày mùa ấy à, như nằm đệm bông. Bây giờ thiếu ăn hóp cả người thì em phải giữ, chứ cái xương bánh chè của em mà đâm lên thì anh gãy mạng sườn mất”. Đói mà khoẻ thế.

Nhớ lại quang cảnh hôm chợ huyện. Chúng tôi húc đầu vào hàng bánh đúc thì xung quanh mênh mông đói khát. Trong chợ, những cẳng tay cẳng chân đi lại như những cành que. Một người đàn bà ở đâu đến ngồi xệp xuống, bồng đứa con gái nhỏ trên tay. Thằng con trai khoảng bốn năm tuổi mặt già cấc bò bên chân. Mỗi lần người mẹ giơ đứa bé cho người hỏi mua, đứa anh lại oà khóc. Người mẹ mếu máo: “Nó khóc quá, tôi không dám cho”, chốc lại nói lại câu ấy. Một bà nói “Để tôi đi mua cái kẹo nhử thằng bé thì nó mới nhãng em nó được”. Người đàn bà vỗ vỗ lưng con, lặng im. Xung quanh đổ đến mỗi lúc mỗi đông. Cái người tần ngần đứng hỏi mua trẻ con, người ấy cụt một tay. Có người đòi xem thẻ thương binh của anh ta. Tiếng ai kêu lên: “ối giời ôi, cái lúc lung tung này, thằng Ngô Đình Diệm ở trong Nam cho người đi mua trẻ con rồi ném vào bụi, đổ cho ta giết. Đã tìm ra khối đấy. Phải cẩn thận cái thằng địch, đồng bào ạ”. Mấy người cho mẹ con nhà nọ cái bánh đúc ngô. Hai đứa trẻ nhai nhỏm nhẻm. Người cụt tay hỏi mua trẻ đã bỏ đi từ lúc nào.

Giấc ngủ mê mệt của tôi rối loạn những chuyện đói. Hết cả hơi, tôi cũng đương đói dốc bụng. Tiếng vành bánh xe bò người kéo lộc cộc, các làng đi chợ sớm đã loẹt quẹt gồng gánh ngoài kia. Tôi uể oải mở mắt. Các cô dân quân đã đi hết, chỉ còn mình tôi nằm trơ giữa cái lều. Tôi lồm cồm, vơ cái sắc cốt, đứng dậy vươn vai, oằn lưng bẻ khục răng rắc mấy cái rồi về xóm Am hội ý đội. Tôi bước nhấp nhô trên cánh đồng cày ải, đất xám bàng bạc. Đổ ải, những guồng nước kĩu kịt, người tát nước nhịp đôi, nhịp ba, nhịp bốn lên đồng cao. Chỉ mấy hôm nữa, đất ngấm nước tươi màu dần, đường bừa ào qua váng nước trắng mặt ruộng. Mạ đã đến tuổi, nhưng chưa biết thế nào. Năm nay chạy đói mới cấy cưỡng, đồng đất vùng này vốn chỉ ăn được một vụ mùa.

Vào họp, đội trưởng Cự tuyên bố:

“Thảo luận công tác thôn Am, thôn Chuôm.”

Thường lệ, các xóm “mọi việc đều tốt”, cả cái hồi tôi bối rối ở bên Am, chưa mò ra địa chủ, tôi cũng “thưa các đồng chí… tôi đương lên phương án”. Ai nấy hí hoáy ghi sổ tay, tôi tẩn mẩn vòng móc xích những chữ o liền nhau. Mới sáng mà mắt tôi mờ như quáng gà, tôi ngủ gật, ngòi bút rụi xuống giấy, nhoét mực. Nhọc quá, mà từ đêm chưa được một hột vào bụng.

Nghe tiếng “thôn Am… thôn Chuôm…” mắt tôi bỗng ráo hoảnh, cơn ngủ biến mất, tôi ngẩn người nghe đội trưởng nói:

“Về tình hình thôn Am trước. Khuyết điểm, đồng chí Bối sẽ kiểm điểm sau về việc hai tuần lễ không phát hiện được địa chủ. Tôi về thay, tôi đọc tài liệu rồi để nửa buổi thăm nghèo hỏi khổ đã lòi ngay ra một thằng địa, đem hồ sơ lên đoàn được duyệt tức khắc. Suýt nữa con cá chuối lọt lưới. Cái thằng tư Nhỡ lù lù đấy chứ đâu. Thằng ấy bảo là học trò trên huyện, về chân lấm tay bùn đã lâu, nói láo. Cái cây tre buộc sợi dây thép lủng lẳng nó bảo là hộp galen để nghe tin tức của đài ta, đồng chí Bối tin thế hả? Không, tôi ở quân đội tôi biết, nó là cái bắt tin, đánh tin đấy. Thằng Tây đã cho nó lặn lại thì nó phải có thông tin liên lạc. Mà rõ ràng đấy, cửa nhà nó có cái bảng đề chữ Tây treo to bằng cái hoành phi sơn son thếp vàng trên bàn thờ bố nó. Rễ chuỗi đã lôi nó ra dấu cho một đêm, nó gục. Địa chủ tư Nhỡ đã phải ký biên bản nhận tội tay sai phản động rồi. Tôi đã cho dân quân gác không cho nó được ra khỏi cửa, đợi lệnh của đoàn. Còn sang đến mục không có lao động, thì nhà tư Nhỡ đã thuê người từ cấy hái đến đánh cây rơm. Người làm nhà nó đã tố hết. Bây giờ nói về rễ chuỗi thôn Am, anh Diệc vốn là cố nông, đồng chí Bối đã bắt rễ đúng. Nhưng khuyết điểm là anh Diệc không được bồi dưỡng, chuỗi là cô Đơm con anh Diệc cũng chỉ có tên thế thôi, rễ và chuỗi đều chưa có tác dụng. Địa chủ Thìn thật độc ác, vợ anh Diệc què gãy mù loà thế mà địa chủ Thìn bắt anh Diệc lấy rồi lại phải cày cấy trả nợ. Tôi đã chỉ định đồng chí Diệc làm trưởng thôn, đồng chí Đơm làm tổ trưởng dân quân. Tôi sẽ phát động đồng chí Diệc, đồng chí Đơm lên ngang mặt đấu địa chủ Thìn hôm toà xử án.”

Tội ác địa chủ Thìn thì tôi đã nghe bác Diệc và thằng Vách kể, họp đội tôi vẫn báo cáo, nhưng đến lúc đội trưởng Cự nói thì như những việc đội trưởng vừa phát hiện mới đúng. Không hiểu sao, nghe Cự nói, tôi lại nghĩ ra một chuyện nhảm khác: thằng này đã ngủ với con Đơm. Tôi càng đinh ninh thế khi cách đây mấy hôm đội trưởng Cự đưa vợ ở Đìa lên chào đội, nói vợ đồng chí sắp đi công tác. Cô “rễ” ấy đã được Cự lên đoàn uỷ xin cho đi thoát ly. Cô bé ngơ ngác hôm nào, đã thành người cán bộ áo nâu quần thâm mới, vai đeo túi vải ka ki, nhanh nhẹn hoạt bát. Cái ám ảnh mấy đợt cải cách đội trưởng đã “chế tạo” ra không biết mấy cái “rễ” vợ như thế lại luẩn quẩn trong tôi. Vợ mà đi công tác thì “thằng Nguyễn Bổn” ấy lại ngủ ngay với người khác thôi. Cái thằng mắt lúc nào cũng đỏ cá chày thế kia chịu sao được tối nằm không. ờ mà mấy sớm nay không thấy Đơm đón đường kéo tôi vào bụi duối. Mọi khi Đơm vẫn liều lĩnh như con cún đói ngồi rình chộp mồi trong bụi. Đơm núp trong ấy từ lúc chưa tỏ mặt người. Có hôm, tôi chui được ra thì áo toạc chỉ lung tung, một bên má bị cắn rớm máu. Đến họp đội, tôi nói bịa vô ý đâm vào cái cọc chạn bát.

Mà Cự đã phân công anh đội khác về Đìa. Cự đã lên ở nhà bác Diệc, văn phòng đội, họp đội cũng lên đấy. Tôi mang máng đoán ra. Tôi chẳng ghen tức nỗi gì, tôi chỉ phân tích ra thế. Đi họp, tôi chỉ nghĩ quanh quẩn vẩn vơ.

Nhưng vài hôm không gần gũi Đơm cũng lại nổi cơn thèm. Cái ngây ngô của Đơm đáng yêu làm cho mình có oai đàn ông hơn trước những thành thạo ngỗ ngược của Duyên. Trời đương mưa lăn phăn. Tôi vác cái cào như đi đánh cỏ, tôi loăng quăng ra đồng. Xem ngộ may có gặp Đơm. Cánh đồng và gò đống xa vắng trong mưa mù. Nghe tiếng cả bước chân người rào rạo trên cỏ. Giá ban ngày nắng ráo mà được lăn lộn ở đây, vật nhau có rống lên như bò cũng không phía nào nghe tiếng. Đương nghĩ thích thú, thấy bóng người trong bụi mưa đi tới. Tôi ngợ là đội trưởng Cự. Cự thật. Trông trước thấy cái sắc cốt thâm xịt nước mưa – Bối đấy à? Làm gì thế? – Tôi đi cào cỏ – Thôi, về đã. Có việc quan trọng. Nghe hai tiếng quan trọng, tôi đã thấy đắng miệng. Tự dưng nghĩ ngay đến cái lúc Cự thì thào thằng Đình bị trói nửa đêm đem đi.

Tôi bước theo Cự, chẳng nói chẳng rằng. Cự cũng im. Tôi càng rờn rợn. Vào nhà bác Diệc đã thấy cả hơn mười anh đội các thôn về ngồi đấy.

Đội trưởng Cự đứng dưới mái tranh, cất tiếng như hô khẩu hiệu:

“Báo cáo các đồng chí, trên đã duyệt án tử hình địa chủ Thìn.”

Những người ngồi quanh vỗ tay độp độp như đập mẹt, tôi còn tìm chỗ gác cái cào cỏ và chưa hết cơn hốt hoảng vừa rồi, chưa hiểu thế nào, đến lúc nghe thấy thế lại sợ tiếp. Địa chủ Thìn ở xóm Chuôm, lại bận bịu lôi thôi đến tôi rồi. Chỗ giam lão ta cũng tại ngay nhà lão, tôi thường đi qua kiểm soát dân quân canh gác. Một lão già tám mươi tuổi héo hắt như cái dây khoai, mắt thông manh mù dở, khoeo chân không duỗi ra được. Chẳng có án thì cũng chỉ dăm hôm nữa lão ngoẻo thôi.

“Tôi phân công đồng chí Bối đội phó phụ trách toà án chịu trách nhiệm hôm tổ chức xử địa chủ Thìn. Các thôn khác huy động triệt để quần chúng đi dự.”

Lần này, tôi không thể lủi đi, đổ việc cho ai. Thế là, cũng đột nhiên tôi cứng cáp, nhanh nhảu, phát biểu và ghi chép nhoay nhoáy nhanh như máy.

Tôi ra họp tổ dân quân. Bọn con gái vừa trông thấy tôi, đã nói to như mách nước cho tôi biết phải theo thế. “Các đồng chí nam vào bắt thằng tù. Chúng em đứng ngoài canh gác”. Cả tổ trưởng Duyên cũng vào hùa với chúng nó và tôi đã cắt đặt theo như thế. Sớm hôm sau, bốn nam đeo súng trường vào chỗ giam địa chủ Thìn. Người nào cũng hăng hái, sừng sộ khác thường như vừa có chén rượu. Tôi đứng giữa nhà, nhìn bao quát. Hai người mở chốt cũi. Đũng quần lão già dày kệp cứt, cả gian âm u ẩm ướt thối không chịu được. Mấy người nhà xúm lại khóc rưng rức, đỡ lão Thìn.

Tôi hét:

“Cút ra đằng kia.”

Một dân quân vào bếp lấy ra cái đòn ống. Trưởng thôn Cối ở đâu xồng xộc chạy vào, cúi xuống, lột cái áo vét dạ đen địa chủ Thìn đương mặc, ngẩng lên cười hê hê: “Để cho mày khỏi vướng” rồi Cối xỏ tay vào mặc áo luôn. Lão tù bị buộc tay buộc chân, hai người khoác súng xỏ đòn ống, khiêng bô ông bêêng đi. Cái lưng áo dạ với hai vai nhấp nhô của Cối, tôi ngỡ đấy là lão Thìn đã lộn kiếp, nhập sang người thằng kia.

Bãi mít tinh đông nghịt người. Giữa đám, lại những túm lá móc diều, những tàu dừa kết thành một hàng rào xanh trang trí sau bàn toà án.

Cuộc đấu lên nổ liên tiếp, khi địa chủ Thìn vừa được đặt xuống ngồi tựa vào cái cọc. Người chạy lên chạy xuống, tới tấp.

“Mày có biết tao là ai không?”

Thế nào mà tiếng lão già sắp chết này vẫn nói sang sảng:

“Thưa bà nông dân… tôi không biết…”

“Tao đi ở cho cháu mày.”

“Thế thì tôi không biết thật ạ.”

“Mày lấy roi cặc bò đánh tao. Đả đảo địa chủ!”

Rồi hớt hải chạy xuống giữa tiếng đả đảo cuồn cuộn trong đám người.

Cái bãi lau chen chúc loi thoi, đầm nước trắng đằng cuối. Những con chim hét đen tuyền, những đàn cò trắng không dám đậu xuống, lượn quanh trên trời với mấy con diều hâu. Thường ngày, trẻ con chăn bò trên bờ cỏ lác đằng kia. Cái sa chắn cá trong hõm sâu vào lạch ruộng, xưa kia đấy chỉ toàn bãi rậm. Xa xa, dưới bóng gò đất chơ vơ giữa đồng, những xóm mới, xóm trại nhích lại dần. Tôi vẫn hay đi qua đấy, sáng chiều nước ánh lên bóng người tha thủi ngoài sông ngoài đồng về lúc chặp tối, đã bao nhiêu đời buồn bã thế.

Lát nữa, lão Thìn sẽ chết ở cái bãi mà mới năm trước, lão thuê cả lính bốt hương dũng đốt cỏ lác cày vỡ hoang.

Lão Thìn lả người, lăn quay ra giữa bãi. Đống văn tự, giấy tờ, sổ sách chữ Tây chữ ta trong nhà lão khuân ra đốt, khói um lên, tàn than lả tả bay như đàn bướm đen. Nhưng tiếng quát xô lên: Không cho nó nằm! Nó nằm sập gụ cả đời rồi! Bắt nó đứng! Bắt nó… Địa chủ Thìn bị xốc lên, trói hẳn vào cái cọc đã chôn sẵn. Đầu lão ngật đi. Chốc chốc lại ỉa tháo ra cái quần đã tụt vòng hẳn xuống hai ống chân bằng cái ống nứa.

Tôi ở ghế chủ toạ, đứng lên đọc một cáo trạng tội ác lão Thìn. Nhà nó đã mấy đời bóc lột, càng ngày càng giàu, càng ác. Nó thu thóc tạ cho Pháp, cho Nhật, khi kháng chiến đội lốt làm chủ tịch xã, đến hồi Tây về nó ra làm tổng uỷ – nó là con chó săn của hai, ba đế quốc. Con gái nó đui què, câm điếc, nó bắt nông dân phải lấy, rồi lại phải cấy rẽ giả nợ… Đả đảo địa chủ, cường hào ác bá…

Giữa những tiếng lao nhao hô đả đảo, bác Diệc run run bước lên. Mặt tái ngoét như con gà cắt tiết. Tổ dân quân mấy xóm dàn hàng ngang. Đơm khoác súng đứng hàng đầu. Duyên mặt đỏ hây, cúp mắt nhìn xuống hai đầu vú đương cường cong tớn. Thấy thế, tôi mới nhớ vẫn Duyên ấy. Đơm thì nước mắt ròng ròng nhìn lên tôi. Có phải những giọt nước mắt nói: ông em ngày trước đấy.

Bác Diệc chỉ tay vào địa chủ Thìn:

“Tao thù mày! Tao thù…”

Rồi khóc rống lên, chạy xuống.

Đội trưởng Cự xô ngay ra trước loa, quát to:

“Hôm nay là ngày thắng lợi của giai cấp nông dân chúng ta, cấm không ai được khóc.”

Ở đám các làng ngồi chen chúc, một bà lão gầy rạc, da mặt đọng từng vũng nhăn nhúm. Bà lão nói choang choác: “Đận đói năm trước, nhà tôi một tháng chết mất ba người. Đến đận này ruộng kiệt nước, đói dài hai năm mà không ai chết. May được bộ đội về dạy giồng rau muống, rau lang ăn trợ thời. Cái khi thằng Thìn làm phó lý, chồng tôi chậm thuế thân, thằng Thìn cho tuần vào bắt cái nồi tư, tôi đương kéo vó bè, nó rỡ cả vó. Nhờ các ông các bà lên kể khổ hộ tôi.

Lại nghe loác choác, bô bô tiếng lão Cối điếc:

“Bố thằng tư Nhỡ làm hương kiểm, một đêm, nó sai tôi đi úp trộm cá ngoài ao làng. Khán thủ bắt được trói đánh đau quá, tôi phun ra hương kiểm sai. Khán thủ cũng phải sợ thế lực hương kiểm, từ bấy giờ hương kiểm thù tôi làm nó bẽ mặt, cứ gặp tôi đâu là đánh. Một đêm có lệnh canh đê, trên phủ tư về gấp. Khán thủ cho tôi đem giấy vào hương kiểm. Hương kiểm nhà giàu sợ cướp đã có hiệu trước, không cho tuần đinh gọi nửa đêm, hễ có việc quan chỉ được đứng ngoài thổi tù và gọi. Tôi đứng bờ ao, rúc tù và từ nửa đêm đến gà gáy sáng, phồng rát cả hai má, lộng óc, rét run cầm cập vẫn không thấy ai ở nhà hương kiểm ra. Sau trong xóm nghe tù và điếc tai quá, phải chạy vào gọi hộ. Hương kiểm vác hèo ra nạt: “Sao mày không thổi giục chứ thổi như đi tuần thế thì bố mày cũng không biết”. Rồi quất tôi ba hèo bắn máu đít. Tôi đã ghi cả vào óc rồi. Cha làm con chịu, cái thằng tư Nhỡ bây giờ phải đền tội cho thằng bố, thằng cụ, thằng kỵ nhà nó.”

Một người nói:

“Hôm nay mới đấu thằng địa chủ Thìn, chưa đến lượt tư Nhỡ.”

“Ấy chết, tôi cứ tưởng. Hôm nào đến thằng tư Nhỡ?”

Chẳng ai trả lời lão điếc lại say rượu. Không biết có phải vì cái khổ đã đau đớn lắm rồi, lại nghe nhiều rồi, chẳng mấy người muốn nói nữa. Một lát, cái bà lão lúc nãy lại hỏi: “Nó lắm vợ quá, năm vợ, mười bốn con, đã ai lên đấu nó cái tội bóc lột ấy chưa?” Cũng không ai trả lời câu hỏi ngu ngơ.
Một người dáng như tổ trưởng, xách cái gậy lảng vảng đến “Đây không phải cái chợ. Ai xì xào nữa người ta cắt lưỡi đấy”.

Cả nghìn con người lại im như tờ. Khi một loạt tiếng súng toả khói xanh um lên, đám đông ở dưới đẩy nhau chạy. Ai cũng khiếp tiếng nổ. Người hãi máu, bịt mắt lại. Người nhốn nháo vỡ ra các ngả. Tiếng trống cà rùng của đội thiếu nhi nổi lên khua rầm rầm, vang vang. Thế là địa chủ Thìn chết, chết trước cả cái khi toà án phúc tra. Chẳng biết địa chủ Thìn mà bị xử chậm lại gặp đội sửa sai thì có được tha không, nhưng dẫu có may mắn thế, chắc lão cũng chết ốm trước đấy lâu rồi.

Thế mà ngay tối ấy lại có họp – một tổ cán bộ đoàn uỷ xuống đi với huyện vận động sản xuất và hô hào đóng thuế nông nghiệp. Việc hoả tốc phải quán triệt ý nghĩa quan trọng vụ mùa tới và định mức thuế tạm thu. Mọi đêm, cuộc họp nào cũng chật đứng ra cả ngoài sân đền. Tối nay mỗi xóm có tổ vài người gom lại hơn mấy chục đầu lố nhố. Đi mít tinh cả ngày lại xem bắn người, khiếp quá, chưa lại sức, hay tan tác đâu chưa hoàn hồn về, hay sợ lại phải họp ở gần cái bãi ma ban trưa, người ta hốt hoá ỳ ra. Nhưng việc cấp bách không thể hoãn, tối mai tổ cán bộ huyện đã sang làng khác.

Cuộc họp lèo tèo mà vẫn hỗn độn, triền miên như mọi khi. Một cán bộ đọc to thư của liên khu kêu gọi đóng thuế nông nghiệp sau phổ biến bốn câu hỏi để lần lượt thảo luận. Vài người – có những người đã thành thói quen ở cuộc họp nào cũng hay nói, nói nhiều, đã quen mặt và nhàm tai, cả đám người khác thì rúc đầu vào cánh tay, làm con vịt ngủ.

Rồi cán bộ trịnh trọng phổ biến mức thuế của xã cho xóm: vụ này tạm thu năm tấn. Cán bộ xoè hai bàn tay làm loa nói to kêu gọi mọi người thi đua đóng thuế. Hai tổ trưởng nông hội ngủ từ lúc nào, có người đằng sau đẩy vào đít, bật dậy, ú ớ giơ tay: tôi thi đua – Tôi, tôi nữa – Đề nghị cho tổ tôi… Lại một người kêu to: đồng ý, đồng ý. Ai cũng hô theo: đồng ý…

Vẫn chưa họp xong. Còn việc bình cho một nông dân lên huyện học bảy ngày để về làm công tác vệ sinh viên. Có người nói: Còn có cụ Cối rỗi việc, lại thành phần rễ chuỗi, cho cụ ấy đi học vệ sinh viên. Một người ghé tai cụ Cối, hét lại thế. Cụ Cối cười: “Cấp tiền ăn cho tôi thì tôi đi ngay” – Rồi cười giơ hàm răng móm, lão già tai lành tai điếc mà khôn lòi tù và. Cả làng ăn rau muống khô cứu đói lại đòi người ta đóng tiền cho lên huyện ăn cơm.

Cán bộ cả tiếng hô hào tương thân tương ái, ủng hộ người đi học vệ sinh là tiến lên văn hoá mới. Chẳng ai để tai. Nghe tiếng lão Cối ngáp to: “Gà gáy rồi, giải tán thôi, giải tán thôi, có gì mai họp nốt”. Mọi người ù té về. Cũng chưa ngã ngũ ai lên huyện bảy ngày học vệ sinh viên.

Tôi mệt bã người. Vẫn còn ám ảnh mùi máu, mùi hôi thối ban ngày. Cổ khản lại, tôi bỏ không nuốt được bát rau muống khô của lão Cối để phần. Vùng này đương vào vụ giáp hạt, bữa nào cũng cơm lẫn cám, với rau lang, rau muống khô trộn muối. Thế mà lại kêu gọi sản xuất, trong khi cây mạ vàng ỏng mới cắm xuống ruộng, chưa biết thế nào. Lại còn sắp sẵn thuế tạm thu, bổ đầu từng xóm. Tôi không hiểu ra sao, lại nghĩ bài bây ra sao thì ra. Cũng như trong buổi họp, bảo thi đua, người ta giơ tay thi đua bạt mạng. Duyên vẫn cầm tiền của tôi, thấy tôi không ăn cơm được thì mai lại lên chợ mua bánh đúc ngô, cái ngô nướng, chiếc bánh khoai, đem về cho tôi ăn vụng như cái Đơm mấy hôm trước vẫn đi mua thế.

Tôi lần vào giường góc nhà nằm gối đầu lên cái túi. Bụng đói cồn cào rỗng không. Những việc ban ngày dữ dội, việc ban tối hội họp đến kiệt cùng kể ra cũng đã quen qua mấy đợt, chỉ mệt, mệt rũ. Chắc Duyên đã đi canh gác. Tôi thiếp đi lúc nào không biết.

Mơ màng như có con mối hay con chuột đụng vào chân. Tôi mở mắt, quơ lên cái túi. Không biết đã khuya thế nào, ngoài sân tối om. Trong lỗ thủng trên mái lá nhà dột, nhấp nhánh ánh sao như những con đom đóm bay. Sau trận mưa rào cuối mùa còn sót lại, ngoài chuôm, ễnh ương đối đáp nhau inh tai. Thình lình tôi nhìn có bóng người lù lù trước mắt. Nhưng không phải Duyên. Là Duyên thì đã đi xộc vào, không lom khom ngồi xổm thế. Hay là ma, ma lão Thìn. Hay là thằng Cối mặc cái áo vét đen bị hồn địa chủ nhập vào ma đương về trêu tôi.

Tiếng thì thào:

“Anh Bối! Anh Bối ơi!”

“Hứ!”

“Em là Nhỡ, tư Nhỡ đây. Anh sang đây, anh bỏ em rồi. Em sắp phải chết bắn như địa chủ Thìn a?

Tôi ngồi dậy, nguôi cơn hốt. Cái thằng tư Nhỡ bên xóm Am. Nó bị câu lưu tại nhà rồi mà. Chắc nó leo tường lội tắt ao nước sang đây, quần áo ướt sột soạt. Tôi rít khe khẽ trong bóng tối:”

“Cút ngay! Bỏ mẹ cả lũ bây giờ! Cút!”

“Anh sắp bắn em thật ư?”

Tư Nhỡ lại lắp bắp. Bỗng có tiếng lên đạn lạch xạch khô khốc lạnh rợn ngay sau lưng. Tổ trưởng dân quân Duyên hiện ra, thúc mũi súng vào cái bóng ngồi dưới đất.

“Bước! Cho ăn một phát đây này.”

Cái bóng rúm lại, chạy ra, tan vào sương đêm.

Duyên cất súng trong xó, lôi ngay tôi xuống đất. Đàn bà đàn ông ở đây ăn nằm, đùa cợt với nhau như gà, chỗ nào lúc nào cũng được. Tôi thấy hợp với tính tôi. Mặt đất đóng hạt trám lổn nhổn mát lạnh như lát gạch mà tôi không cảm thấy. Gian bên, lão Cối ngáy pho pho lẫn tiếng nghiến răng, tiếng mê ngủ những đứa trẻ đạp nhau.

Duyên dúi vào tay tôi chiếc bánh dày nhân đậu.

“Chiều nay nhịn cơm hả?”

“Ăn vào sợ mửa, còn tanh quá.”

Duyên đút bánh vào miệng tôi, mỗi đứa cắn một nửa, vừa nhai vừa lè đổi cho nhau ăn chung, giữa những câu lào thào rì rầm.

“Anh chết nhé, liên quan rồi, đêm địa chủ mò tới, dân quân bắt được.”

“Nó dẫn xác đến chứ.”

Duyên lại đe câu khác:

“Từ giờ cấm không được đi tuần đêm.”

“Sao?”

“Sao trên giời, sao ở ngoài lều canh ấy. Cứ ư ử như chó lẹo nhau bên cạnh người ta, điếc cả tai. Nói cho mà biết, bận sau thì con này thiến đấy.”

Tôi hãi cứng đơ cả hàm, không nuốt nổi miếng bánh. Duyên lại nói rành rọt.

“Vải thưa che mắt thánh a? Lại cái con Đơm ở bụi duối. Cắn cho một cái đứt lưỡi chết tươi này. Chừa chưa?”

“Chừa rồi.”

“Thật không?”

“Thật.”

“Thề đi…”

Tôi chưa kịp ú ớ đã bị Duyên vật bằng mấy thằng đàn ông lăn ra. Cái mệt thật êm đềm. Lại kể đàn bà con gái vùng này rõ thật ngỗ ngược, lên cơn cứ dằn ngửa người ta ra, khiếp quá. Đói toát mồ hôi lạnh thì càng dữ.

Khuya khuya, Duyên thủ thỉ:

“Em sắp được kết nạp, có phải không?”

“Không biết.”

“Cả bố em nữa.”

“Không biết thật mà.”

“Kết nạp em, anh phải đứng tuyên bố.”

“Đã bảo không biết thật mà.”

“Cái lão đội trưởng mắt cá ngão đỏ ngàu, trông đã thấy gớm. Anh không tuyên bố cho em thì em đét vào đâu.”

Rồi hai cái môi Duyên lại nóng rực lên. Tôi không kịp nói tôi chưa phải đảng viên. Tôi nghĩ thế thôi, chứ cũng không ở đâu tôi nói vậy. Không phải đảng viên mà tôi đã mấy đợt tổ chức kết nạp cả chục rễ chuỗi vào Đảng. Không biết trên có biết không, chẳng có ý kiến gì cả. Tôi làm việc kết nạp Đảng cho rễ, chuỗi cũng như đi họp, đi làm đồng.

Tôi cũng có ý đợi xem việc kết nạp Duyên thế nào, có thật không, nhưng đội trưởng Cự chưa nói. Rồi công việc lôi cuốn, vả lại, còn đương đói vàng mắt, chắc hãy khoan. Tháng ba ngày tám dần dần lắm nhà thiếu quá. Mấy xã trên, nhiều cốt cán rạc người, thiểu sức, có mấy nơi người chết lăn ra ở những cuộc đấu địa chủ suốt đêm. Hàng ngày quen mắt, nhưng tôi cũng hốc hác, nhìn lại thôn này cũng đói vêu vao cả rồi. Tôi để ý cái xương bánh chè hai bên hông Duyên trồi lên thật, mỗi khi ấy Duyên cứ phải co bụng lại cho tôi đỡ đau. Những người như cái xác lướt qua trước mặt, chân tay phù mọng vàng nhợt, đến chỗ họp người ta ngồi xúm lại từng bọn phảng phất chập chờn như những cái bóng. Có ai vừa nói vừa khóc: biết còn sống được mà đấu tranh, mà trông thấy hạt lúa không.

Một xóm ngoài nổi bệnh tả. Mấy ngày thôi mà chết mất mười người. Đoàn uỷ có lệnh cho ngừng công tác cải cách. Yêu cầu các đội cùng nhân dân phòng bệnh, cứu đói. ở trên cho về mấy xe vôi bột rắc khắp xóm, trắng lốp như chỗ nào cũng có đám ma. Cũng chẳng biết làm thế nào, ai chết thì chết thôi. Tôi cho người xuống thôn Đìa quảy thêm mấy gánh dây rau muống. Các mảnh ruộng cao quanh chân tre đất rắn như sỏi được cuốc ngay lên trồng rau muống vườn. Lại gây dây mồng tơi, chỗ nào cũng cấy rau sam, rau dền cơm, dền đất, mặt ao thì thả rau rệu – những rau cỏ ấy chỉ nửa tháng đã ăn được, người ăn như con dê nhai lá.

Cả xóm quảy nước, xách nước tưới những vạt ruộng còi cọc, phờ phạc.

TÔ HOÀI
Ba Người Khác
III

Dai dẳng, ngắc ngoải, thoi thóp, rồi nạn đói cũng qua.

Buổi chiều không còn rào rạt gió giải đồng mùa hạ. Mây trắng lờ đờ từng tảng vần vụ trong nắng nhạt. Mấy chân lúa ba giăng đã lác đác được gặt. Lúa một vụ, mùa trên đồng cao, chiêm dưới đồng trũng với vài miếng ba giăng hiếm hoi. Lúa của nhà ai, nhưng mà thế là đã trông thấy cái sống người rồi. Tiếng liềm cắt xoèn xoẹt và tiếng cười phảng phất ở đâu. Trẻ con từng đám ra chân ruộng đã quang nhấc gốc rạ tìm cua, bắt chuột.

Nhưng tôi vẫn chưa nguôi cơn hốt hôm xử bắn địa chủ Thìn. Tôi là đội phó phụ trách toà án cho nên cái sợ ấy có lẽ chỉ tôi biết thôi. Không thể biết tại sao đợt trước tôi lại được thăng chức đội phó. Có lẽ tôi biết làm biên bản và tính toán. Phải đâu tôi thạo con số mà làm được toà án. Thật tôi cũng đoán mò. May gặp cái tính hiếu thắng của đội trưởng Cự, đội trưởng hay nhảy ra làm thay tôi ngay giữa mít tinh xử án. Có khi Cự làm luôn, tôi khỏi phải tìm cớ lờ, cứ ngồi nguyên.

Sang bước chia ruộng đất, lên phương án xong phải ra đồng lãnh đạo cắm thẻ nhận ruộng. Ôi chao, lại đấu tranh, lại trở lại tính nợ địa chủ, nợ quịt công, nợ lừa đảo, nợ tội ác, trăm thứ nợ chẳng biết lần đằng mù nào. Mà phải có những con số cụ thể mới khỏi lọt lưới, mới chia ruộng được. Nhưng tôi thường nghĩ ra những con số tam toạng, số liều. Không thế không xong, mà thế cũng được. Bởi cả đội không ai biết mà họp thôn, họp tổ nông hội thì chẳng ai dám nói khác anh đội – “Thông qua được chứ?”, thế là giơ tay, giơ tay khắp lượt. Cải cách ruộng đất ở đâu cũng đồng loạt có năm đợt, tôi đã được đi ba đợt mà tôi ra cánh đồng vẫn như nhìn vào bức vách. Chỉ thuộc cái tên, tôi không áng chừng thế nào một miếng, một sào, đồng cao đồng sâu, đợt đầu còn chưa trông rõ cây lau, cây ngô, cây mía. Đội trưởng Cự thì không cần mở sổ tay, cứ đọc vanh vách. Tôi khen nịnh, đội trưởng Cự nói tớ là con nhà bần cố, mấy đời thèm ruộng như mèo thấy miếng thịt, mà trong nam ngoài bắc, cả trên thế giới đâu chẳng là ruộng cấy lúa, làm gì không nhớ. Lão nói giời ơi đất hỡi thế, tôi sao dịu nỗi lo được.

Nhưng tôi khéo lựa, tôi láu cá, chịu khó để ý cho nên ở đội có lẽ chẳng ai biết thực hư tôi giỏi hay dốt thế nào, không ai biết tôi cũng chỉ như một anh ở đội nào đã bị đăng lên bài báo chế giễu: đến bước chia ruộng, chia quả thực, nông hội cãi nhau mấy đêm không xong, anh đội chắp tay quỳ xuống giữa cuộc họp: “Em lạy đội, em lạy các ông các bà nông dân, thế này thì em xin về, em chịu không làm được”. Không, tôi đàng hoàng, không bấn đến thế.

Bấn nhất những lúc loạn xạ chồng chéo việc. Vạch thành phần xong rồi, có người được mọi người giơ tay biểu quyết cho làm trung nông, cải tổ nông hội còn ngồi đấy, chẳng đợi điểm danh lần lượt đến, đã hớn hở chạy xuống bãi dắt con bò bị tịch thu hôm nọ về. Vừa đi lại vừa kêu: “Tôi là bần nông, tôi là bần nông mới đúng”. Mấy người được làm trung nông líu ríu chuyện. Cái thằng chủ tịch bây giờ thành thằng phản động ấy tao đốt nhà mày rồi đếm hết hạt bụi gio cũng chưa cạn tội. Mới năm kia, tôi thiếu thuế, nó bắt mất con bò, lại còn cho du kích đến khuân đi cái tủ, còn cái vại nữa. Tôi phải tìm cho ra những thứ ấy. Tôi chẳng thèm quả thực của đứa nào, tôi chỉ đòi của nhà tôi.

Tịch thu, trưng thu, trưng mua để đống đấy rồi chia. Ngoài kia trẻ con đánh trống rong cờ, tôi càng rối cả ruột. Các nhà địa chủ đứng ngồi rúm vào một xó, mấy người còn đến xỉa xói kể tội. Một lát, người ta đi lùng khắp nhà, lấy vôi vạch sẵn đánh dấu cái tủ, cái chum “những đồ này của nhà tôi, tôi đánh dấu sẵn kẻo mang đi đâu nữa thì lẫn mất”. Người gánh, người khiêng, ai cũng gầy đói hom hem, nhợt nhạt, mới chỉ đem lên chỗ tập trung tạm, chẳng biết còn đưa đi đâu nữa mà đã hăm hở như đương khuân về nhà mình.

Một bà lão nhặt được trong đống đồ đạc và quần áo bề bộn một cái cối đồng giã trầu, lấy ra nghiền xong một miếng trầu bỏm bẻm nhai, như con trâu già đêm nằm trong chuồng trệu trạo nhai lại. Rồi lại xăm xăm đi. Bà lão này khôn vặt, cứ la liếm nhặt những cái yếm, cái thắt lưng, cái ống đũa, chẳng ai để ý.

Ấy là quang cảnh những hôm các thôn rộn rịch lần lượt mít tinh tuyên bố xoá giai cấp địa chủ. Công tác lại tuần tự: chiều gọi loa, hô khẩu hiệu, tối họp xóm xong từng nhà về còn mạn đàm trao đổi ngày mai là ngày sung sướng nhất của nông dân, ngày mai giai cấp địa chủ bị tiêu diệt hoàn toàn ở xã ta và trên cả nước nữa. Mỗi thôn thành lập bốn tổ: tổ đem gia đình địa chủ ra đấu, phân hoá tại chỗ. Tổ sục sạo xem đồ đạc còn giấu diếm ở đâu và tịch thu sổ sách, giấy tờ trong nhà. Tổ vận chuyển quả thực ra để ngoài sân đền. Tổ làm trật tự kiêm ghi chép phân minh. Cuộc mít tinh xử án toàn bộ giai cấp địa chủ làm ở thôn Đìa, các thôn khác đến tham quan rồi về cứ theo thế mà làm hôm sau.

Ở Chuôm, tôi làm trưởng ban, họp đến ba giờ sáng mới thành lập xong ban tịch, trưng, mua. Hội nghị đã nhất trí phương án mua những gì, cái gì tịch thu, cái gì không mua. Không mua lặt vặt cái thớt, bó đũa, cái vai cày. Những tấm ván áo quan thì tịch thu. Địa chủ chết được nằm hòm sang trọng à? Tao nhắm mắt chưa biết bó chiếu hay bó cót đây. Tịch thu cái cũi đựng bát đĩa chứ cái chậu cám lợn thì mua làm thèm vào. Phải làm mọi cái to nhỏ đúng chính sách đã bàn.

Vừa họp xong, gà đã gáy dồn. Thế là lại đi luôn. Từ lúc mờ sáng, trống ngũ liên đã đánh dồn ba tiếng một, như trống hộ đê, trống chữa cháy, trống cướp. Cho đến sáng bạch thì hầu khắp trong thôn có cái gì gõ được thì người ta cũng đem gõ, loạn xạ như khi gấu ăn trăng, đập nồi đập chậu cho gấu sợ phải nhả mặt trăng ra. Trống cái, phèng phèng, thanh la, kẻng thanh sắt, vỏ đại bác, vỏ bom… vang vang bốn phía, những đám người đùn đùn ở các ngõ xóm ra.

Trước tôi còn ở bên Am, tôi đã tổ chức gác nhà thằng Vách để đợi lệnh đoàn uỷ cho bắt, nhưng đội trưởng Cự về thôn ấy lại cho nó làm chuỗi. Lúc ấy không biết thằng Vách ở đâu chui lên vừa nhớn nhác vừa hung hăng. Vách mặc cái áo nâu bạc, đóng cái khố đuôi lươn, đít hóp lại, hai đầu gối nhô ra như hai hòn cuội tay cầm chiếc đòn xóc, chốc chốc lại hoa lên múa. Trong bộ râu quai nón, phùn phụt ra những tiếng hét: Hoan hô… Hoan hô… Có người hỏi: Đi mít tinh mà lại đóng khố à? – ấy, ra đây kiếm cái quần địa chủ để mặc, khỏi phải cởi truồng sẵn cho đỡ vướng.

Tôi trèo đứng lên cái bàn giữa bãi cỏ đọc một tờ diễn văn đã có mẫu in sẵn từ trên đoàn gửi xuống, sau cùng tôi giơ cái loa giấy, nói chõ ra bốn phía: “Tôi tuyên bố từ giờ phút này toàn bộ giai cấp địa chủ ở xã nhà đã bị tiêu diệt. Giai cấp nông dân muôn năm!”. Phất cờ lên! Phất cờ lên! Trống lên! Cờ phất và trống ếch rùng rùng nổi từng hồi. Đội sục sạo, đội trật tự, đội ghi chép, đội tịch trưng mua và cả đám mít tinh nhốn nháo kéo vào nhà địa chủ Thìn. Vách chạy trong đám, vẫn múa cái đòn xóc, la to: “Cha mẹ để của cho cũng sướng đến thế này thôi, giời đất ơi!”. Cái khố đuôi lươn thấp thoáng rồi lẩn mất.

Trong sân nhà địa chủ, tôi đứng lên trên thành bể, ra lệnh các phía. Thiếu nhi đánh trống sôi nổi nào! Các giới nghiêm chỉnh đâu vào đấy nào! Ban trật tự làm việc! Đội khuân vác, đội tố khổ hãy sẵn sàng! ở gian bên còn có mấy người trong nhà ngồi bó gối, đứng ngơ ngác. Bà lão Thìn liệt giường đã nhiều năm, nằm đắp chiếu. Người con dâu và lũ cháu, áo xống lấm như vùi – đấy là người ta trát bùn làm áo đã cũ, mặc cả vào người, xúm lại quanh giường người ốm. Ban trật tự lật chiếu lên: “Xem có giấu cái gì trong chiếu không”. Mùi thối khẳm xông lên, lại phải buông xuống.

Trưởng thôn Cối làm tổ trưởng tịch, trưng, mua nhưng lại mù chữ, lúc đội sục sạo đến báo cáo, tôi phải ghi ngoáy con số vào sổ tay rồi tôi lại trèo lên thành bể, nói to:

“Địa chủ cường hào gian ác Đoàn Văn Thìn có: ruộng 5 mẫu, 1 nhà ngói năm gian, 1 nhà gỗ ba gian, 1 trâu, 1 nghé, 10 chum, 15 vại, 4 giường, 2 phản, 1 yến gạo, 2 yến thóc, 7 cái nồi năm, nồi tám, nồi mười, mâm đồng 2 chiếc, mâm gỗ 8 chiếc… Tổ tịch, trưng, mua quyết định: tịch thu toàn bộ nhà ngói, nhà gỗ và diện tích ao vườn. Để lại cho nhà nó ở cái bếp đầu bờ rào. Tịch thu tất cả nồi đồng, sanh đồng, mâm đồng, cũi bát đĩa, hương án, đồ thờ. Trưng mua các phản gỗ, bàn toạ, ghế tràng kỷ, ván áo quan. Không mua thóc gạo đương có, không mua quần áo chăn chiếu đương mặc, đương đắp, không mua nồi niêu ang đất, tôn trọng tín ngưỡng không đụng đến đồ thờ, bát hương. Tôi yêu cầu đội khuân vác làm việc, đem các đồ đạc tịch trưng thu kể trên lên bãi quả thực.”

Rồi người ta khiêng đồ lên bãi quả thực trên xã hay đã vác trộm về, tôi nào phân biệt được. Tuyên bố xong, tôi nhảy xuống giữa những lộn xộn. Chẳng biết tổ trật tự lẫn lộn vào đâu, cũng chẳng biết ai đội khuân vác, ai hôi của. Có người đội ra cái thớt to như cái nón Chuông trên đầu.

Vách chưa lấy được cái gì, lon ton chạy. “Đứa nào kiếm cho tao cái quần, chọn cái mới ấy. Tao đã đóng khố sẵn để đợi mặc quần mới đây”. Nhưng chẳng khi nào tôi còn để mắt đến Vách. Có người bê ra cái chĩnh, hét vào mặt tôi: “Em xin cái này về đựng nước cáy. Bao nhiêu đời bây giờ mới được cái chĩnh”. Nhiều người chạy ra vườn thục cái thuốn vào gốc xoan, vào bụi hoa nhài nghi ngờ có chôn của. Trong nháy mắt, đống quả thực chỉ còn lại cái hương án, cái tràng kỷ và cỗ áo quan phải khiêng vác, không ai lôi đi được.

Chợt nhớ còn quên mất một việc, tôi nói to:

“Ai có khổ thì ra vạch tội địa chủ. Dân quân dắt các con dâu nhà nó ra một nơi, đem trẻ con đứng chỗ khác, phân hoá chúng nó, giải thích, yêu cầu chúng nó hàng phục nông dân thì có con đường sống.”

Chẳng ai nghe tôi nói, người vẫn đùng đùng khuân vác chạy quả thực. Chẳng biết làm thế nào, mà thôi thế cũng là xong việc ở đây, tôi ra hét người sang tham gia “mít tinh xoá địa chủ” tư Nhỡ bên thôn Am. Những người bơ vơ chưa vớ được cái gì ngẩn ra nghe nói còn chỗ địa chủ nữa. Thế là rùng rùng sang bên Am, hàng ngũ trống ếch và cả đám ồ ạt chạy.

Bên kia ao dừa không còn tiếng đàn chó ra sủa như mọi khi. Cả nhà Tư Nhỡ đã trốn đi từ bao giờ. Có lẽ đã lâu rồi, cứt giun đùn về vệt lên đầu hè từng đống. Ngoài bờ ao, rặng dừa đã bị chặt cả ngọn, không còn lấy một quả. Cái cổng tán vẫn buông sùm sụp, bùng nhùng đống dây thép gai và cánh cửa nhà trên nhà dưới cài then trong, giả như vẫn có người trong nhà.

Một người trong tổ sục sạo nhặt được chỗ xó cột một mảnh giấy đưa cho tôi:

Gửi cậu mợ, các chị các em Hương, Hiển, Vinh, Phú Quí
Máu gà lại thấm xương gà
Em đi nam bắc hoàn cầu
Nếu em còn sống ngày sau em về

Tôi bảo: “Truyền đơn này là của mật thám đế quốc bỏ lại” rồi tôi xé vụn tờ giấy. Trong bụng tôi nghĩ: Chắc một đứa con tư Nhỡ trốn đi, để lại thư kích động. Nhưng tôi ỉm không nói với ai. Cho khỏi lôi thôi.

Chẳng ai ngơ ngác trước cả nhà địa chủ bỏ trốn. Mà nhà cũng sạch trơn, chẳng còn đồ đạc lấy được, người ta nhảo ra ngay, chạy theo đồ thô các nhà địa chủ đương được khiêng lên bãi cửa đền. Xa xa, lại tiếng trống ngũ liên trống ếch lẫn tiếng reo à à. Trong khoanh tre các làng, khói đốt các sách vở và giấy tờ của nhà địa chủ bốc lên đen ngòm như các đám thui bò.

Các thôn đã lần lượt mít tinh tuyên bố xoá bỏ giai cấp địa chủ, tiếp theo tịch thu, trưng thu, trưng mua đúng như kế hoạch. Đội trưởng Cự đi kiểm tra, đến thôn Am, thôn Chuôm thấy mít tinh đã xong ngay buổi sáng, bấy giờ chỉ còn một đám ở thôn khác chạy đến hôi của và mấy người đứng lẩn quẩn ngắm cái hương án có vẻ tiếc rẻ giá đem về bổ làm củi, nhưng nặng không ai dám khiêng.

Đội trưởng Cự đi tìm tôi. Tôi nằm ngủ trên chõng nhà lão Cối, úp quyển sổ tay lên mặt. Đội trưởng Cự vào dựng tôi dậy, mắng như tát nước. Mặt Cự đỏ tía, mà chắc mặt tôi tím lạnh. Tôi đã học tập làm điểm ở thôn Đìa rồi mà vẫn quá ẩu. ẩu nhất là vừa xong đã về lăn ra ngủ. Phúc mà tôi không bị làm lại, phải lên xã tham quan để “đợt sau làm cho đúng”. Tôi sợ cuống quít thế chứ còn gì đâu mà làm lại. Tôi cũng không dám nói đã sang định hỗ trợ cho thôn Am. Đội trưởng Cự phụ trách thôn Am, tôi hãi lão lại đổ cho tôi mưu mô cho cả nhà tư Nhỡ bỏ đi, tẩu tán hết của, nông dân không còn nổi cái bát cái nồi để chia quả thực. Tôi cũng không hỏi xem tư Nhỡ vẫn bị giam hay nó đã trốn theo gia đình, tất nhiên không dám hỏi. Đội trưởng Cự nổi lôi đình một lúc rồi bảo tôi lên mít tinh xã kết thúc đấu tranh thắng lợi xoá bỏ giai cấp địa chủ toàn xã.

Hơn ba mươi gia đình nhà địa ngồi một phía đen ngòm bãi như quạ đậu. Các nhà phú nông đại diện được đến tham quan thì ngồi hàng ngoài. Người suốt chín thôn cơm nắm cơm đùm từ tinh mơ kéo đến bạt ngàn trong tiếng chiêng, trống, tù và inh ỏi. Đã đốt hết dưới thôn rồi thế mà trên xã không biết còn khiêng ở đâu ra những cái tủ đựng sách báo chữ Nho chữ ta chất cao như cây rơm, mồi lửa đã châm đốt cháy rừng rực như những cây đình liệu.

Các thôn lên chưa đủ. Có thôn cả buổi sáng còn đấu chưa dứt – còn thì giờ đợi, đội trưởng Cự lại mắng tôi: “Phải khơi gợi căm thù đã, chứ để quần chúng đâm đầu vào mấy cái quả thực à!”.

Cuộc mít tinh xử án. Người ta sán đến chỗ các nhà địa chủ, im lặng nhìn như xem những con vật lạ, con gà mới mua hay cái rọ chuột. Anh đội nói: “Mặc kệ, không cần trật tự, cho quần chúng thoả lòng căm thù”. Một đám vây lại chỗ một bà lão địa, hai mắt cùi nhãn đã loà hẳn. Bà lão mặc lồng hai cặp áo nâu da bò, khăn vuông láng thâm mới, nhai trầu thong thả, không biết điếc thật hay giả điếc, dửng dưng không để ý xung quanh. Đằng kia, một lão địa – lão này không có tội ác, không bị giam, lão chít khăn, áo bông dài sa tanh mới, hai tay chắp trước bụng áo như đứng hầu quan. Tiếng ai như tiếng thằng Vách quát: “A ha! Chúng nó mặc tất cả quần áo vào người để khỏi phải tịch thu đấy. Lột ra, lột hết ra. Tao có quần rồi, tao cần thêm một cái áo, đứa nào lấy cho tao”. Một người hất tay trật cái khăn vố của lão địa. Nhưng cũng không ai lột váy, cởi áo lão địa ông, địa bà ấy. Cái khăn bị lệch mà lão địa cũng không dám giơ tay sửa lại, mồ hôi đậu từng nốt trên mũi lão. Chốc chốc, lão lại mắm môi ưỡn người đảo mắt nhìn xuống, ngước lên như cố nhịn đái hay nhịn ỉa chẳng biết.

Các thôn vẫn đương kéo lên cả thôn Am, thôn Chuôm, mà tôi không biết, vì tôi quên không cho lệnh lên. Chỉ là còn ngửi thấy hơi của, người ta gọi nhau đi. Trên bờ tường, trẻ con leo ngồi đánh trống. Dưới kia, loa trõ xuống đầu đồng: A lôậi lô. Nắng đã hẩng, người đi ồn ào, tiếng tù và ánh ỏi.

Đội trưởng Cự phân công tôi ra kiểm soát các tổ dân quân, đặc biệt gác chỗ bọn địa chủ. Cho đến chiều, liên tiếp người đến kể khổ. Rồi thì đuốc đốt lên, mãi đến nửa đêm đội trưởng Cự mới đứng lên tuyên bố xoá bỏ tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ toàn xã.

Tôi về, mệt phờ người. Trông lên trời sao long lanh bập bỗng thẫn thờ nghĩ đến công việc ngày mai, ngày kia, chỉ những lo là lo. Còn rắc rối đây, sang bước cắm thẻ nhận ruộng, lại bước chia quả thực. Hai bước này ở trong Thanh, tôi đều tránh được. Bây giờ mà phải làm thì nguy vì chưa biết đầu cua tai nheo những gì. Những lần ấy tôi hay khoe khéo nghề kế toán của tôi. Công tác bước cuối dồn mọi việc, mọi ngành gấp rút cộng trừ bảng a, bảng b, chuẩn bị mừng chiến thắng tổng kết. Thế là tôi được gọi lên đoàn ngồi vắt óc nặn các con số, nhân chia bạt tử, rồi cũng xong cả. Nhưng ra đây tôi chưa đánh tiếng được với trên đoàn rằng tôi là cán bộ tài vụ. Bây giờ không rõ còn kịp chào hàng không, khốn nỗi tôi cũng chưa quen ai ở trên. Đến phải vùi đầu vào hai bước rắc rối này, thôi thì có người có ta.

Thôn Chuôm có thể nặng nhất bước này. Địa chủ Thìn nhiều ruộng đất, tôi cũng chưa đếm được nhiều bao nhiêu, ruộng nhà địa rải rác các xứ đồng, lại ruộng xâm canh bên kia sông. Trong thôn lại có bốn thằng phú, sáu trung nông cứng có thể vào diện vận động san sẻ ruộng cho nông dân. Mà ở đâu, ruộng chia thế nào thì cũng thiếu. Công lao người ta cả tháng hội họp tố khổ đấu tranh rồi, cái cây đợi ngày hái quả, bao nhiêu quả. Đương lúc ấy cái Duyên lại ỡm ờ bảo tôi: “Cắm thẻ nhận ruộng xong rồi em mới về nhà chồng chứ không thì để chúng nó cướp không công em đấu tranh à? Sao im thế? Hay là anh muốn truất phần em để chia cho em Đơm cháu địa ác? Thề đi, anh không thể chia cho em chỗ ruộng nhất đẳng điền thì từ giờ đừng có đụng vào em mà chết gãy xương đấy”.

Những buổi họp bàn chia ruộng, quả thực, chưa đâu vào đâu, ai cũng té tát, hầm hè tím tái vặc nhau. Ruộng đồng cạn, đồng sâu, và quả thực, cái nhà đầu hồi hay ở gian giữa, cả cái cối đá, cái bắp cày trên gác bếp cũng tranh nhau không ai nhường ai. Hôm sau mới chia thử đã loạn xạ. Chỉ có cái cối đá mà mấy người hét: Vần đi, vần đi. Người khác đá lại. Một người ở đâu tới, thủ sẵn cái thừng, đánh thòng lọng xuống lưng cối, khoác thừng vào vai, kéo xềnh xệch cái cối đá. Tôi chặn lại – Không được, chưa chia – Em chỉ lôi ra xem thử để lúc em được chia thì mang đi cho dễ, em thử thôi mà. Rồi cười khà khà, đi vào. Trong này còn khối thứ, bỏ vào ngồi họp thì đứa khác ra cướp mất. Cứ đứng đây, tôi cái này, cái này. Ôi trời, còn biết đằng nào mà lần. Hai tai nghe quang quác, khoành khoạch, át cả tiếng anh đội cổ đã khản đặc như những người nhà có đám phải rặn ra khóc.

Cứ đối nhau chan chát.

“Ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng mặn, ruộng chua, lấy ráo. Bần cố chúng tôi đã mấy đời đói ruộng như con đói sữa mẹ.”

“Cho tôi cái xướng mạ, tôi chỉ xin một thứ thế thôi.”

“Cả giai cấp địa còn đánh đổ được nữa là chia cái ruộng đã có trong tay, khoan đã, rồi đâu vào đấy.”

“Tôi không có màn. Anh đội ơi! Cho tôi một cái màn mới là thoả mãn bần cố nông.”

“Đấy là sang mục quả thực. Mấy hôm nữa.”

“Mấy hôm nữa thì bàn bây giờ làm mẹ gì cho tốn nước bọt.”

Rồi lại nói ngay:

“Nhưng mà tôi cứ nói trước, tôi phải được cái áo ấm. Đáng nhẽ tôi khiêng địa chủ Thìn thì tôi được cái áo bành tô của nó, thế mà trưởng thôn Cối đã nẫng tay trên của con tôi. Cả đời mới trông thấy cải cách mà không được cái áo thì rét lắm. Mà tôi là cố nông, cố nông ba đời, bố tôi cần cái hòm đến nơi rồi. Cái hòm ở nhà địa chủ Thìn là phần tôi, chưa dùng đến thì mùa hè để ông cụ được nằm cho mát cái lưng. Hề, hề, hề…”

“Nhà tôi chỉ rặt giống nồi đất, đội về mà kiểm tra. Tiên nhân đứa nào bảo bà có cái nồi tư đem giấu đi!”

Rồi cuộc họp lại lái về ruộng đất, lại lung tung.

“Trung nông nhận ruộng giao canh của địa chủ thì hoa màu tính sao? Tôi chỉ có hai miếng chó ỉa ấy, đổi nước mạ, nước khoai lấy ruộng có được không? Tôi là trung nông yếu, các ông các bà ạ.”

“Yếu hay khoẻ thì cũng là trung nông, ai cho trung nông đổi chác mà đòi.”

“Nói như cái nhà chị thì mấy tháng nay tôi đi đấu công toi à?”

“Nguyên canh là thế nào, cào bằng đi, chia lại.”

“Ruộng tôi cày, động chệ đến mồ mả nhà ai mà chia lại!”

“Báo cáo đầy đủ này. Tôi chưa có đất vườn, tôi chưa có cái chum, cái vại tử tế đựng nước cáy. Tôi xin nhận chỗ ao dừa nhà tư Nhỡ.”

“Tôi phải được chia cái áo bông của thằng Thìn mới là đoàn kết bần cố, thằng Thìn còn cái áo bông dài năm ngoái vẫn thấy nó mặc rét.”

“Các người ơi, để mắt đến thằng trung nông ọp ẹp này một tý. Nhà toàn ruộng nuôi giang sếu bồ nông đồng chua, phải cho lên cắm thẻ đồng cao chứ.”

“Đã bảo trung nông thì đợi ngõ ngoài nữa.”

“Hay là nông hội tư túi chia cả ruộng cho con mẹ công thương bán bánh đúc chợ huyện?”

“Đứa nào bảo ông tư túi, ông gang họng ra.”

“Tôi như con chó hóng cứt, từ chặp tối điếc cả tai mà chưa được cục nào đây.”

Mới thử một ngã ba ngã tư đã rối tinh. Thì giờ vun vút, mỗi buổi sáng hội ý đội về lại tơi bời tất tả. Thêm khó một nỗi, sổ sách địa bạ đã chất đống đốt sạch sành sanh cho “hết tàn tích địa chủ phong kiến” mất rồi. Bây giờ lần hỏi từng nhà địa, nhà phú. Chỉ có những nhà có ruộng mới thuộc đích các ruộng nhà mình. Thế nhưng hôm xử bắn địa chủ Thìn, cả các nhà địa nhà phú nào cũng bị điệu lên bãi ngồi cho trông thấy, rồi về người thì ốm chết, liệt giường, có người phát điên, có người trốn biệt. Chẳng hỏi được ai.

Lão tư Nhỡ thì biệt tăm. Đêm ấy, tư Nhỡ đội mái nhà giam của xã chui ra. Dân quân đổi nhau gác suốt sáng dưới tường mà không biết. Yên trí tường cọc tre nhẵn sạch vấu, cao hơn hai thước, không thể leo trèo được. Sáng ra, nghe tin báo, đội trưởng Cự đến đứng chắp tay sau lưng, mắm môi nghiền ngẫm, rồi đi quanh mấy vòng, đứng lại, giơ tay phân tích: “Tôi đã biết nó còn trẻ, nó nguy hiểm nhất nên cho biệt giam đợi án. ở xã này, chân tay nó đã bị tôi chặt hết, không thể nghi ngờ giai cấp nông dân giúp nó trốn được. Có ai nhớ không, nhà nó gài cái máy galen trên cột tre, cao bằng cây cau, nó liên lạc với địch ở miền Nam được mà. Bọn phản động các nơi còn nhiều lắm. Nhất định địch ở trong Nam đã ra cứu nó”. Những người làng đến xem, thì thào: “Thằng này sợ quá lòi cả cứt, thế là hoá ra nhẹ bụng, nhẩy bật được lên nóc nhà. ở đây rồi cũng chết, đằng nào cũng chết, nó liều. Đứa liều thì cái gì chẳng làm được”. Chỗ lỗ hổng cót mái, máu chảy ròng ròng xuống chân tường, vệt giỏ giọt dài ra đến chỗ cột trụ. Dân quân sục vào trong đền nhưng không thấy dấu vết người ẩn nấp. Nhưng Cự đã bảo là “có địch trong Nam ra cứu nó” thì không ai dám nói thêm thế nào nữa.

Theo lịch, ngày mai phải xong phương án chia. Mà con số và các loại ruộng vẫn mù mờ gạch xoá trên giấy. Bí thật, nhưng tôi không hỏi ai một câu. Hỏi thì hoá ra lòi đuôi. Khi còn ở bên xóm Am, tôi rối quá thì lại vào nằm với cái Đơm cho nhẹ đầu. Duyên ở đây không thế, suốt ngày Duyên đi nhổ mạ thuê rồi lại quanh quẩn ra ngắm ruộng, đi mặc cả chia ruộng chỗ ấy, chỗ ấy, tối đến thì đi tuần. Có hôm sáng bạch, tôi bừng mắt, thấy Duyên nằm vục đầu xuống ngực tôi, đêm qua ngủ với nhau lúc nào không biết nữa.

Thoáng bóng đội trưởng Cự ngoài ngõ. Tôi đương ườn mình lơ mơ, chập chờn trên chõng. Thực sự, lo luẩn quẩn không thể chợp hẳn mắt. Tôi nhỏm dậy, kéo cái ba lô lên đầu gối, mở sổ tay, đẩy mấy tờ giấy kẻ lung tung ra, như đương làm việc. Cái chỏm mũi đội trưởng tái lịm như quả cà tím ló vào. Có lẽ mọi khi mũi Cự vẫn tím đỏ thế, tôi không để ý. Không hiểu sao, mỗi lần đương cái lo, y như rằng, đội trưởng Cự hiện ra như một ông thần, có khi ông ác tác quái, có khi ông thiện ban cho sự nhàn hạ. Tôi hồi hộp không biết lần này thế nào.

Cự cười nhếch mép:

“Anh đội làm gì đấy?”

Chưa nghe Cự nói rỡn “anh đội” thế bao giờ. Có thể việc tốt lành đến nhưng tôi vẫn ý tứ, giữ gìn.

“Tôi viết nốt phương án.”

“Số liệu những đâu mà nhanh thế?”

“Đương lấy, vừa viết vừa lấy mới kịp được.”

“Xong rồi cũng phải làm lại. Thôn Am, thôn Chuôm chẳng còn một mống nào có nhiều ruộng mà bắt nó khai. Chỉ có họp xóm đấu tranh tố khổ mới ra con số ruộng được, cậu đã làm chưa. Chưa phải không? Rồi còn phát động phú nông, trung nông lớp trên nhường ruộng, hiến ruộng. Vẫn chưa làm chứ gì? Mỗi khi Cự nói lại lòi chuôi cái tôi chưa biết chưa làm nhưng tôi lại vỡ ra được nhiều cái khác không nghĩ được. Tôi ngơ ngẩn hỏi:”

“Bây giờ phải làm lại à, còn lịch công tác…”

Đội trưởng Cự ngồi xuống, nhắc cái quai sắc cốt rồi xua tay:

“Không kịp rồi, tớ lại phải ra tay mới được. Nếu không thì vì cậu mà cả đội chạy bét.”

Tôi lại cảm tưởng nhẹ mình. Cầu được ước thấy, lúc nguy nan lại được phù trợ, có mả cứu bần, hay thật.

“Từ hôm nay, cậu ra ở nhà trưởng thôn Cối, tớ lên đây ốp việc. Có thế mới kịp.”

Tôi đã đánh hơi được một mùi, cái mùi nồng nồng ở đũng quần Duyên. Nhờ thế mà tôi thoát vất vả. Thằng dê cụ này đến chỉ vì cái mùi đũng quần đàn bà mà thôi. Con vợ dưới xóm Đìa nó tống đi cán bộ rồi, lên xóm Am nằm với cái Đơm, bây giờ lại sang tòm tem cái Duyên. Chỉ thế, chẳng ba cùng ba càng, chẳng tổng kết, bồ kếp giời hỡi gì ở đây. Chắc thế, họ hàng nhà ma, đi guốc vào bụng nhau cả.

Nhưng vậy cũng lợi cho tôi, nghĩ thế, tôi tủm tỉm cười. Đội trưởng Cự tinh lắm, như đoán được cái cười láu tôm diễu của địch thủ. Bất chợt, Cự sừng sộ quật tôi:

“Này này bảo cho mà biết tớ lên đây để cứu cậu khỏi phải đi tù đấy, biết chưa. Chẳng tội Việt gian như thằng Đình, tội tù hủ hoá cũng tù ngang thế. Còn nhớ bài báo thằng Bổn ở Đào Khê chứ. Đi cải cách mà hủ hoá phải ghi lý lịch bị đuổi về cơ quan còn nhục hơn thằng đeo gông. Cái con Duyên chung chạ quần áo với cậu, cả làng chửi rầm lên, cậu vờ điếc à?”

Tôi bầm mặt, câm như hến. Bị băm bổ đào đến tận ngóc ngách âm ti thế còn biết chống chế thế nào. Những điều tôi nghĩ xấu về Cự chỉ là những vu vơ mờ nhạt mà tội của tôi thì sờ sờ đấy rồi.

Cự vẫn chưa buông tôi, nhưng đã dịu:

“Cậu là tiểu tư sản có công giúp giai cấp nông dân đi cải cách mấy đợt rồi, tớ thông cảm. Tớ còn biết cả chuyện cậu lằng nhằng với cái Đơm, lại mấy đứa dân quân gái đi gác đêm đều phải chết với cậu. Nhưng tớ xuý xoá cho, biết không.”

Tay tôi tỳ lên cái ba lô, run bần bật. Mỗi tiếng của đội trưởng Cự như một cái bóp cổ, nếu nó không nới tay thì chỉ chắc đứt hơi. Cự ngừng gườm con mắt lòng trắng đỏ ngầu nhìn tôi dò ý.

Rồi bỗng lại nhẹ nhàng sang chuyện khác, tôi mới được nguôi ngoai theo.

“Bàn với cậu nhé.”

Tôi lóng ngóng cầm bút lên, mở vu vơ trang sổ tay.

“Công tác chia ruộng, chia quả thực toàn xã, cả thôn Am, thôn Chuôm tớ đã sắp sẵn xong từ bước hai.”

“Anh nhanh quá.”

“Bây giờ tách riêng đồng chí ra phụ trách lúa thần kỳ – công tác đặc biệt đột xuất.”

Khi nào đương cậu cậu tớ tớ mà đổi sang đồng chí, đồng chí thì ấy là tới việc khác thường, lúc vui lúc cáu gắt không lường được. Lúa thần kỳ, mấy lâu nay trên báo đã nói, lại được xem ảnh báo chụp ruộng ở nước nào, lúa thần kỳ chín trổ bông ken dày, cả trẻ con lũ chạy chơi trên mặt thóc. Lại đã nghe từ độ thằng Đình ma xó còn ở đây cũng thấy bảo đội sắp làm lúa thần kỳ, thì ra thật. Nhưng làm lúa thần kỳ thế nào, là cái gì.

Mỗi câu của đội trưởng Cự lại gỡ ra cho tôi từng mối băn khoăn.

“Một ít lúa ba giăng cũng đỡ được đói, nhưng chưa ăn thua. Mà đợi mùa thì trên hai tháng nữa. Cái thần kỳ này chỉ một tháng đã chắc ăn. Đột xuất là như thế. Làm thử một khoảnh, được thì ta cho cấy lan ra cả đồng. Bây giờ có nơi còn quải mạ ba giăng muộn. Lấy một miếng mà thí điểm thì năm thước cũng được. Cho bừa kỹ bùn vữa ra như cháo loãng, bón lót cả phân tươi, phân xanh rồi cấy dày, thật dày, liền khít, có thể đến khi lúa trỗ trẻ con mới trèo lên chơi được. Bón thúc bốn góc ngay, chỉ mười lăm ngày lên đòng. Khi đội ta rút sẽ để lại kỷ niệm và kinh nghiệm ruộng lúa thần kỳ cho làng nước làm theo, từ nay ấm no đời đời. Đã thấy quan trọng, giỏi chưa?”

“Rồi ạ.”

Tôi chỉ còn biết ừ hữ như thế. Tôi không chịu nổi cơn toát mồ hôi hột lần nữa, dù là mồ hôi phấn chấn hy vọng. Đội trưởng Cự còn nói đi nói lại một lúc về lúa thần kỳ. Dần dần tôi cũng thấy ra cái lúa thần kỳ mới tài tình làm sao. Tôi mà làm thành công ấy a! Ô hay, cũng vẫn cái ruộng cái lúa, sao cả tỉnh, cả nước xưa nay chưa nghĩ được ra. Bây giờ sáng kiến to lớn lọt vào tay cái thằng tôi chưa nhìn ra được mặt hạt thóc tẻ thóc nếp khác nhau, thế mới lạ. Đã bảo đội bảo làm thì làm gì chẳng được. Thôi thì như người ốm uống tàn hương nước thải, biết đâu rồi khỏi bệnh, mà không khỏi cũng không phải chết vì tàn hương nước thải. Tôi hí hửng cái lúa thần tuy chưa ai làm bao giờ nhưng nghe ra dễ có lẽ hơn việc chia ruộng, chia quả thực.

Tôi không dám đoán mò về sự đội trưởng Cự sang xóm này nữa. Đích xác thế mà tôi lại thấy đội trưởng, Cự đương công tác cần kíp. Tôi sợ đội trưởng cả trong ý nghĩ tôi cũng muốn tránh, muốn làm lành đi. Đôi lúc cũng thoảng nghĩ không biết cái Duyên thế nào, nhưng tôi lại tự gạt đi. Tối hôm ấy, tôi ra ở nhà trưởng thôn Cối ngoài bãi. Không hiểu sao trẻ con ở nhà, chẳng đứa nào cõng nhau vào ngủ nhà ông như mọi khi. Đội trưởng Cự đã đánh dẹp cả chúng nó đi. Nhưng cũng không tò mò hỏi.

Cả lũ năm sáu đứa nằm quềnh quàng dưới đất khắp hai gian nhà, kéo gỗ khò khò chẳng khác trên nhà ông cụ, ai làm gì cũng đố nghe biết được. Không hiểu vợ chồng Cối nằm xó nào. Sau mới nhớ Cối đi họp, có thể khuya lại đi gác hay nằm vạ vật đâu. Tôi cũng đi ngủ luôn.

Đương mùa làm, lại thêm công tác cải cách, thêm cái đói, mọi việc đều lật đật. Hồi này tan rã hết lớp học bình dân rồi, mà tôi cũng thôi thúc đẩy. Suốt ngày, vợ Cối làm quần quật, đi bừa về nhảo ra nắng phơi dây khoai, dây muống. Quá nửa đêm Cối lù lù về. Cối vơ củi vào đun nước. Cối uống tàn nồi chè xanh vò, đứng lên vác bừa toan đi thì trăng lặn. Nghe tiếng lịch kịch, tôi thức giấc. Tôi lồm cồm ra.

“Hượm đi đã.”

Cối hỏi:

“Gì thế?”

“Có việc cần bàn.”

Tôi nói thuộc lòng về lúa thần kỳ như Cự đã nói hôm qua rồi rụt rè hỏi:

“Làm được không?”

Tôi có nỗi ngượng của thằng chưa dắt con trâu bao giờ lại huyên thuyên chuyện cấy hái mùa màng với anh thợ cày. Nhưng Cối đã cười nhe hàm răng cải mả.

“Dễ như chơi ấy mà.”

“Công tác này để chào mừng thắng lợi cải cách, cả huyện cả tỉnh sẽ nhìn vào thành tích của ta. Xem có phải thì xin thêm dân quân giúp. Bấn quá, hồi này thôn nào cũng bận.”

Cối lại cười:

“Đi làm mướn, một mình tôi gánh cả mẫu, từ lúc cày ải đến khi ra hạt thóc, chẳng cần ai. Giờ chỉ có năm thước lúa, nằm khểnh giơ tay làm thầy cúng bắt quyết cũng xong.”

“Mai làm được không?”

“Trưa nay tôi về một lúc là thắng lợi ngay.”

Tôi cũng không hiểu thắng lợi thế nào.

Cối vác bừa đi. Tôi coi như thế là đã giao xong công tác. Bấy giờ trời mới rạng sáng, bốn bên các nhà gọi nhau tiếng ơi ới, tiếng chu chéo. Vợ Cối chạy từ trong góc nhà, tóc túm ngược, bóng mờ qua dưới mái tranh, chị hò hét lũ con còn nằm lăn lóc dưới đất. Chúng nó chưa dậy, chị đã vùn vụt đi, không biết ra đồng hay lên chợ. Cái Cối đổ nước vào nồi dây khoai bữa sáng. Người ta có lúa rồi, nhưng không phải nhà ai cũng có, mới chỉ lác đác, nhiều nhà vẫn còn bữa dây khoai, dây muống.

Cối bảo lúc nào làm cũng xong, tôi chẳng rõ nhưng tôi biết các anh đội nói thế nào, nếu để thế có nên bảo các đội cùng làm không, chỉ mấy thước ruộng bằng cái vũng bắc gầu tát nước thôi mà. Rồi mọi việc, Cối làm ngay trưa hôm ấy thật. Miếng màu năm thước ruộng bé như cái lỗ mũi trâu. Cối cuốc lên, chẳng cần biết ruộng khoai của nhà ai. Đất hẹp chưa ra nổi góc đường cày, con trâu không xoay mông được. Cối cuốc rồi đập đất luôn, xế chiều coi như xong một mảng đất cả công cày bừa.

Ruộng cao, kề cái chuôm, thế là bắc gầu tát nước làm. Đội trưởng Cự hôm nào cũng tạt qua xem làm đến đâu. Trưởng thôn Cối lại càng hăng. Chỉ ba buổi đã tràn lan nước rồi các thứ phân hổ lốn, phân rác, phân xanh, phân chuồng, phân vách bếp bồ hóng được quảy trong xóm ra quải xuống đúng kỹ thuật đội trưởng. Cối lên chợ huyện Xin hay là mua mấy bó mạ, tôi ở nhà đẽo cái que tre dài bằng đòn gánh. Một tờ bìa cặp đầu que dán mảnh giấy trắng, đổ thuốc đỏ trộn mực bút máy, đóng khung trang trọng nắn nót kẻ hàng chữ: lúa thần kỳ.

Tôi muốn làm cho làng nước ngạc nhiên. Tối trước hôm mít tinh xem cấy lúa thần kỳ mới đem cái bảng ra cắm góc ruộng. Cấy là ngày hội, người các xóm kéo ra. Trẻ con nện trống ếch rình rình. Làng chưa có chủ tịch và uỷ ban xã, chi bộ mới toanh chưa bầu chi uỷ, nhưng đủ tám trưởng thôn và các đội dân quân đến mít tinh. Thiếu có Duyên. Hôm trước, tôi nhờ Duyên cho mấy gánh đất bóc ở vách bếp nhà địa chủ Thìn, vách bồ hóng kinh niên làm phân tốt lắm, Duyên đã gánh đủ. Bây giờ Duyên đi đâu. Tôi vào xóm tìm.

Duyên vẫn ngồi nhà, vẻ dỗi. Duyên vùng vằng:

“Em chưa thấy mặt cái ruộng chia, em còn phải đi sát anh Cự.”

“Đi sát cái ấy, thằng này biết rồi.”

Duyên sấn sổ dí ngón tay vào trán tôi:

“Biết gì, biết cái hủ hoá à? Chỉ được cái đoán bơ vơ. Em mà tố ra thì anh chết ngỏm đầu nước chứ không phải ai đâu.”

Tôi gượng nhẹ, dàn hoà:

“Tổ dân quân các thôn đã đến cả. Em là người xuống cấy một tay đầu tiên, đã phân công thế rồi mà.

Duyên cười, vẫn nói chuyện khác:

“Nhà em nhớn bé già trẻ mười bốn khẩu, để xem chia bơi thế nào. Đi sát là đi sát thế, chưa chi đã ghen hão. Con này tha đi xé xác đứa khác thì khỏi, đừng lôi thôi.”

Tôi đánh trống lảng:

“Ra ngay đi. Đội trưởng cũng ở đấy rồi.”

Tôi kể chương trình: đội trưởng Cự xuống cắm cây mạ làm danh dự. Duyên cấy theo đến hết hàng. Tôi đứng trên bờ lãnh đạo mít tinh hô khẩu hiệu.

Duyên cười tăng tả đi, rồi quay lại:

“Anh phải giúp em cái này.”

“Giúp thế nào?”

“Tối nay, anh với em đến nhà địa chủ Thìn khuân cái cối đá.”

Tôi lắc đầu.

“Sắp chia quả thực, dân quân tuần ngặt lắm. Nhỡ một cái.”

“Nhỡ cái gì! Anh đội tịch thu cái cối nhà địa chủ, dân quân đi bảo vệ. Anh là cán bộ, em là tổ trưởng dân quân, đứa nào dám ho he.”

Tôi đương cần Duyên, tôi gật gật, trong bụng thấp thỏm, ừ thì đến tối hãy hay. Duyên lại bắt tôi phải thề. Tôi lúng búng. Duyên nguýt một cái, may quá Duyên không quay đi mà Duyên ngoảy thẳng ra đám đông ngoài đồng.

Người các thôn trông thấy trước tiên cái bảng “lúa thần kỳ” càng chen đến. Nhưng chỗ bờ ruộng chật quá, đám đông kín cả lối. Loa phải gọi đứng bớt lên sườn đê. Chỉ có các anh đội với trưởng thôn, tổ trưởng dân quân được xuống quanh mảnh ruộng toen hoẻn bằng vũng nước. Thôn Đìa đông người lên nhất – cái làng đồng sâu này vừa rồi đói nặng, có người chết, nghe đồn đội đem giống lúa thần kỳ về, một bát cơm ăn no ba ngày, thế là càng háo hức đi xem.

Đội trưởng Cự đeo sắc cốt, đứng xoạc chân, ống quần nâu xắn quá đầu gối, tay cầm loa giấy chõ lên đám người đông nghịt lưng đê.

“Thưa toàn thể đòm bào, đòm bào đã trông rõ cái bảng “lúa thần kỳ” chưa? – (Tôi phổng mũi đứng cạnh đội trưởng, nhưng hai tay lại run. Không phải vì lạnh trời, mà vì câu đội trưởng nói tôi cảm như lúa thần kỳ đương thành sự thật). Thưa đòm bào, cuộc phóng tay phát động quần chúng vùng lên tiêu diệt giai cấp địa chủ đã kết thúc, ruộng đất đã về với nông dân lao động, bây giờ ta có lúa thần kỳ…”

Lát sau, đội trưởng Cự hích tay vào vai áo tôi làm hiệu nhắc rồi chuyển cái loa giấy cho tôi. Tôi quay loa, hăng lên: A lô… A lô… Tôi tuyên bố bắt đầu cấy…

Cự hất cái túi da lên lưng, lội xuống bùn, cầm một bó mạ, tẽ ra từng mảnh, cắm hai dảnh xuống mặt nước. Rồi lên bờ hô to: “Cắm liền dảnh! Cắm liền dảnh!”. Duyên bước tiếp xuống, thoắt một chốc đã hết ba tay mạ, có khi cả ba bốn dảnh một khóm, khoảnh ruộng dần dần xanh kín như khung bèo tổ ong. Từ trên lưng đê, vang vang tiếng ốc, tiếng trống ếch, tiếng reo, tiếng hô khẩu hiệu. Lạ sao, những người cả đời lênh đênh với đồng ruộng thế mà trước miếng ruộng vừa cắm cây mạ lại reo sướng như chưa trông thấy ở đâu như thế bao giờ. Có lẽ người ta tưởng sắp có phép tiên, cái khung mạ kia chỉ chốc lát sẽ bồng lên, lá lúa nở ra, lên đòng…

Từ hôm ấy, trưởng thôn Cối và tôi ngày nào cũng quấn quít bên mảnh ruộng. Tôi được dịp mải vào đấy để lảng những công việc chia ruộng, chia quả thực cứ lặng lẽ sôi sùng sục từ trong làng ra ngoài đồng. Đằng xa, chốc lại ầm ĩ tiếng quát tháo. Nhiều người vác cả bó thừng ra sắp sẵn đóng cọc chằng quanh thửa ruộng sẽ được cắm thẻ. Cả một đời bây giờ mới nhìn thấy một miếng ruộng của mình. Những cành tre phơ phất các góc ruộng. Người vừa được gọi tên ra nhận ruộng, nước mắt ràn rụa quay lại chắp tay vái trời, vái anh đội. Có người lầm rầm khấn ông bà ông vải tổ tiên về chứng giám với con cháu rồi ngồi xuống khóc rưng rức.

Mấy tối, không thấy Duyên đến, rồi bặt bóng. Chắc Duyên còn đuổi theo đội trưởng Cự, túi bụi cãi nhau chọn ruộng.

Nước phân tràn ngập đẩy cây mạ phổng lên. Gốc lúa nở liền xít. Lúa không vàng úa mà xanh lơ rồi xanh thẫm, ngắm sướng cả mắt. Một hôm khác, trông như có khói mờ bốc trong lúa ra. Đến tận nơi thấy trên chân lúa chen nhau, thân nóng hầm hập, bốc hơi.

Tôi hỏi Cối:

“Thế này là thế nào?”

Cối đứng yên. Chẳng biết thế nào, Cối làm thì cứ làm như tôi dặn chứ chưa bao giờ thấy lúa ruộng ở đâu cấy sắp hàng liền chân nhau thế này. Cối nhìn tôi, như đợi anh đội đã học được phép lạ về làm lúa thì cắt nghĩa cho. Tôi cũng là anh đội. Anh đội phải ra anh đội, tôi thản nhiên hỏi như lão nông tri điền thành thạo đồng áng.

“Trong xóm những nhà ai có quạt thóc?”

“Sẵn thôi.”

“Lúa nóng quá. Nó cũng như người ấy mà, phải quạt cho nó hạ hoả.”

Những gốc lúa nóng hầm hập như bắp ngô luộc, nhuốm mùi ải thum thủm, nhưng tôi không biết. Tôi đương nghĩ phân tích: con người đứng chen chân thế này còn đổ mồ hôi, lúa cũng như người, lúa đổ mồ hôi thì quạt cho nó ráo mồ hôi. Có thế thôi.

Cối vào trong xóm, một lúc đã vác ra cả chục cái quạt thóc. Cái quạt to bằng nửa chiếc chiếu mộc, nan tre cật, giấy phất cậy, xách một tay không nổi. Mấy người đem quạt ra, xúm lại nói:

“Làm quạt kéo quạt lúa, anh đội ạ.”

Một lát sau, năm thước ruộng lúa đã hoá ra hiệu cắt tóc có quạt kéo ở đầu phố, như khi tôi còn nhỏ. Khách cắt tóc trời nóng ngồi dưới cái quạt kéo phe phẩy. Chỉ khác ở đây trên cánh đồng trống trải, người ta đem hai dóng tre bắt chéo như ba chiếc cọc gầu sòng nối nhau thành một xà ngang dài, mắc liền bốn cái quạt thóc dày kệp. Bốn người hai bên bờ kéo thừng quạt luôn tay. Lúa rào rạt, gió quẩn rập rờn trên mặt ruộng. Người xem đông, đâm ra vui như cái trạm gác, như quán nước đầu xóm. Suốt đêm, rộn rã tiếng “ai đi hò lờ”: Địa chủ ta đánh đổ rồi. Hò lơ hó lơ…

Nhưng đám lúa vẫn nóng hầm hập. Cây lúa chặt cứng như bó mạ cao vổng. Con cào cào rúc không lọt. Quanh chân lúa, đất sùi lên như đống mối đùn. Thế mà ngày nào cũng vẫn lũ lượt, người đến tham quan. Tiếng lành đồn xa, hàng huyện đổ đi xem lúa thần kỳ. Những ruộng khoai, những bãi cỏ từ trên lưng đê xuống, vết chân xéo nhàu nát thành lối tắt. Trên đầu đê, đã có người ra dựng nghiêng cái phên nứa mở quán nước chè xanh.

Nhưng khi thửa ruộng chon von ngả màu úa đỏ như mặt cái lò gạch nung đã chín thì người về xem cũng vãn dần. Chỉ ngắm nghía rồi lẳng lặng quay ra, không ai nói một câu. Về xa đằng giữa đồng thì cả lũ bưng miệng cười hô hố rồi chạy biến. Những khóm lúa lả rạt, trĩu xuống.

Dân quân cắt lượt vẫn mải miết quạt. Trưởng thôn Cối bấn bíu việc nhận ruộng cắm thẻ. Chỉ còn mình tôi, với khi nửa đêm trở ra, mấy cô dân quân đi tuần không về trạm gác, mò vào đây bù khú. Chúng tôi thay tay nhau, người ngủ ngay trên bãi cỏ, người quạt cả đêm.

Đuôi mắt tôi đứt kẽ, thức toét cả mắt. Nhưng chịu còm cọm xó đồng thế này chẳng biết lúa thần kỳ đi đến đâu, dẫu khó nhọc một tý cũng còn nhàn. Trong thôn thì mọi việc lúc khảng tảng lúc rối rít, bùng nhùng như mớ dây thép gai. Chia ruộng, chia quả thực, mọi cái còn trên giấy thế mà ai cũng đã biết mồn một rồi cãi nhau. Lại họp, lại họp. Những người áng chừng mình chẳng được lợi lộc, đã lảng chân giò, rồi phàn nàn bao nhiêu đêm đi đấu, đi canh gác, đi quảy đồ quả thực nhà địa khổ như con chó, khổ hơn thằng mõ. Thằng mõ ngày trước hầu làng còn được phần miếng xôi. Ừ rồi xem bần cố làm trò khỉ thế nào, lão bần cố Diệc kia mắt toét lông quặm ngồi đèn chói mắt, mồm ngậm hạt thị nói như người hụt hơi. Nông hội không họp được vì chẳng ai ở nhà, vào lúc nông nhàn, người ta còn chạy chợ kiếm miếng, đi rao các làng thuê trèo cau trèo dừa. Có đấu đá tranh cãi chia bơi nữa thì đến tối, đến tối. Lại loan tin đồn: đội này về mới lấy ruộng của địa chủ, phú nông, mai kia đến đội cào bằng về thì cả làng thành một hộ bao nhiêu ruộng đem nhập một, bấy giờ mới thật đều như nhau. Đâu cũng kẻ lo người đợi, lại nháo nhác, lại thì thào.

Rắc rối nhất ở những nơi phải bình đi bình lại. Cùng là được chia, nhưng ai cũng tranh miếng ngon. Họp đêm chưa thông, đội lại yêu cầu về nhà mạn đàm gia đình rồi báo cáo kết quả với đội. Thế là chỉ trong một nhà mà cũng chửi bới nhau rối xoè.

Vợ nói: Trung nông là cái thá gì. Quả thực chẳng được một cái cuống rơm, nếu được mua hoá giá cũng phải sắp hàng sau đít người ta, đến lượt thì chẳng còn cái rẻ rách. Đi dân công không được một đồng kẽm mà nay gọi mai gọi trung nông – Nhất định ta xuống bần nông thôi” – Nhưng mà… – Chẳng nhưng nháu gì cả. Hôm sau họp, ai cũng đã biết nhà trung nông này có những thắc mắc ấy. Thế là tổ trưởng tránh lôi thôi, gác lại không cho họp. Vợ trung nông chu chéo: “Nhà tôi lên địa để các ông bần cố sắp đem đấu a? Thách đấy, có giỏi gọi cả xóm ra đây mà tố, mà đấu!” Nói cứng thế, nhưng về nhà cả đêm đào hố chôn nồi đồng, bát đĩa. Bốn tối họp rồi mà nào ruộng, nào quả thực chia bơi vẫn chưa đâu ra đâu.

Đêm ấy, lại bàn đến quả thực. Đêm nay, đội trưởng Cự làm khác. Cho gọi hết trung nông cứng, trung nông vừa, trung nông yếu đến họp với cốt cán bần cố. “Được, để cho chúng nó một trận mất vía!” Nhưng chẳng nể anh đội, cuộc họp tán loạn không khác đêm trước. Có người nói như phát rồ, khi thấy Cự đọc sổ sẽ chia cho nhà trung nông ấy chiếc vại. Nhà bà nọ có vại rồi, một mực đòi cái vại ấy. “Tôi là trung nông, nhưng con tôi liệt sĩ. Ty thương binh trên tỉnh về nói thế. Bên kia sông đấy, nhà có liệt sĩ được biếu hai sào thượng đẳng điền”. Cự nói: “Sắp tổng kết thắng lợi rồi”. Bà lão gào lên ngắt lời. “Tôi được cái gì mà tổng với kết!” Cự khêu gợi: Tại sao nhà ta có được ruộng đất như ngày nay? Bà lão xắn váy, té tát: “Không có tiền tậu, tiền chuộc thì các anh đem đất đem ruộng cho tôi đấy à?” Rồi mắm miệng: “Đằng nào tôi cũng phải được cái vại ấy, hôm khiêng quả thực, tôi đã đánh dấu vôi rồi”.

Rồi cứ cò kèo thế. Đội trưởng Cự nổi cáu, đập quyển sổ tay, sừng sộ:

“Nhà mụ lọt lưới đấy, xấp xỉ phú đấy. Đừng có quá lời, chẻ hoe xóm này cho mà xem. Hai địa, hai phú, mười trung, mười sáu bần, tám cố, 2 công thương, 1 kéo vó không có thành phần. Cho trung nông là phúc bảy mươi đời, muốn lên địa phú hả? Ai muốn lên thì đội cho lên. Thoải mái.”

Câu nói nửa rỡn nửa dọa của đội trưởng khiến từ lúc ấy đến rạng sáng ai cũng im thin thít. Đội trưởng cứ nói choang choác, nghe rợn trong thanh vắng. Hăng quá, đội trưởng Cự kết luận: “Nhà bà kia tôi cho lên phú, từ nay không được đi họp nông hội”. Tờ mờ sáng, bà lão về đến cổng, ngã lăn ra. Sớm hôm sau, nghe tiếng gõ cá áo quan cạch cạch lẫn tiếng người trèo ngọn cây nhãn hú “ba hồn chín vía…” về nhập quan. Nhà ấy thế là bị qui phú nông. Chỉ có mấy người họ gần đến khiêng quan tài, đám ma phú địa không được đưa ra phía trước mà đi đằng cổng đồng.

Đội trưởng Cự cũng đi đưa đám, nhưng đến đấy thì đứng lại, đợi đám ma đi khuất. Rồi Cự tạt ra đám ruộng lúa thần kỳ. Đội trưởng chau cặp mày lông nhím, cúi xuống, lay một khóm lúa. Hình như cây lúa chỉ đợi tay người đụng, cả khóm lúa ật ra ngả vạ. Rễ đã thối mủn đến bẹn cây. Bực mình, Cự ngẩng lên rút cái bảng “lúa thần kỳ” quăng vèo vào giữa mặt lúa đã đỏ xuộm như rơm sắp cháy.

Tôi ngạc nhiên, vờ:

“Ô hay, hôm qua còn xanh mởn mà.”

Tôi nhổ khóm nữa. Khóm nào rễ cũng nát ruỗng. Mấy tay dân quân quạt suốt đêm còn ngái ngủ, mở mắt trông thấy đội trưởng, lại ra sức co chân đạp thốc cho những cánh quạt phất liên liến. Đến lúc đội trưởng ném cái bảng chỏng gọng vào ruộng, thì tất cả buông chân khỏi cái chòng lọng thừng, ngửa cổ cười khơ khớ. Các bọn này ngửi mùi lúa thối từ lâu, thế mà vẫn ra công quạt, quạt,…

Cối ghé tai tôi:

“Em biết là thất bại từ lúc chưa làm. Nhưng anh bảo thì em phải vâng thôi.”

Có cay đắng tôi không. Thế nào đội trưởng Cự cũng sắp đổ tội cho tôi. Quả nhiên.

“Cậu thì chỉ biết rúc đầu vào váy mấy con dân quân từ chặp tối, còn hơi sức đâu mà nhòm ngó lúa má!”

Trời, cái lão quái này cứ bô bô giữa đám đông thế này. Đến tù mọt gông mất. Lão cũng chỉ suy bụng ta ra bụng người, tôi cong cổ hỏi:

“Đồng chí bảo thế nào?”

“Một công tác quan trọng của đội bị thất bại, đồng chí phải chịu trách nhiệm trước đoàn uỷ. Tôi bảo thế, rõ chưa?”

Từng nhát búa giọt vào hai mang tai, điếc đặc con nhĩ. Tôi sắp quỳ xuống, tôi sắp quị xuống. Thấy đội trưởng nổi lôi đình, mọi người xung quanh đã bỏ đi. Tôi xuống nước, ấp úng:

“Tôi…”

Đội trưởng thao láo nhìn tôi. Rồi hai con mắt đỏ cúp xuống. Nhưng vẫn im lặng nặng nề. Gan bàn chân tôi như kiến lửa leo vào đốt. Cự nói:

“Kiểm điểm trước đội đã, rồi tập thể sẽ quyết định.”

Đã biết mẽ Cự nói tập thể, chứ khi nào Cự cũng to mồm hơn mọi người.

Nhưng Cự lại dịu dàng:

“Nói thế chứ, tôi cũng nói cho đồng chí biết, các xã cả huyện này đều thất bại lúa thần kỳ hết, không phải chỉ có ở đây. Đồng chí biết chưa?”

Không đợi tôi trả lời, Cự lại nói:

“Có công tác này gấp.”

Tôi lại biết thế là thoát rồi. Cự nói như đương bàn bạc, thế là mọi việc đã bình thường lại, bao giờ cũng vậy. Tôi hỏi thân thiết và lễ phép:

“Thưa, gì đấy ạ?”

“Việc này cần làm trước cho kịp tổng kết. Giao cho đồng chí tối mai tổ chức kết nạp Đảng nốt số rễ chuỗi xóm Am, xóm Chuôm. Những người này: anh em đồng chí Cối – kể ra ông bố cũng tốt, nhưng phải cái tai điếc, thì thôi. Bố con đồng chí Đơm, cô Đơm và ông Diệc. Cả thảy bốn người. Làm tốt công tác này mới có thể xét lại đội đồng chí để chết lúa thần kỳ được.”

Dù sao, thế là lại êm rồi. Nhưng tôi còn lúng túng chưa rõ việc kết nạp này cũng không lấy gì làm to tát mà tôi lại được giảm cái tội mất mặt kia. Hay là Cự cần sĩ diện, hay là bởi lúa thần kỳ cả hàng huyện, hàng tỉnh đều chết toi cho nên hoà cả làng, không thành tội lỗi ai. Tôi làm kết nạp đảng viên cho rễ và chuỗi đã hai lần, mặc dầu chưa ở đâu tôi dám hé răng cái nỗi mình không phải đảng viên.

Tôi đương nuôi hy vọng rồi sẽ xoay được một giấy giới thiệu về cơ quan, tôi là đảng viên, được kết nạp mới toanh giữa cuộc đấu tranh quyết liệt. Tôi đem về cơ quan cái giấy ấy. Vả lại, khuyết điểm ngày trước của tôi xảy ra ở cơ quan đã lâu, mà các phòng, các ban thì đổi xoành xoạch, có khi trở về chẳng ai nhớ, lại nhiều người mới chẳng ai biết cái việc khỉ ấy. Lần ấy tôi đã được duyệt lên đối tượng. Rồi tôi bị nhà bếp phát hiện tôi ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Bấy giờ, mì chính còn hiếm như vàng. Cả tháng, được bán phân phối một gói mì chính Thái Lan thật hiệu “cái gáo” đem chia cả phòng hơn hai mươi người, một xuất được ba thìa con. Thế cũng đã quí, chỉ vài hạt rắc vào bát canh rau muống, đã ngọt thơm khác hẳn canh không người lái.

Tôi làm công đoàn, được đi mua lĩnh những gói mì chính quí báu về. Tôi nghĩ được cách bóc khéo mép cái giấy bóng gói, nhét đường tây vào. Mì chính và đường đều trắng nhuế nhoá, mà đường lại ngọt sẵn giống mì chính. Đến hôm chia, tôi bày ra cắt từng gói mì chính trước mặt mọi người. Anh em đã rọc giấy sẵn để gói từng suất. Chẳng ngờ, mấy hôm ấy trời trở nồm, bao mì chính đã hở rồi dán lại, đường ướt vón thành cục trong bao. Tôi không thể chối được” thằng ăn cắp đã trộn đường vào mì chính…” Đối tượng đảng của tôi chìm vào bóng tối, đi tong.

Tôi nghe rõ đội trưởng Cự nói rồi, nhưng cũng giả hỏi lại:

“Tối nay à?”

“Không, tối mai.”

“Làm ở địa điểm nào?”

“Ở nhà đồng chí Diệc bên Am.”

“Tôi có phải đi triệu tập…”

“Đã báo cả rồi. Xong việc này, báo cáo lên nhiều công tác một lúc, mới che được cái thối lúa. À cả các nơi cũng thế.”

Rồi cười hì hì. Rồi lại nói:

“Có việc này tôi dặn trước đồng chí.”

“Việc gì ạ.”

“Bố con Diệc là con rể, là cháu địa chủ có tội ác.”

“Vâng.”

“Hôm chôn được ba ngày, thằng Diệc còn về cúng cơm bố vợ.”

“Ôi, thế thì làm sao kết nạp…”

“Nhưng bố con anh ta đều là khổ chủ, đã tố dứt khoát rồi. Có đúng thế không?”

“Đúng.”

“Đồng chí làm biên bản cứ nói gọn nhà nó là thành phần bần cố, đừng lôi thôi chữ nghĩa gì thêm nữa.”

Lắm việc, lắm mưu mẹo dồn dập, tôi dạ nhịp rồi ngồi thần mặt cho đến lúc đội trưởng Cự đổi vai đeo sắc cốt, bước ra. Cự lên khỏi đường bờ ruộng, tôi chưa lại người, vẫn còn tù mù như ngái ngủ.

Đội trưởng Cự chợt quay lại. Hốt nhiên, tôi chột dạ, không hiểu sao lại trợn hơn lúc nãy.

Nhưng Cự chỉ nói:

“Này bảo thằng Cối ra cuốc ngay cái mả ăn mày đi. Xem có dây khoai, dây muống ở đâu thì rấp vào. Để thế người ta đi qua chửi cho thì cậu đeo mo nang vào mặt đấy.”

“Vâng, vâng.”

Trưa hôm ấy một mình Cối cắm cúi san lấp, trồng mới năm thước ruộng chéo mõm bò lại thành ba luống dây khoai mới gọn ghẽ, một lúc đã hết tang tích cái ruộng lúa thần kỳ vu vơ.

Chiều hôm sau tôi lo lễ kết nạp, nói là sửa soạn, nhưng cũng đơn giản. Bấy lâu đi cải cách, theo khẩu hiệu đồng ruộng là chiến trường, ở mặt trận thì tất tật mọi việc đều giản dị, khẩn trương từ giấy tờ đến mọi lễ lạt, anh đội ở mỗi thôn lo lấy việc lễ kết nạp, cáng hết từ giới thiệu đến công nhận đảng viên dự bị.

Tôi tính đốt ngón tay từ khi về xã này lần lượt qua các công tác: bắt rễ xâu chuỗi, cụng đầu tố khổ, chỉ định trưởng thôn, thành lập dân quân, đấu bá, cắm thẻ nhận ruộng, chia quả thực rồi kết nạp đảng, tiêm máu mới vào tổ chức cơ sở rồi liên hoan xong đội rút về khu tổng kết, xong lại chuẩn bị đi đợt khác. ở đâu chưa biết, đã có tài liệu và kinh nghiệm các hội nghị, nơi và làm đã thuộc. Từng bước tuần tự tuy bận thật, nhưng thật cũng không nghĩ nhiều hơn và lẫn lộn những ăn ngủ thường ngày, kể cả khi hò hét những câu to lớn mà không hiểu nghĩa đến đâu, cứ phán ra đấy.

Tôi đi bảo mọi người, dầu đã rõ ai cũng biết rồi. Tôi làm thế cốt ra vẻ ta đây quan trọng. Bác Diệc ngần ngừ: “Tôi đã xin với anh đội trưởng tôi cũng như cố Cối điếc lác, tôi nhìn đèn thì lông quặm cụp xuống, loá lắm, ngồi đâu cũng sợ sáng, phải chui lủi như con ếch con nhái thì đừng cho chúng tôi lên Đảng làm gì”. – Không, trưởng thôn phải vào Đảng, trưởng thôn cả nước đều đảng viên, rồi còn lên chi uỷ, lên huyện uỷ, tỉnh uỷ. Bác Diệc cười méo một bên miệng: “Đội ơn anh giúp cho, tôi mà lên quan huyện thì cả vùng này nó đặt vè – Vè thế nào? – Từ thủa chui trong bụng mẹ ra thằng Diệc chưa biết đường lên huyện đằng nào. – Cờ đến tay ai người ấy phất chứ. Làm rồi khắc biết. Tối mai, cứ tối mai đấy.

Tôi tưởng bảo cái Đơm thì có thể khó. Tính nết nó trẻ con. Đơm giận tôi hay là Đơm bết với đội trưởng quá, lâu tôi không gặp. Chẳng ngờ lại dễ như đùa. Tôi vừa nói “mai đi kết nạp nhé”, Đơm cắn tôi một phát vào vai. Nanh răng nó lõm một vết, đau như chảy máu trong áo. Dữ như con chó cái ghen con, nhưng tôi biết thế là nó đương sướng, nó đã bằng lòng. Tôi nèo thêm một câu cho chắc: “Tối đến đấy”. Đơm không trả lời, Đơm xông đến toan cắn nữa. Tôi chạy.

Thế mà khi tôi bảo Duyên lại đâm ra rắc rối nhất. Duyên đương dựa cột ngồi thừ trong góc nhà, mắt đỏ hoe. Tôi sà xuống ôm Duyên. Duyên đẩy tôi hự một cái văng bắn ra, trán vập vào cái cột. Phải một đòn bất ngờ, tôi loạng choạng. Nếu không vớ được cái cột, chắc đã ngã bổ chửng. Tôi tưởng Duyên rỡn, thường ngày Duyên vẫn đùa táo tợn thế. Nhưng rồi cũng không dám sàm sỡ, tôi chỉ men đến. Bỗng Duyên chửi rống lên:

“Cha tiên nhân bố chúng nó!”

Rồi hu hu khóc. Nó chửi bóng tôi a? Không có lẽ. Tôi ngọt nhạt khẽ gọi: Duyên, Duyên ơi. Duyên lại tru lên. Tôi bảo đừng, đừng thì Duyên càng nức nở, lại chửi. Gần chùa gọi bụt bằng anh, oai anh đội ở tôi trong con mắt Duyên bị mờ nhạt, chìm nghỉm đã lâu rồi. Tôi ngồi im nhìn Duyên. Động lòng, tôi nghĩ vơ vào giá không dở cơn khóc cơn chửi chắc nó đã cờn lên tôi rồi. Cái môi rừng rực cong lên thế kia ngoạm vào mặt, như con lợn tháu xốc cám. Nhưng mà Duyên vẫn đương khóc, đương chửi bới.

Tôi đã đoán chừng được những giọt nước mắt của Duyên. Mấy hôm ấy lại một đợt cán bộ thôn đưa người đi nhận ruộng. Từng bó cọc thẻ đan nan đầu như cái vỉ ruồi dựng ngoài bờ dậu. Mọi người xô sang những cánh đồng bên kia sông, đấy đất gan trâu, không phải phù sa, toàn ruộng lúa tạ. Ngày chia không xong, tối lại họp. Người quát tháo, người chửi, người kêu khóc, người vùng vằng bỏ về, lại rối lên. Chắc Duyên ở đám ấy ra. Không biết ruộng nương được thế nào, đến đâu rồi, xong chưa.

Duyên hơi ngớt, chỉ còn thút thít, tôi khẽ hỏi:

“Cái gì thế?”

“Chúng nó bảo em sắp về nhà chồng, không có khẩu ở đây. Không được chia.”

“Đội trưởng Cự biết không?”

“Anh ấy bảo phải đi trình bày với nông hội.”

“Thế thì được.”

“Được là được thế nào. Những quân mới ngửi thấy hơi ruộng đã giơ chân nắm tay như bọn trâu điên. Em bắt đền anh.”

“Được rồi.”

“Những như anh Cự cũng còn co vòi nữa là anh thì ra con qué gì.”

“Đã có cách.”

“Cách thắt cổ chết à?”

“Đã biết chưa, tối nay kết nạp. Xong thì em thành đảng viên. Đứa nào dám ho vào thì có mà chết tươi. Đảng viên rồi, còn lên cán bộ, lên chi uỷ, làm gì cũng được.”

“Thật thế hả anh?”

Hai mắt Duyên đã ráo hoảnh, lại cười tít. Nhà đương vắng. Chúng tôi lôi nhau chui vào xó luồn ở vách sau. Tàu lá dáy cọ đi cọ lại vào mặt gây mùi ngai ngái. Duyên đè ngửa tôi ra, như trả thù chứ không phải là đền ơn. Cặp, túi, mũ vứt vung vãi. Lát sau, Duyên cười rúc rích lôi tôi dậy. Tôi đeo túi, đội mũ rồi ngoái cổ lại: “Tối nhé”.

Xế trưa, đội trưởng Cự lại tìm tôi. Trên cánh đồng, những cây thẻ cắm nhận ruộng lô nhô như quân cờ bỏi. Đội trống ếch rập rờn đằng thôn Đìa nghe xa xa dưới đồng sâu lên. Đôi chốc, tiếng tù và rúc như sáo chiêng sáo đẩu con diều thi hội các làng ngày trước. Đàn ông đàn bà bước xăm xăm đi không nhìn ngang ngửa, ai cũng cầm một bó thẻ cắm ruộng như bó chông. A lô. .. a lô… Bà con nông dân tập trung bên bụi duối nghe điểm danh… A lô, ngày hội thắng lợi, hát lên, hát lên… Một hai ba… Chủ lực là nông dân ta… Ai đi hò lờ… Hò lơ, hó lơ…

Tôi ra đồng nhưng tôi không túi bụi vào đám chia ruộng, nhận ruộng. Tôi rà rà men bên bụi tre. ở đấy, mọc dại những bụi hoa mò đỏ sẫm, những cành tầm xuân gai lủa tủa hoa màu đào phơn phớt. Tôi hái hoa mò, hoa tầm xuân, bó thành bó. Đội trưởng Cự đã bước tới sau lưng.

Đội trưởng Cự cười:

“Trang trí hội trường à?”

Rồi Cự nói:

“Vợ tớ sắp được sang đội công tác cải cách bên Thái Bình. Tối nay tớ cho nó lên để cậu kết nạp một thể. Tớ kết nạp nó ở dưới ấy thì không khách quan, quần chúng người ta phê bình.”

Rồi đội trưởng Cự tăng tả đi, câu nói và việc nhẹ nhàng coi như gài thêm, như tình cờ. Chiếc loa giấy đeo đằng lưng nhô nhốp như con chó con leo dây giật giật. Nó cũng chẳng nghe câu đệm nịnh của tôi: “Anh yên tâm, sẽ kết quả”, đội trưởng đã mải miết biến vào đám người xúm xít giữa đồng. Tôi biết việc kết nạp vợ Cự đáng lẽ phải nói từ hôm nọ thì bây giờ Cự làm như chợt nhớ ra.

Chập tối, bác Diệc đã đun sẵn nồi nước chè tươi vò. Cái chè vò thật đậm giọng. Tôi uống đâm ra nghiện. Xuống ở nhà Cối, được cái thằng Cối cũng uống chè vò sáng sớm. Tôi mới để ý ở đây đi ra đồng ai cũng uống mấy bát nước chè vò rồi đến trưa mới đến bữa cơm cám rau rợ. Gà gáy tan canh bác Diệc đã lui hui vò nắm chè hái nhiều qua bỏ vào cái rá con, dội đổ một lượt nước sôi “làm lông chè”. Song đâu đấy, bỏ chè vào cái ấm đất, đun liền một nồi. Khi ấy, tôi cũng vừa dậy. Tôi chưa dậy thì bác Diệc gọi to: Nước đương ngon, anh đội anh đội ơi! Tôi lồm cồm bò trong chõng ra, mắt nhắm mắt mở, hớp từng ngụm. Chè tươi vò ngọt chát mà bùi, cái ngái ngủ, cái mệt quần thảo với Đơm cả khuya đêm qua biến hết. Bác Diệc và tôi làm hết liền hai ấm nước. Rồi bác Diệc ra đồng. Vác cày, cuốc, bừa hay cái cào cỏ thì cũng thêm cái giỏ đeo lưng, được con cua, con nhái thì bỏ lên đấy. ở nhà, có hôm tôi với Đơm lại quần nhau nữa, khi các em Đơm cũng đã ra đồng cả, rồi tôi có đi đâu mới đi. Đã lâu quá, tôi đi khỏi nhà Đơm, mà vẫn nhớ, nhớ thế.

Bấy giờ, trên chõng, bên ấm nước, ngọn đèn hoa kỳ không có bóng hiu hiu lay lắt. Trên gian thờ, bó hoa mò và hoa tầm xuân, trông nhấp nhoáng cũng lạ mắt. Duyên vừa đến trông thấy bó hoa, nói một câu khiến tôi chưng hửng:

“Cái hoa mò nhiều bọ mò lắm. Bọ mò chui vào cắn rốn thì có mà ngứa toạc bụng ra.”

Tôi chống chế:

“Màu đỏ hoa mò đẹp.”

“Đẹp nhưng mà cả đêm chẳng ai gãi rốn hộ tôi.”

Duyên bước lại, rón ngón như sợ con bọ mò leo lên tay. Chẳng cần hỏi tôi, Duyên cầm bó hoa vứt ra bờ rào rồi vào bậu cửa ngồi với Đơm. Bà lão loà trong kia đã lẫn vào bóng tối chẳng ai nhìn thấy đâu cả. Muỗi ở cái chuôm cạn sau nhà tràn vào vo ve râm ran, táp lên mặt như vốc trấu ném.

Một người con gái dáng thấp nhỏ đương vào qua bụi duối. Vợ đội trưởng Cự.

Một lần nữa lại trông ả khác hôm nọ. Áo nâu mới cổ xây, vai đeo túi vải ka ki tím. Đầu búi tóc lối cán bộ, không chít khăn nâu như mọi cô gái trong làng.

Tôi nói với mọi người:

“Hôm nay kết nạp có cả vợ đồng chí đội trưởng.”

Duyên đứng phắt lên, rít hàm răng:

“Con đĩ kẻ Đìa hả?”

Vợ đội trưởng Cự đã bước vào nền đất thềm nhà:

“Chào…”

Duyên đã lao ra túm tóc, dìm xuống: “Tiên sư con đĩ! Bà xé xác con đĩ!”. Ả nọ chưa kịp biết thế nào đã bị ngã huỵch lưng vào chiếc cột tre như cây dừa đổ, cả cái nhà rung răng rắc chao đi. Đơm cũng vừa lăn xả tới. Tiếng chửi, tiếng đấm đạp huỳnh huỵch, tiếng xé quần áo rợn tai. ả nọ chết dí không ngoi đầu được. Duyên ngồi cưỡi lên – “Mày mà kêu thì bà nhét cứt vào mồm!”. Người đàn bà bị hai người nắm tóc dằn xuống ngồi phệt vào mặt, cứ xoay như cối xay, tiếng ngạt ú ớ. Ngọn đèn lung lay vì gió đòn, tắt phụt. Tối om om, tiếng đấm, gót chân đạp càng huỳnh huỵch và những tiếng xé quần áo soàn soạt. Bác Diệc và tôi loanh quanh luýnh quýnh không biết làm thế nào.

Vụt một cái, bóng người vùng được lên, chạy thoát ra ngõ. Vấp vào trưởng thôn Cối đã đến từ nãy vẫn đứng ngoài, Cối bị văng ra, cũng không kịp nhìn ra ai. Nhưng Cối cũng không vào nữa.

Tuột mất con thù rồi, Duyên và Đơm hổn hển lên ngồi xuống đầu chõng. Bác Diệc chẳng biết ngô khoai thế nào, vào bếp thổi đống dấm, đem cái đóm ra châm lại đèn. Hai khuôn mặt mồ hôi nhợt nhạt trong ánh đèn chập chờn. Đơm cầm lên cái túi vải đeo vai của vợ đội trưởng. Đơm móc tay lôi toạc cái túi. Chẳng có gì, chỉ thấy lòi ra mảnh giẻ. Duyên đương còn hầm hầm sưng mặt cũng cười ré: “Cái túi cán bộ tố điêu của con đĩ!” Cùi tay Đơm rơm rớm máu. Đơm giơ lên khoe: Tớ đấm nó gãy mất cái răng… Duyên cũng hớn hở: – Tớ ngồi day đít thật lực vào mặt nó!

Thế là vỡ họp. Uống hết ấm nước chè rồi tôi về nhà cả Cối bên Chuôm. Suốt ngày túi bụi ngoài đồng cắm thẻ mới về, đã đến thẳng nhà bác Diệc. Chẳng nên công chuyện gì, tôi đi lù khù đầu rỗng không. Tôi kể chuyện trận đấm đá vừa rồi, Cối cũng lặng yên nghe như vừa mới biết. Cối cười hê hê.

“Ối giời, có thế mà anh chẳng đoán ra.”

“Không đoán ra làm sao?”

“Chúng nó đánh ghen. Ngứa ghẻ đòn ghen thì khiếp lắm.”

Tôi lờ mờ nghĩ ra. Hình như cái gì tôi cũng hiểu chậm, nhiều khi có việc tôi chưa tóm đâu được đầu đuôi thì xung quanh đã vanh vách cả. Tôi đâm bối rối, vẩn vơ, một mình lang thang đi đến khuya, đầu óc lơ mơ. Hôm sau, cả làng lại sôi lên, tất tả, hùng hục những rơi rớt chuyện ruộng và quả thực.

Tôi tìm đội trưởng Cự để nói cái việc tối qua hỏng bét, tôi lại thật thà muốn bảo Cự rằng tôi thấm thía cái đuôi câu nói của cả Cối. Vì anh đội trưởng máu dê cho nên chúng nó đánh ghen. Ăn vụng nhiều quá, chùi mép không hết. Nhưng chỉ nghĩ thì hăng hái vậy thôi, tôi chẳng dám nói.

Tôi đi tìm Cự nhiều nơi, đến tận chiều cũng không thấy Cự. Không hiểu Cự đi đâu. Chặp tối, tôi lại ra đi tuần với dân quân, một ngày có buổi đi tuần là vui thú nhất. Khuya, tôi vào cái lều canh trên mặt nước bùn inh tai tiếng ễnh ương như mọi khi. Nghe rào rào người nói và tiếng khúc khích từ xa. Hình như đám con gái đang cong mỏ chuyện đánh ghen nọ. Tiếng Duyên lát xát nỏ mồm nhất. Chúng họ đã trông thấy tôi.

“A anh đội! Anh đội!”

Tiếng chào hỏi và những câu nói trống không chớt nhả:

“Xê ra, bọn dòi bọ xê cả, xê ra. Rước anh vào với cái Duyên. Cái Duyên được ngồi cạnh anh trước, cái Duyên trước. Thế anh Bối xử kiện đám đánh nhau chập tối hôm qua thế nào? Anh phụ trách toà án giỏi đấy, không có anh thì có án mạng rồi. Tội nghiệp quá, vợ đội trưởng bị đứa nào đấm gãy răng lại chát đít vào mặt, đứa nào thế, hả anh?”

Tiếng cười the thé. Cả lũ lại đã nằm thườn thượt chen nhau kín cái sàn hóp đá. Lại nhao nhao. – Sao anh Bối không vào can? Nhỡ để có đứa chết thì làng mang vạ.

Tôi chỉ lặng im trong bóng tối đêm khuya mát trời. Chẳng mấy lúc, đã rập rờn những tiếng ngáy, không biết ngáy thật hay giả. Cái trạm gác vẫn như mọi đêm, cứ nằm đây thì tôi chẳng còn nhớ còn sợ anh đội trưởng đã doạ “mày ngủ với bao nhiêu con dân quân”. Tiếng chẫu chàng uôm oạp râm ran rộ lên từng lúc. Chỉ giun dế thì rỉ rả liên hồi. Chốc chốc, dưới nước gầm sàn một con cá chuối quẫy đớp lật chiếc lá súng kêu chách một cái.

Tôi lần sờ vào cổ Duyên. Duyên hất tay tôi vật lại ngực tôi huỵch một cái. Thế là nổi lên tiếng choe choé ở một góc. “Háu thế, trò chuyện cái đã nào!” Rồi các góc cười rộ lên. Cả những đứa lúc nãy vờ ngáy cũng cười sặc, ho khòng khọc. Chúng nó cợt nhả, chẳng khác ếch nhái kêu chẳng chuộc dưới gầm sàn, như mọi đêm, tôi đã quen. Và chúng tôi cứ rì rầm trong bóng tối, biết chúng nó đương dỏng tai lên nghe cả. Duyên cắn tai tôi, nói: “Đánh cho nó về bảo liệu hồn những thằng đàn ông máu dê này này”. Nhưng rồi Duyên lại dịu dàng vuốt mu bàn tay tôi.

“Anh Cự chia cho em được một miếng ruộng với một gian nhà địa chủ Thìn.”

“Về nhà chồng đến nơi, lấy nhà làm gì!”

“Của giời cho chẳng lấy cũng thiệt. Mà bán ngay rồi.”

“Phải cho nó ngủ mấy lần?”

“Còn hỏi thế nữa thì thiến!”

“Sướng thế mà lại đánh vợ người ta.”

“Cứ đánh chứ. Hí, hí…”

Đêm dần dần khuya.

Sớm hôm sau, cái chòi canh lại biến hết người lúc nào. Như mọi khi, tôi vẫn rũ rượi ngái ngủ chưa dậy được. Tiếng lạt xạt cỏ, tôi hấp háy nhìn ra. Đội trưởng Cự đương xăm xăm vào.

Cự nói ngay:

“Tối hôm kia, tớ nắm được chuyện hết rồi.”

Tôi ngồi dậy, vẫn lúng túng, Cự lại nói:

“Cũng coi như xong, không có gì đáng lo.”

“Là xong thế nào?”

“Xong là xong, là kết nạp cả rồi. Đồng chí làm báo cáo ngay đầy đủ tên tuổi như tôi đã bảo, tôi ký chứng nhận rồi gửi lên đoàn uỷ cho kịp.”

Chẳng hiểu thì cũng như hiểu, thế là được rồi. Tôi đương nghĩ đến cái giấy giới thiệu mai kia tôi sẽ được về sinh hoạt Đảng ở cơ quan, đội trưởng Cự sẽ ký xác nhận, dấu đỏ đoàn uỷ kèm bên. Đội trưởng Cự làm cái gì cũng được, lão này như cú như cáo, có thể nó đã biết tôi không phải đảng viên. Nắm đằng chuôi, làm được việc cho lão cái đã, tôi viết báo cáo ngay. Việc của tôi rồi tính sau.

Đội trưởng Cự dửng dưng nói sang công tác khác.

“Các thôn đã cắm thẻ gần xong. Nhân dân đương phấn khởi chuẩn bị liên hoan thắng lợi. Tôi phải lên đoàn uỷ, có công văn triệu tập hoả tốc. Sáng nay không hội ý đội, đồng chí về xóm Chuôm thấy nếu còn thì chia nốt chỗ đồ thô quả thực ở nhà địa chủ Thìn. Cái nhà thì tôi đã cho bốn hộ cố nông. Hôm nào xong đem hết quả thực đi, người ta đến nhận nhà. Đấy, công tác hôm nay của đồng chí. Chưa xong hôm nay, mai phải dứt điểm.”

Nói rồi đội trưởng Cự đi, khoác cái sắc cốt nặng những công việc xô lệch một bên vai áo đại cán.

Tôi lại vào nhà địa chủ Thìn – hôm trước mít tinh xoá bỏ giai cấp địa chủ toàn thôn tôi đã cho đưa lên xã hết quả thực. Có còn mấy cái chum vại, cái khung cửi vải, cái thuyền gang tán thuốc bỏ tuềnh toàng giữa bãi, mỗi đêm lại mất trộm một thứ. Chẳng biết bây giờ có còn gì.

Cái nhà ngói ẩm thấp, cổ lỗ, như mấy mươi đời nay vẫn lụ khụ thế. Những bức tường gạch vồ để mộc không vôi vữa đã lên rêu xanh đen, lại thêm từ mấy lâu nay những dây mã đề, lá mảnh bát, dây bìm bìm trong kẽ gạch mọc ra. Hai lần cổng tán ngoài ngõ mới vào đến cái cửa gạch xây trên rấp chông trà chống cướp cao như chòi canh. Năm gian nhà ngói thông thống trước cái sân gạch Bát Tràng, cuối sân có một bể nước hứng nước mưa hai cây cau.

Trong nhà ngoài sân tan hoang, sạch như chùi chẳng còn một bóng đồ đạc. Hôm trước những cái còn lại được đem về đến đây rồi đêm hôm người ta đã nẫng đi, đội trưởng không biết – chẳng ai lạ, chỉ đám dân quân thôi mà. Hàng cây cau liên phòng lùn tịt, không phải mùa quả cũng chưa đến mùa hoa, đứa nào ngứa tay đã chặt trụi hầu hết. Trong nhà, các bậu cửa gỗ, hai gian trái lồng bức bàn thành buồng cũng bị tháo vác đi. Một mái nhà hậu trống hốc, đã dỡ mất một mảng ngói. Những hộ mới được chia chưa đến ở nhưng gian nào cũng đã rấp rong, những hàng gạch sân được nậy lên xếp phân ranh giới, lại chăng dây ngăn từng khoảng như rào bờ ao. Tôi không đoán được gian nào Duyên được chia. Nhưng mà nó bán cho người ta rồi, có biết hay không biết cũng chẳng làm gì.

Không ai lai vãng đến, ở thôn khác cũng đương có chia của người ta kéo đến hôi. Tôi ngồi xuống thềm, định ngồi một lát rồi về, tôi thờ ơ trông ra bể nước. Cả xóm cũng không nghe động tĩnh chỗ nào. Nhiều nhà còn đổ ra đồng xem chỗ ruộng mới được cắm thẻ, không thì kéo nhau đi tìm những nơi còn chia quả thực, rồi lại quay về ngắm ruộng. Những khoảng ruộng đã được rào kín như giàn trầu không, mà vẫn chưa yên tâm. Ngày thì đi quanh ao xem ngắm cho thuộc mặt ruộng mới, tối còn mò rình ngộ có đứa nào nhổ thẻ cắm lấn bờ.

Một người lừ đừ ngoài cổng tán vào. Thoạt nhìn cái áo dạ cứt ngựa, biết trưởng thôn Cối, tôi vẫn giật mình. Cái áo của địa chủ Thìn tôi đã trông thấy Cối lột, vẫn mặc cả ngày cả đêm từ hôm ấy.

Trông thấy tôi, Cối sững lại. Cối ngỡ trong nhà không có ai.

“Anh ở đây à?”

“Ừ. Quả thực đâu cả mà đây không thấy? Đội trưởng bảo tôi đến chuẩn bị chia nốt.”

Cả Cối cười.

“Còn cái qué gì mà chia với bôi. Đội trưởng chỉ còn thấy lúc nghe báo cáo thôi. Chiều hôm qua có mấy cái mễ lăn lóc, em định đến đem về, thế mà bây giờ cũng đã biến.”

Cả Cối chắp tay ngắm quanh, rồi trỏ cái dây mây, nhìn tôi:

“Cái rơm cái rác này chẳng đáng một tiền, anh cho em nhé.”

Rồi Cối cởi cái dây mây hai đầu buộc vào hai cái đinh chốt ở tường, dây phơi xống áo. Cối nhổ cả đinh rồi Cối cuộn vòng tròn lại, cắp lên nách. “Chào anh Bối”. Cối cung cúc ra. Đến cổng gạch ngoài, Cối ngoảnh cổ lại gọi to:

“Anh Bối! Anh cho em…”

“Cái gì?”

“Cái mê tín này ấy mà.”

Cối trỏ tay vào con chó đá to bằng hòn gạch chỉ chôn ngập chân chỗ đầu tường. Cối vừa hỏi vừa lay nậy con chó lên. Không nghe tôi trả lời, cũng không phủi đất, Cối cắp con chó đá vào nách bên kia rồi lùi lũi đi.

Tôi vẫn ngồi thừ đấy. Tôi không biết đi đâu, tôi ngại ra đường nhỡ gặp việc lại phải làm. Nhưng ở không cũng không tiện. Lúc nào cũng bận rộn, anh đội không thể ngồi ơ mặt ra thế này. Viết báo cáo kết nạp Đảng mà Cự nói thì trong đầu chưa nghĩ được chữ nào. Bây giờ mở sổ tay ra hí hoáy viết nháp, viết không khó, nhưng nghĩ thì mỏi mắt lắm mà lại không kềnh ra ngủ ngay ở vỉa hè này được. Tôi nhớ hay là về nhà bố cả Cối. Cái ba lô kê ra, úp quyển sổ lên mặt. Giả bộ làm việc mệt quá, không ngờ lại chợp đi – thường vẫn thế, mà cũng đương phải nghĩ phải làm thế thật.

Tôi đeo túi lên vai. Bỗng Đơm ở đâu nhớn nhác đến. Dạo này cái Đơm bảnh gái hẳn ra. Chắc đội trưởng đã vần ra uốn nắn tợn. Mảng vá đụp đít quần hứng cái bẩn thấy tháng đã được thay bằng một miếng vải nâu da bò mới vuông vắn. Tấm áo tấc nâu đã díu lại những chỗ sứt chỉ, lộ cánh tay trùng trục. Đôi vú tròn vồn ra như hai quả bưởi. Lại hay đỏ mặt cười toe toét. Đơm có chửa rồi cũng nên. Biết nó chửa với thằng nào, với tôi hay Cự, hay thằng nào nữa. Đội không rút nhanh, nó phưỡn bụng ra đứng chỉ vào mặt đứa nào, thì có mà chết mất ngáp. Đơm đến đây làm gì. Có thể Đơm trông thấy tôi, Đơm vào. Chưa đã cơn à.

Nhưng Đơm làm như không thấy tôi. Đơm nhìn xéo trong nhà rồi đi thẳng vào. Tôi ngờ ngợ thế nào, đây là nhà bên ngoại, Đơm đã thuộc cả. Đơm lúi húi trong ấy một lúc chưa thấy ra.

Tôi hỏi vọng vào:

“Ngủ trong ấy à?”

Đơm nhón gót bước ra, mặt cau có khác lúc nãy. Đơm lẩm bẩm một câu, rồi sa hai dòng nước mắt.

“Chúng nó đào mả cha nhà chúng nó hết rồi.”

“Cái gì?”

“Em chôn chục cái bát chiết yêu cất ở chỗ gầm chạn mà cũng có đứa moi lên.”

“Vào xem lại, xem kỹ cái đã.”

Đơm lừ mắt, có khi đã đoán không phải tôi nói vào xem lại còn hay không. Nhưng Đơm vẫn đi với tôi vào gian khuất trong bếp. Một thoáng, hai đứa đã nằm rúc chỗ chân tường dưới những dây thài lài tía. Ai đi ngoài không trông thấy, nhưng nằm đây có thể nhìn sang được bên kia bờ ao, thấy chân người đi vào.

Đơm nói:

“Chỉ được cái này là giỏi!”

“Có giỏi hơn đội trưởng không?”

Đơm đương nhay tôi tưởng đến sứt miếng môi. Bỗng Đơm nhả ra nghển lên, lơ láo nói khẽ: “Cái cối! Cái cối!” Rồi Đơm đẩy tôi ngã xuống mép tường. Đơm kéo quần, chạy ra. Đơm cứ thế chạy, quên cả tôi vẫn nằm trong bụi thài lài. Nhưng tôi cũng đứng ngay dậy. Bây giờ mới sợ nhỡ có con rắn dưới ao bò lên thì sao.

Tôi thần người, ngồi lên cũng nhìn được vẫn ở đấy có cái cối đá lâu đời đã thủng trôn như hòn gạch bỏ lăn lóc, chỉ đến mùa để đập lúa. Đơm chạy thoắt đến bên cối. Đơm bê cái cối nghiêng lên rồi cứ thế Đơm vần cối ra ngõ. Cái cối đá thủng lăn như cái bánh xe. Không biết làm thế nào rồi Đơm vần được cái cối đá từ bên Chuôm về thôn Am. Vào đến sân, hai tay Đơm nâng hẳn cối lên, đẩy vào giữa nhà.

Rồi Đơm lại chạy biến đi. Nhưng Đơm không trở lại chỗ tôi. Đơm lại nhớ ở đâu có cái gì. Mấy hôm ấy ai cũng bận bịu hớt hải đi tìm kiếm vơ vét.

Ở trong nhà, người mẹ tàn tật vẫn chầu hẫu trong xó luồn cuối vách. Có lúc nghiêng đầu như nghe được tiếng chân, tiếng cái cối lăn thình thịch. Hai con mắt cùi nhãn ngước ra. Người đàn bà như con cóc ngồi gầm giường. Con cóc lúc trở trời kèn kẹt nghiến răng. Người này chỉ là cái bóng con cóc. Nhưng hôm nay bỗng nhiên như biết nghe ngóng. Hai bàn tay chống lên hai miếng gỗ, người ấy bò ra chỗ sang sáng trước cửa, lần đến bên cái cối thủng. Bàn tay vêu vao khô đét, đen như đất, rờ lên lỗ hổng miếng cái cối. Người tàn tật ngửi thấy mùi quen thuộc của cái cối đá thủng.

Ôi con người đến lúc ấy tỉnh lại. Bao nhiêu lâu nay mọi cái trong lều này người đàn bà ấy có tỏ tường như mọi người ta hay không, chẳng ai có thể rõ được. Nhưng cái cối đá, cái cối đá, ngày trước cô bé què đã trèo leo từ tấm bé. Ngày xưa, buổi chiều cơm nước xong ngày nào chả được chị được em ôm ra ngồi thọt đít vào cái hũm đá thủng. Con bé cởi truồng tồng ngồng, mẹ đem ra tắm ao rồi cõng lên đặt xuống cái lỗ cối đá. Như thằng phỗng, như con tò he ai đặt đâu thì ở đấy. Hai con mắt đục mờ, hai đầu gối, cái khoeo teo lại như cái sống tàu lá chuối héo. Không biết gì, nhưng cái ngày xưa của con người thì như tranh đám cưới chuột, tranh con lợn tết dán lên cột, nhớ mãi. Ơ là vậy, con bé bộ xương ngồi giữa chiếc cối đá thủng trông ra hàng cây cau như những chân con sếu gió đánh lắc lư. Ngoài kia, mặt nước ao bèo cái xanh om chốc chốc từng đàn cá trắm ăn lên quãy ùm ùm tưởng người ngã xuống ao. Chiều chiều, tiếng người ta gọi nhau lao xao bên đường làng, rồi một chấm sao hôm lấp lánh lên đằng chân tre, đứa con gái ốm yếu lùi vào giấc ngủ, vào cơn mê mù mịt đời người.

Nhưng chỉ có một bàn tay run rẩy đụng vào mặt cối thì trong khoảnh khắc tất cả thảng thốt nhớ lại. Người đàn bà cúi xuống, đặt cái đầu tóc rũ rượi trên cối. Hơi mát mặt đá như đứa trẻ ngày xưa ra ngoài cầu ao vốc nước lên mặt rửa cơn ngái ngủ. Thời con trẻ của ta ở đằng kia, ở bên kia, ở đâu, người tàn tật lồng lên giằng xé bò tới. Cái đầu đập xuống mặt đá, như chày giã, toé máu loã lợi, chúi xuống, chúi mãi xuống ngày xưa.

Tôi đương đi, tính xem về đâu nằm khoèo một giấc hay tìm đội trưởng báo cáo đã chia xong nốt quả thực.

Đơm chạy tới, mặt nhợt nhạt.

“Anh Bối!”

Tôi không để ý, giở giọng cợt:

“Lại đi đâu nào?”

“Mẹ em chết rồi.”

“Ối!”

“Mẹ em va đầu vào cối đá.”

“Cái cối đá em đã vần về ấy à? Chết thật à?”

Tôi không về nhà Đơm, tôi đi sang bên Chuôm tìm Cự. Có người chết, đằng nào cũng phải báo cáo đội. Tôi đến nhà bố Duyên. Bấy giờ chiều đã xế, nắng vàng nhạt ủ ê ngoài cái sân đất. Trông vào nhà không có ai, nhưng nghe tiếng lục sục như gà đạp ổ đằng vách trong. Rõ ra tôi vô ý. Có người ở nhà mà không biết. Tôi lùi ra tận ngoài ngõ rồi hỏi vọng vào:

“Đồng chí Cự có đây không?”

Cự bước ra ngay. Vẫn cái túi da như chiếc ấm giỏ trễ vai, hai con mắt ngầu đỏ. Còn thoáng tiếng đụng trong vách. Con Duyên vẫn trong ấy. Chắc nó ngủ rồi, cứ làm xong thì nó ngủ ngay vẫn thế. Tôi lại nhớ cái bài báo thằng Nguyễn Bổn, hay là con nào khác, không phải con Duyên, biết đâu. Nhưng khi Cự cất tiếng hỏi nghiêm nghị thì tôi quên ngay cái chuyện tóm quả tang đội trưởng chơi gái ban ngày.

“Đồng chí Bối đến có việc gì?”

Rồi nét mặt Cự lại dịu ngay. Nhưng tôi cũng chưa thấy nhẹ nhàng lại được, bởi thói quen chỉnh tề, khúm núm trước đội trưởng. Cự cười xuề xoà:

“Cả đêm qua tớ viết báo cáo tổng kết thắng lợi mà chỉ được mấy chữ. Dân bần cố đánh vật với văn hoá, phải nhờ đến đằng ấy thôi.”

“Báo cáo đội trưởng vợ đồng chí Diệc chết.”

“Sao? Thế nào?”

“Va đầu vào cối đá.”

“Chết chưa?”

“Chết rồi.”

“Đồng chí khám nghiệm chưa?”

Tôi đáp:

“Khám nghiệm rồi.”

“Chết thế nào?”

“Chắc là tự tử.”

“Tự tử! Người què, đui mắt, tai điếc, lại câm, tự tử sao được! Âm mưu địch, thế là địch vẫn phá ta. Tôi đã bảo mà, xã này có thôn còn phát động chưa lên hết, nhiều chậm tiến làm chỗ cho địch ẩn náu. à chia quả thực xong chưa?”

Tôi nói trôi chảy:

“Chia hết, còn mỗi cái cối đá thủng cho đồng chí Đơm vần về nhà, thế là mẹ đập đầu chết.”

“Không phải! Không!”

Đội trưởng Cự bứt rứt bỏ túi xuống lại khoác lên. Rồi đùng đùng đi. Tôi luống cuống theo. Nhưng ra ngõ tôi còn ngoảnh lại xem đứa nào trong vách thò ra. Im lặng, không thấy ai. Tôi lại nghĩ nếu là cái Duyên thì nó ngủ say rồi.

Cự bước nhanh nhanh, nói như hét:

“Đập đầu, đập đầu là làm sao. Đồng chí mất cảnh giác đến thế nào nữa! Chỉ có địch, địch phản ứng giai cấp mới thế. Tính xem, từ bước một, mấy người chết. Sắp tổng kết rồi mà nó còn giết đến người nhà cốt cán, làm rối loạn hàng ngũ ta. Thế này thì quá lắm.”

Tôi lập cập bước, như người có tội bị giải đi. Mà có tội thật. Tôi nói liều, nào đã trông thấy người chết. Bác Diệc đi đâu vẫn chưa về. Cũng không thấy Đơm. Có khi lũ thằng cò con sếu nhà bác sợ quá đã chạy hết. Nhà chẳng có ai. Tôi trông rõ cái đầu trên hũm cối một mớ tóc đốm nâu đốm bạc bùi nhùi rũ rượi. Đích là chết thật. Đội trưởng Cự vào trong vách cầm ra cái đòn gánh khều ngửa mặt người chết. Cổ đã cứng ngẳng, vạc xuống lằn máu tím đen vằn vèo như con gà bị cắt tiết.

Đội trưởng Cự bảo tôi:

“Trông thấy chưa, những nhát dao đâm vào cổ còn máu đọng lại. Vết dao bầu, chỉ có dao bầu mới nhát ngọt thế này. Đồng chí Bối, ngay bây giờ. Một là tìm cho được đồng chí Diệc, đồng chí Đơm. Hai là, gọi tất cả cán bộ đội, các trưởng thôn đến hội ý ngay ở nhà đồng chí Cối. Ba là cho dân quân các xóm lập tức bí mật, thật bí mật lùng xem nhà ai có dao phay, dao bầu mổ lợn, mổ trâu thì thu hết. Đi ngay, hơn bốn giờ rồi, mau lên mới kịp, tối còn họp việc khác.”

Nhưng nói xong Cự vẫn giữ tôi lại:

“Những vụ giết người bịt đầu mối thế này chỉ do tổ chức phản động. Đấy hôm bắt thằng tư Nhỡ, đương ghi biên tài sản cũng có người tự tử. Truy thằng tư Nhỡ nó phải nhận làm chủ mưu, lại khai nó đã làm trưởng thôn hai mang, trước nó đi lính thông ngôn cho Pháp, nhớ không nào? Mấy thôn đã xảy ra ma ném doạ người đi họp, đánh què trâu, mất trộm trâu, giết trâu ngoài đồng, trộm gà, đốt nhà, người thắt cổ, người bỏ đi. Chỉ chưa có một vụ nào bỏ thuốc độc. Nhưng thế đã quá đủ, quá rõ. Nếu ở đây không có thì địch chỉ huy từ xa.”

Tôi chạy liền đi. Dù vất vả, cũng thấy dễ thở hơn phải loanh quanh đấy với Cự mỗi chốc lại nghĩ ra toàn những địch.

Chặp tối, đội trưởng dân quân Duyên với ba cô nữa vào nhà Vách.

Vách nằm trong xó nhà tối om, không biết đã ngủ hay còn gật gưỡng say rượu. Thấy người nhấp nhoáng, Vách đứng dậy. Duyên gõ cạch cạch đầu súng vào cột mái.

“Anh Vách có nhà không?”

“Vách đây. Đứa nào hỏi tao?”

“Đội yêu cầu anh nộp con dao bầu.”

“Dao bầu nào?”

“Dao bầu ấy.”

“Sáng mai tao phải đi mổ lợn.”

“Đội bảo thế.”

Vách đã khuệnh khoạng ra trước mặt Duyên.
“Đội à? Mày về bảo cái thằng đội nhà mày rằng thằng Vách không nộp dao bầu. Đứa nào thò mặt đến đây thì ông chọc tiết, bây giờ ông cắt tiết chúng mày trước, lại đây. Không lại thì ông nhảy ra bóp cổ? Này, này…”

Duyên và mấy cô hốt hoảng nhảo chạy ra.

Vách gọi:

“Duyên! Duyên!”

Duyên đứng lại ngoài ngõ.

“Vào đây đã. Cho tao làm một cái, tao không giết đâu. Mày nằm ngửa cho bao nhiêu thằng đội còn được, tiếc gì người làng. Vào đây…”

Cả mấy cô dân quân khiếp quá, lẩn vào bóng tối.

Cuộc họp đội với các trưởng thôn và nông hội cả xã ở nhà Cối rộn rịch suốt đêm. Xã này đón bước ba vẫn chưa bầu được uỷ ban, được chi uỷ, lần nào họp rộng cũng ồn ã thế. Nhưng cũng chỉ đội trưởng Cự bảo đấy là có địch phá hoại và chỉ một Cự lên tiếng át cả. Những bác Diệc, cả Cối, cô Duyên, cô Đơm và cốt cán các thôn khác với cả chục cán bộ đội nhiều lúc ngồi ngây, ngủ gật. Tiếng gà lại đã gáy râm ran.

Cự nói như quát:

“Sắp bước vào tổng kết thắng lợi thì địch tấn công ta. Tên Vách đã phản bội giai cấp, nó không nộp dao, có khi chính nó gây ra vụ án này chưa biết chừng. Tôi yêu cầu dân quân thôn Am, thôn Chuôm gác nhà tên Vách ngày đêm. Sáng nay tôi lên đoàn uỷ xin được lệnh, thì đồng chí Bối đến bắt nó ngay. Có khi cấp bách quá cứ bắt không cần đợi tôi về. Các đồng chí có tán thành không?”

Tất cả bật lên “đồng ý” rồi họp tan. Dân quân hai thôn ẩn nấp rình suốt từ ngõ nhà Vách ra bờ giếng. Trong nhà, Vách vẫn im như không. Có người nghi ngờ khéo thằng việt gian này trốn rồi. Bảo nhau vào tận nơi xem sao. Vẫn nghe tiếng ngáy rờn rờn trong vách. Lại bò ra, thế là yên chí địch vẫn trong vòng vây.

Trời sáng hẳn, tôi đưa dân quân ập vào. Không thấy ai. Hay là thằng ấy trốn mất rồi, nguy quá. Đương thì thào, Vách ở trong bếp nhảy ra, hai tay hai con dao bầu, múa lên.

“Tránh ra, tránh ra. Đứa nào vô phúc cứ vào gần ông đây thì ông cho ăn cả hai nhát.”

Mọi người nháo nhào. Vách ung dung đi ra cổng làng lên đê. Đến chiều cũng không thấy về.

Trên đoàn có lệnh cho bắt Vách. Nhưng thế là nó đã trốn mất.

Việc rắc rối tới đâu, cũng như mỗi ngày, rồi cứ qua đi, lại việc khác đến. Một buổi sáng, đội trưởng Cự mặt phừng phừng hớn hở đến nhà cụ Cối gặp tôi. Vừa ngồi xuống đã rút ra một tệp tài liệu, tôi trông thoáng, một tờ in to. Tôi đoán là tờ khẩu hiệu mít tinh mừng cải cách thắng lợi, sắp được tổ chức.

Cự nói một thôi:

“Như thế, đã vào bước kết thúc. Tôi vừa được lên đoàn uỷ nghe dự thảo báo cáo tổng kết toàn đoàn. Hơn một trăm đội của đoàn rải ra trên một trăm xã. Chỉ có đội trưởng hai xã trọng điểm với đội ta được về đoàn góp ý kiến với dự thảo tổng kết. Chắc chắn ta lại vớ tuyên dương đợt này rồi. Tình hình khắp nơi phức tạp, địch lồng vào tổ chức cũ trăm phần trăm, đâu cũng giương bẫy cải cách giả, chỉnh đốn tổ chức giả trước khi đội về. Thế mà vượt hết, thắng lợi lớn, toàn đoàn truy được hơn năm trăm địa chủ lọt lưới, đến bước ba đưa tỷ lệ từ 5% lên 7,24% đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ về chính trị cũng như về kinh tế. Bây giờ vào đợt cuối, tớ đưa cậu – tôi thật dễ chịu được nghe Cự nói tớ tớ cậu cậu – đây là khẩu hiệu cho treo ở hội trường tổng kết thắng lợi ở các xã, những 12 câu, dài đấy, phải làm sẵn. Mừng cải cách ruộng đất… kẻ câu dài nhất trước. Làm luôn thì vừa cho kịp dự chi bộ, dây, đinh, giấy, lên văn phòng lấy tiền mua. Sang bước bốn, các thôn phải tự báo triệt để không một trường hợp nào tồn đọng nông dân chậm tiến. Ta đã có chủ tịch, có xã đội trưởng còn chi uỷ thì hai cũ một mới cứ thế lên xã cộng lại, tất cả các tổ chức phải xong ngay đầu bước mới kịp tổng kết.”

Sáng hôm ấy, tôi hội dân quân lại phổ biến kế hoạch tập đi đều bước duyệt binh trong mít tinh mừng cải cách thắng lợi. Một lúc, nhìn lên trên đê thấy đổ xuống có đến hai chục cái xe đạp. Những người trên xe mặc quần áo nâu, ba lô đeo lưng, đạp bon bon.

Từ hôm nọ đã được nghe có đội sửa sai cải cách ruộng đất sắp về. Có lẽ đây. Chúng tôi cũng có xe đạp, nhưng đã phải để lại trên đoàn uỷ. Từ hôm đội về, cấm không cho xe đạp vào làng cơ mà. Thế là đội cải cách kém thớ cái đội này rồi. Đội gì đây.

Đoàn xe phóng vào nhà văn phòng đội. Đã tám giờ, nhưng xe và người tiếp theo về nhộn nhịp. Mới chỉ có vài dân quân ra bãi. Tôi cũng không cho tìm thêm, để nghe xem cái gì thế này. Lát sau tôi được gọi về họp. Những cán bộ lạ nhưng trông quen mắt vì những cái áo đại cán màu xi măng, quần nâu, mũ cát két tím, xắc cốt da, xắc cốt vải. Dường như mọi người đều đã quen, hay đội trưởng Cự làm ra bộ bạt thiệp bắt tay, trò chuyện thế.

Cuộc họp không do đội trưởng Cự điều khiển mà một người loắt choắt có cái túi da to bằng chiếc ba lô đặt xuống cạnh cặp kính trắng, như ông trưởng phòng nói mở đầu họp công nhân viên chức cơ quan, vừa trịnh trọng, vừa thân, lại vừa hách.

“Thưa các đồng chí, công tác “Sửa sai và tiến lên” do tỉnh uỷ chỉ đạo, huyện uỷ thực hiện. Tôi thay mặt đoàn sửa sai của tỉnh uỷ giới thiệu với đội, đây là đồng chí huyện uỷ viên phụ trách đội sửa sai về công tác xã này.”

Rồi người cán bộ tỉnh nói một thôi như đọc lại bài “Cải cách ruộng đất thắng lợi, sửa sai và tiến lên” tuần trước chúng tôi đã họp đội đọc bài ấy trên báo để thông suốt. Người huyện uỷ viên còn trẻ, bộ quần áo nâu non, hai mắt sâu trũng, mặt phờ phạc như mới ốm dậy hay mới ra khỏi trại giam của đoàn uỷ cải cách. Chỉ mới nói mấy câu đã thở, mặt đỏ lựng, vẻ mệt. Tôi ngồi nghe không ra chăm chú, không ra lơ đãng. Bởi vì đương sửa soạn tổng kết thắng lợi, bây giờ lại bảo sửa sai. Cả mấy đợt, lúc nào cũng cảnh giác, cũng đánh địch rồi chia ruộng, chia quả thực, chỉ thấy thành tích, trên bảo sao làm vậy tôi chẳng thấy sai chỗ nào, bây giờ lại sửa, biết rồi đến đâu hay là sai cả, lại phải vào ngồi tù không biết chừng. Tôi đâm lo lo, nghĩ chỉ thấy rối tơ vò.

Đội trưởng Cự ngồi yên, mấy lần mấp máy miệng toan nói, nhưng chắc nhớ ra đây là đội trên mới về, lại thôi. Mọi khi người khác đương nói Cự cũng cắt, cũng kết luận và giải tán, chẳng coi ai ra thế nào.

“Chúng ta qua công tác bàn giao sẽ hiểu nhau. Tôi giới thiệu hai đội phó sửa sai.”

Hai người ngồi phía ngoài đứng lên. Đội trưởng Cự ngứa ngáy quá, mắt ngầu đỏ. Đến cỡ hai người kia chỉ bằng đội phó Nguyễn Văn Bối tôi mà cũng được đứng lên để giới thiệu thì đội trưởng Cự không thể chịu được, đột nhiên khùng lên. Khác mọi khi, nói đến lúc hăng mới băm tay bây giờ ngay một lúc, cả hai bàn tay Cự vung như gạt ra đỡ đòn mà trước mặt chỉ có chúng tôi.

“Báo cáo các đồng chí, chúng tôi đã kết thúc bước ba để sang bước bốn tổng kết thắng lợi. Xã này hết sức phức tạp, ngày hôm qua địch còn đập đầu giết chết một nông dân giữa ban ngày. Chúng tôi đã báo cáo đoàn uỷ cho truy lùng hung thủ.”

Ông cán bộ tỉnh khẽ ngắt lời:

“Đoàn uỷ cải cách đã kết thúc công tác. Từ nay mọi việc phải báo cáo với huyện uỷ.”

Cự vẫn nói, mỗi lúc một đùng đùng:

“Chúng tôi đương triển khai, đội nhất định phá tan âm mưu địch. Báo cáo đồng chí, tôi quen tác phong quân đội, quyết tâm đánh đến cùng. Đồng chí huyện uỷ mới được thả trong sửa sai, đồng chí chưa nắm được tình hình…”

Người huyện uỷ đứng lên hỏi gắt:

“Đồng chí phát biểu xong chưa?”

Cự cụt hứng.

“Báo cáo hết.”

Người huyện uỷ ngoái tay ra sau lưng lấy khẩu súng lục đặt lên mặt ba lô, lạnh lùng:

“Tôi báo để các đồng chí biết trên huyện đã cử đội sửa sai chúng tôi về nắm mọi công tác của xã từ giờ phút này. Chúng tôi sẽ lựa chọn lưu một số đồng chí đội cải cách ở lại công tác. Tôi yêu cầu đồng chí đội trưởng từ giờ tới chiều chuẩn bị, sáng mai đến báo cáo toàn bộ tình hình với chúng tôi.”

Đội trưởng Cự đương đứng mà chân khấp khểnh như con gà què lơ láo nhìn khẩu súng lục bóng nhoáng, đen sì trên mặt ba lô. Đằng lưng áo ông cán bộ tỉnh cũng gồ gồ có súng, nhưng không thấy ông rút ra. Tôi lại đoán cái bọc nặng chịch mọi khi thấy cộm trong ba lô Cự không phải khẩu súng. Chắc cái cục gì bọc giấy. Mặt đội trưởng Cự sụp xuống.

Tôi không được chọn ở lại làm cán bộ sửa sai. Tôi như mở cờ trong bụng. Nhưng làm bộ mặt ủ rũ, tôi lủi thủi đi ra. Ngay lúc ấy, các đội viên sửa sai phóc lên xe đạp toả ra các thôn, công việc dường như đã sắp đặt trước cả. Không vào nhà tổ chức cũ, tổ chức mới, không dựa rễ chuối nông hội, đội sửa sai ở lung tung các nhà. Sáng hôm sau, đến buổi làm mỗi người một cái cào cỏ, xuề xoà như chúng tôi, người mặc áo, người cởi trần, ai cũng mặc quần đùi, lam lũ như người trong xóm, tất cả ào ra đồng. Thế thì khác gì đội cải cách, sửa sai ở chỗ nào. Các xóm xôn xao: đúng đội cào bằng về vác cào đi kia kìa, cào bằng rồi, cả làng đóng khố đuôi lươn đến nơi. Các anh cải cách cũng phụ hoạ thế.

Bố con Cối với cả chục người nữa lò dò đến. Rối rít người hỏi, người nói, người trả lời lẫn nhau.

“Đội cào bằng hay đội san bằng, hả anh?”

“San hay cào thì khác nào!”

“Khác chứ, có phải không anh Bối?”

“Không, đây là đội sửa sai. “Hoàn thành tốt cải cách ruộng đất, sửa sai và tiến lên” khẩu hiệu thế, đọc kỹ khẩu hiệu mới chưa?”

“Thế cải cách sai hả?”

“Cái gì sai thì sửa.”

“Sửa thế nào?”

“Tôi bắn địa chủ Thìn, bây giờ bảo địa chủ Thìn chết oan, thế tôi có bị bắn không?”

“Chưa biết thế nào!”

“Ối giời ôi!”

“Tôi được chia một gian nhà thằng tư Nhỡ, tôi phải dọn đi à?”

“Tôi có phải trả hai chân trâu quả thực không?”

“Nghe nói đội cào bằng về bắt cả làng này đổi ra chỉ để một họ, họ Nguyễn hay họ Lê?”

“Được quả thực mỗi một cái chum, cả làng biết đấy.”

“Tôi… tôi…”

“Chẳng hiểu ra thế nào!”

Tôi cũng không cắt nghĩa được điều nào rõ hơn. Thế là mọi người đùng đùng kéo đi tìm đội trưởng. Một mình Cối ngồi lại.

“Chỉ có anh với em, em hỏi thật nhé. Đội cào bằng về đuổi đội cải cách đi để làm lại tất cả à?”

“Không phải đội cào bằng, đội sửa sai.”

“Ừ, đội sửa sai thì cũng là đội đuổi đội các anh. Tôi phải trả chức đảng viên, trưởng thôn, trả nhà, trả ruộng, đội sửa sai dựa vào rễ khác chứ ai.”

“Không đâu.”

“Thế đội sửa sai về làm cái chó gì!”

Tôi nói như hô khẩu hiệu:

“Sửa sai và tiến lên!”

Câu nói dứt khoát và mạnh mẽ ấy chẳng làm cho Cối để ý, mà Cối lại ra chiều bực bội. Cối lại tất tả đi. Nhà tối om, lũ trẻ con vừa nghịch choe choé đấy, đã ngủ khì cả. Không biết nhà này lo quá bỏ bữa tối hay quên, để đói anh đội. Tôi có ý mong Duyên. Duyên vác cả súng, – có thế mới là đi tuần suốt đêm, tôi chúi xó nào Duyên cũng mò được. Không biết đêm nay Duyên có về không, buồn quá.

Từ gà gáy, mấy người vừa được chia ở nhà địa chủ, ở nhà phú nông rộng quá tiêu chuẩn phải nhường lại, họ nậy gạch sân quảy đi. Người nhà phú nông xót của ra cản, đôi bên đánh nhau bằng đòn gánh, kêu rầm rĩ, cả xóm đổ ra đứng xem. Trời đã tang tảng sáng, ở đâu đi ra mấy tay trung nông lấp lửng chúa hay nói ngang họ chẳng được chia bôi, cũng không mất cái lông chân, cứ vừa đi vừa rên lên như những thằng rồ: ai đi hò lờ, hò lơ hó lơ…

Không có lệnh, không ai về truyền đạt, đội cải cách đương rầm rộ sắp tổng kết, bỗng dưng tan như ao bèo gặp mưa to. Không còn hội ý sáng sáng, đội trưởng Cự lúc đi lúc đến lúc nào đi đâu cũng chẳng biết.

Cối ở đâu về, hớt hải:

“Anh công tác thống kê sao không được giữ lại làm sửa sai, anh bị đuổi về à?”

Tôi nói vu vơ:

“Mai kia lên đổi công, lên hợp tác, không cần thống kê.”

“Thế thì đích xác là cào bằng rồi.”

Cối lại ngơ ngác đi ngay. Mới bảnh mắt mà chỗ nào cũng tụ lại từng đám người loanh quanh như gà vướng tóc.

Đội trưởng Cự đến. Cối ở đâu lại về hỏi:

“Các anh đi thì chúng em làm việc thế nào?”

“Đã có đội sửa sai.”

“Đội sửa sai có dựa vào chúng em như các anh đâu.”

Tôi còn ngái ngủ, ngáp một cái:

“Ôi thôi, mấy tháng bù đầu, cũng phải cho chúng tớ xả hơi một cái.”

Đội trưởng Cự quắc mắt. Một câu nói quen thuộc nhưng nghe lúc nào cũng ghê ghê.

“Không được có tư tưởng nghỉ ngơi!”

Dù sao, chẳng nghỉ ngơi thì cũng hết việc, thong thả. Tôi ở nhà như người thừa. Cối đi họp với đội sửa sai, chẳng biết tình hình thế nào đêm về không buồn nói một câu. Tôi nằm dài, hồi này dân quân cũng bỏ gác đêm. Tôi lại mong hôm nào được về đoàn uỷ lấy xe đạp ra chợ huyện đánh một bữa bánh đúc riêu kễnh bụng. Rồi được thông báo lên đấy mới thật biết lại đi công tác sửa sai nơi nào hay được về cơ quan. Thế là chúng tôi sắp đi, mọi sự quanh mình cũng khá là điều ngẫm nghĩ. Đội cải cách bị vứt bỏ, mà tôi vẫn không biết cải cách sai ở chỗ nào, chỉ thấy mọi người dửng dưng qua mặt. Bác Diệc, anh Cối vẫn được trưởng thôn, được đảng viên hình như tỏ ra thương hại tôi, đem đến cho xôi ngô, bánh đúc, mua trên chợ huyện.

Bác Diệc nói: “Chúng em chưa quen với đội sửa sai. Các anh sắp rút về tỉnh có phải không?” Chẳng biết câu hỏi tò mò hay hỏi đuổi. Nhưng nghe tiếng bác Diệc thì không phải thế. Đêm trăng suông, tiếng đập lúa thình thịch, nghe thấy no ấm quanh mình khác những ngày mới về đây. Bác Diệc mau nước mắt, con mắt viền vải điều đã mòng mọng. Bác nói bao giờ quên được nết ăn nết ở của anh cái tối hôm anh về nhà này. Có hôm mấy chị em Đơm đương cắt rạ ngoài đồng, tưởng tôi đã đi, cả bọn tất tả chạy lên, khóc hu hu. Có hôm, côô Duyên cũng đỏ hoe mắt, cô về nhà nhìn lên chỗ sợi thừng tôi vẫn vắt áo, không thấy. Duyên bỏ cơm, ra ngõ nhìn lên đường cái tây. Đến lúc thấy tôi về vai đeo cái sắc cốt, vẫn anh đội như mọi khi, Duyên chạy ra, lột cái mũ lá của tôi, đội lên đầu hí hửng như trẻ con. Tôi hỏi: “Có nhớ anh không?” Duyên bảo: “Anh mà đi thì tháng nào ở cữ thằng cu em bỏ thư cho anh. Anh sờ vào chỗ rốn em mà xem, thằng cu đương cựa quậy đạp đấy”. Tôi có ý nghĩ hay là tôi ở lại đây. Ừ, tôi ở lại đây, tôi về cơ quan hay tôi ở lại cũng thế, hay là tôi ở lại đây với Duyên.

Ven đê dưới kia, trong những khoanh tre lưa thưa, có nhà bác Diệc, nhà bố Duyên, nhà cả Cối, thêm nhà tôi,… lại nhà thằng Vách nữa – cái thằng khùng không biết mấy hôm nay trốn ở đâu, nghe tin đội sửa sai đánh gục đội cải cách rồi, nó đã trở về, lại vác con dao bầu đi mổ lợn thuê.

Trên cánh đồng hôm nào mới cấy màu mạ còn vàng ửng, đã nghe gió rì rào lùa vào chân lúa. Các nhà mới được ruộng chia tìm cấy lúa bát, nếp voi, nếp vằn, cốt được cái chóng ăn. Đấy, thế thì đội cải cách sai ở đâu, từ khi đi cải cách tôi chỉ biết có thắng lợi, thắng lợi. Cái sợ, cái buồn, cái vui, cái hồi hộp, tôi như con quay ném vào đám chơi, cái dây vật quay tít hay để con quay lăn long lóc, tự tôi chẳng biết ra thế nào. Người ta thường nhớ lâu những cái mình làm được, bây giờ thấy vườn tược, đồng ruộng mỗi hôm mỗi khác, phút chốc thấy như tôi thật có thành tích, chứ chẳng phải… ồi, mà thôi.

Ngõ nhà Vách, bụi duối lưa thưa sần sùi đi qua nhiều lần nhìn đã quen mắt. Bỗng Vách lừng khừng đi ra. Thấy tôi, Vách đứng lại, không chào, nhưng giơ tay vẫy. Trông dị dạng, nó đương lên cơn dở người. Nhưng nó nói tinh tường lắm.

“Bây giờ đến lượt tôi bắt, tôi trói anh, tôi đem đi đấu chứ. Mà nói đùa thôi, xuý xoá cả, buồn lắm. Anh Bối vào chơi, tôi bảo cái này.”

Nhà không có ai. Vách đã đuổi vợ đi hay vợ Vách đã bỏ đi từ dạo Vách bị rình bắt, không thấy về nữa. Mấy con dao bầu của Vách dựng một hàng ở chân vách, trông ghê mắt. Tôi ngồi xuống bậu cửa, hỏi:

“Vợ đi đâu?”

“Tôi cho nó đi ăn mày rồi.”

Vách lại nói:

“Từ hôm anh về, tôi chưa kể khổ với anh lần nào, phải không?”

“Anh đã tố tư Nhỡ đấy thôi.”

“Nhưng mà nông dân chưa hết khổ thì vẫn phải kể ra chứ. Chưa đâu vào đâu, thằng tư Nhỡ đã thót trốn mất. Chẳng đi bắt nó, các anh lại chộp tôi, rõ thật, chó ăn thịt chó, các anh định đấu tôi, bắt tôi. Thằng Tây còn chẳng giết nổi tôi, các anh thì là cái thá gì. Thế mà bây giờ tôi lại không muốn sống nữa, tôi muốn chết.”

“Nói dại!”

“Tôi mà dại thì cả cái xóm Am này phải ngu như con bò. Lại nói chuyện ngày xưa nào. Nói cả đời chẳng vợi được cái núi khổ đâu. Nói một việc thôi nhé. Thằng hương kiểm, thằng phó lý bố tư Nhỡ đấy, cái năm đói 1945 nó bắt tuần đinh đêm nào cũng phải đi rà xem có người đói ở đâu đến chết ở đường làng thì khiêng vứt xuống sông cho khỏi phải chôn. Mỗi đêm, tôi đi ném vài xác xuống sông. Tôi vác phải cái xác thối quá, nhưng người còn mềm, bụng thở bòm bọp. Tôi phân vân, nó chưa chết mà ném xuống sông bắt nó chết thì hồn oan nợ oán mấy đời. Nhưng đi một quãng thì trên vai tôi lạnh dần, rồi thằng người chết cứng. Nó chết rồi, tôi quẳng cái xác xuống nước. Làm sao mà người tôi vẫn thối khẳn mùi người chết, khắp mình ngứa ngáy muốn phát điên. Sáng ra nhìn thấy hàng đàn con rận bò đen kịt từng đám trên áo, đầy cả đầu tóc, xuống cổ, xuống mặt. Thì ra tôi còn hơi nóng, đàn rận ở cái xác đã bò sang đổi chỗ trú ngụ từ lúc nào.”

“Thôi thôi…”

“Kể chuyện khác vậy nhé. Khi đi du kích, mấy lần tôi về tìm giết bố thằng tư Nhỡ. Nhưng đêm nó lẩn lên ngủ bốt hương dũng.”

“Những chuyện chán bỏ mẹ!”

“Thế mà tao vẫn cố nông, cố nông cái mả bố chúng nó. Đội cào bằng có bắt đổi họ, tao bảo tao là họ Cố, Cố Văn Vách. Tiên sư thằng Diệc, thằng Cối chúng nó bảo tôi có con dao đi mổ lợn kiếm ăn thì tôi là thành phần công thương, không được chia quả thực.”

Tôi ngại Vách lại nói bắt quàng về các thứ chuyện cải cách, tôi đứng dậy. Vách bước đến, túm vai tôi. Hai tròng mắt nó đỏ như miếng tiết, trông phát hoảng. Tôi phải ngồi xuống.

“Tôi quí anh nên mới mời anh vào đây. Tôi đếch thèm bảo thằng đội Cự. Cái đội cào bằng ấy à, đêm qua họp xóm, trông cán bộ nói hách dịch như quan huyện, tao ngứa mắt lắm, rồi đến phải chọc tiết có thằng. Nhưng nghĩ lại tôi giết Tây, giết ta, giết lợn nhiều quá rồi, bây giờ tôi giết đến tôi thôi, chả giết ai nữa. Cho nó hết rắc rối. Anh có trông thấy cái gì trong kia không?”

Nhìn vào vách thấy một cái thừng buộc trên xà tre, múi tròng lọng hoác ra như đợi người chui đầu vào. Dưới đất, hai chiếc gạc đập lúa xếp chéo. Người đưa đầu vào tròng lọng rồi đạp cái gạc ấy, thế là bôông bêêng. Tôi đã biết người ta làm thắt cổ tự tử như thế.

Tôi hấp tấp hỏi:

“Cái kia? Cái kia?”

“Cái thắt cổ, đã bảo mà…”

“Không, không.”

“Không phải tôi thắt cổ anh đâu. Em thích anh được xem em thắt cổ, em thắt cổ. Đừng đi tố điêu là địch phá hoại nhé, tao thắt cổ tao thôi.”

“Không, không được.”

“Không có gàn quải. Gàn tôi thì tôi cho cả anh cũng chết chứ không phải một mình tôi.”

“Đừng làm thế.”

“Câm cái mồm sẹo gỗ đi. Nói thế chứ chán lắm, chúng mày như ruồi, giết ruồi làm gì, tao chỉ muốn có một thằng đội xem tao chết để đừng đi tố điêu là địch phá hoại. Tớ quen đằng ấy từ cái chập tối đằng ấy về làng này mà, nhớ không. Đằng ấy là thằng ma tịt biết cái qué gì mà về làm loạn làng. Nhưng cũng còn chơi được, chưa đểu bằng thằng đội Cự, cho nên tớ mới cho vào xem tớ chết.”

Vách nói lung tung, gáy tôi dần dần lạnh. Tay Vách nắm chặt cánh tay tôi run bần bật, toát đẫm mồ hôi.
“Tớ không đun đằng ấy lên tròng lọng đâu. Đừng sợ. Con dao bầu này chọc một cái, thì đằng ấy…”

“Lạy anh.”

“Ấy chớ. Hèn thế mà cũng đòi đi giải phóng người ta. Đã bảo tớ chỉ gọi đằng ấy vào xem tớ chết, chẳng có mưu mô phá hoại như các đằng ấy hay sai người tố láo đâu.”

“Thế…”

“Thế thế. Tớ trèo lên, đưa cổ vào.”

“Anh…”

“Chỉ dặn anh đội chớ dại mà cắt dây hạ tôi xuống bắt tôi sống. Tôi sống thì tôi tố anh đội hủ hoá với con gái cả xóm này, tôi tố anh đội đập chết con mẹ què rồi anh đội đem thắt cổ tôi để bịt đầu mối. Đã biết thế thì đáng tội thế nào chưa?”

Tôi bàng hoàng như ngã xuống nước. Có điều tôi hiểu ngay là chớ có đụng đến thằng Vách. Nó biết tất cả, thế thì cho nó chết. Vách buông tôi, Vách xăm xăm vào bước lên đống gạc đập lúa, chui đầu vào tròng lọng, tròn hai con mắt nhìn ra.

Tôi ù té chạy.

Nghe sau lưng cái gạc lúa đổ văng, lăn lách cách. Cho đến hôm đi – và đến bây giờ, tôi không dám thì thào với ai về cái chết của thằng Vách.

TÔ HOÀI
Ba Người Khác
IV

Mười mấy năm sau.

Hồi ấy thành phố đương bị đe dọa máy bay Mỹ bắn bom. Mỗi chặp tối những đoàn xe chở tân binh ầm ầm ngang qua trên cầu Long Biên.

Rồi tôi lại trở về cơ quan. Người đi cải cách lũ lượt về, người công tác sửa sai lại ba lô lên vai. Đã thành nếp mỗi khi nơi nào có công tác quan trọng, mỗi cơ quan đều phải cử từng đợt đi. Ai cũng nhiệm vụ đi, từ anh nuôi, chị tiếp liệu văn phòng, đến các bộ phận chuyên môn. Chỉ có những chánh phó thủ trưởng “không đi được vì công tác lúc nào cũng bù đầu”. Mà cũng không ai đề nghị thủ trưởng đi đâu.

Tôi đã đi cải cách cũng là thế. Nhưng tôi đã đem được giấy chứng nhận và giới thiệu “đồng chí Nguyễn Văn Bối được kết nạp đợt … cải cách về sinh hoạt chi bộ cơ quan”. Đội trưởng ký tên rồi đoàn uỷ đóng dấu và chữ ký xác nhận. Tôi nhớ Cự nói: “Chia tay nhau, tớ tặng cậu cái này”. Tôi nghĩ trong bụng: “Lão Cự tài thật, đoàn uỷ giải tán rồi mà vẫn lấy được dấu”. Cự chỉ nói thế, rồi đi ngay. Có lẽ lão cũng ngượng không muốn nấn ná lại trò chuyện thêm về những con vịt, chuyện vịt. Chúng tôi đều nhơ nhớp cả, có gì mà nói.

Từ đấy, không bao giờ còn gặp lại.

Cái tội trộn đường vào mì chính của tôi cũng đã lâu, nhạt rồi, quả nhiên chẳng còn ai biết hay biết cũng thôi, cơ quan lúc nào chẳng có những thời sự mệt mỏi. Vả lại, tôi vừa đi những ba đợt cải cách ngót hai năm trở về với cái giấy ghi chức vụ đội phó phụ trách toà án kèm tờ chứng nhận và giới thiệu đảng viên. Mạnh quá. Thế là tôi đàng hoàng phổng mũi.

Một hôm, tôi được phòng tổ chức gọi lên. Á à, có thế chứ. Tôi bắt đầu tưởng tượng ra những kiến hiệu của các thứ giấy tờ.

“Đồng chí ngồi.”

Sự trịnh trọng lại kèm câu nói cộc lốc hơi lạ khiến tôi hồi hộp. Tôi ngồi xuống ghế. Quen tay, lấy sổ công tác và cái bút máy “oe rơ vơ” ra cầm sẵn.

“Địa phương có đơn về đồng chí.”

“Địa phương nào, việc gì ạ?”

“Ở xã cải cách, đơn tố cáo.”

Tôi được đưa xem cái đơn. Tôi nảy đom đóm mắt. Những đêm đi gác, ở trong lều, đã chung chạ với những ai, nằm ngồi thế nào, ai bằng lòng, ai bị đè ra, ôi chao, ở những bờ tường, những bụi duối… Đơn lại tố cáo tôi đảng viên giả có chữ ký của Cự đội trưởng cải cách. Thế có chết không, nó cho húp nước đường lại tống theo quả lừa. Bao nhiêu tên ký, trông hoa lên những Gái, những Nụ, những Má, những Tôm, những… Chẳng biết trong đám chữ ký tíu tít có Duyên, có Đơm không. Ở dưới tờ đơn có chữ ký của đội trưởng, đội phó sửa sai xác nhận và đề nghị kèm biên bản một đệp những cuộc họp tố cáo ở các xóm Am, xóm Chuôm, xóm Đìa và cả những xóm tôi chưa đến bao giờ.

“Ý kiến đồng chí ra sao?”

“Tôi… tôi…”

Tôi không nói được thế nào.

“Thế là đồng chí đã nhận.”

“Không, tôi phản đối, tôi…”

“Các cấp xác nhận rành rành ra đây, thế là đích xác rồi. Có 10 điều cấm khi đi cải cách, đi công tác đồng chí đã vi phạm tất cả mà điều 4 là nặng nhất.”

Tôi ngồi tây ngây. Những câu dội nước đá, tôi chỉ ấp úng lắp bắp không ra đầu đuôi.

“Thôi, về.”

Chẳng khác đuổi tôi.

Tôi nhìn người trưởng phòng tổ chức, mặt đen gồ ghề đầu hói. Bên chân bàn có cái xích buộc chiếc điếu cày. Tôi ngỡ ông là đội sửa sai, về đây xử tôi, nghiêm quá. Tôi lủi thủi ra.

Hội đồng kỷ luật bắt tôi thôi việc vì phạm lỗi nặng về giả mạo giấy tờ. Có thể bị truy tố, nhưng cơ quan chiếu cố. Không lương hưu, chỉ được lĩnh nốt lương tháng ấy. Tôi chẳng là cái đinh gì, cũng không biết ai thù tôi, chẳng lẽ lại là cái lão trưởng phòng tổ chức mới được điều ở đâu về tôi mới biết mặt. Tôi cặm cụi viết đơn gửi lên cục, lên bộ. Chẳng đâu trả lời. Hồi ấy, tội hủ hoá còn bị coi xấu xa nặng nề hơn cả việc giả mạo giấy tờ.

Tôi bị mất việc.

Trong nhà đâm ra lục đục, ai oán làm sao. Lương tôi và tem phiếu cũng chẳng đủ nuôi ai, nhưng cũng là một cọc tiền có ngữ. Con trai tôi đã lên mười. Vợ tôi vốn chân chạy chợ gặp gì vơ nấy. Mùa thì cái rau, mớ chè, có khi ngược tàu Phòng lên, lẩn được cán bộ thuế. Có khi chui thoát thúng cá, con mực. ả kiếm ra miếng mới được thêm thắt đồng ra đồng vào. Bỗng dưng tôi đâm ra hẫng. Lại thêm vợ chồng ở với nhau lâu cũng sinh nguỵ, cãi nhau vặt rồi cãi nhau to, rồi đánh nhau cũng thành thói quen lúc nào không biết, cũng như trông nó cứ bẩn mắt dần mà trước kia không thấy. Cái môi nó trều nhờn nhợt trễ ra gớm chết. Cái áo phơi ngoài dây thép, hai nách thâm xì, lưng áo mồ hôi dầu ăn bạc phếch, sao tởm thế mà ngày trước không để ý. Mỗi ngày lại thêm một cái khó chịu. Ăn uống thì bốc bải, hay nói dối vặt. Hình như ngày trước tính nết nó khác. Người này nói, người kia vặc lại. Um nhà một lúc, hung lên rồi xông vào thụi nhau. Nó cũng chẳng chịu lép, bớp lại tôi ra trò. Tôi xước mặt, toạc cả áo. Tôi không thể cậy thế thằng đàn ông được. Dạo trước, thỉnh thoảng có lục đục, láng giềng sang lôi hai bên ra, cũng khi ban hoà giải khối phố đến phân tích lý lẽ. Rồi sau chẳng ai đến nữa, vì mới hôm trước hôm sau đã lại loạn lên. Ngày ngày qua. Những xô xát trong nhà tôi thành trò cười, như hát hay, hàng phố không ai hơi đâu đến can ngăn. Từ khi mất việc lại càng não nùng, khi lại chính tôi là thằng xuống thớ.

Tôi chẳng biết một nghề ngỗng gì. Nhưng mà ở đất đô hội, có người thì sinh ra việc. Cũng như ở rừng trời cho củ mài, củ nâu, ở phố phường khó khăn mấy rồi cũng lần ra cái ăn. Đống rác có người bới nhặt. Rồi thì bổ củi, mài dao, móc cống, cái bơm xe đứng ngã ba ngã tư, thêm hòm đồ vá xăm lốp. Phải có cách nào kiếm được thì mới đỡ nhục.

Tôi sắm chiếc bơm xe đạp.

Tôi nhảy lên cái cần bơm, mặt cúi vục xuống, không dám nhìn lên. Lâu lâu, đã quen tôi khoai thai ấn cái bơm, trong bụng yên yên một chút.

Rồi máy bay Mỹ ném bom. Giữa thành phố bom bi rắc hàng thùng vào chỗ cây đa đền Bà Kiệu, rơi lõm bõm xuống hồ Gươm. Người ta lũ lượt chạy khỏi phố xá. Càng nhiều người đi xa, phải bơm xe cho căng, tôi vẫn đứng với cái bơm ở ngã năm. Vợ tôi đem thằng con chạy bom, đi đâu tôi cũng không hỏi. Đêm trước vừa to tiếng, tôi bóp cổ đến lúc mụ kêu ằng ặc tôi mới nới tay, rồi lại đánh nhau tiếp, mặc kệ còi báo động với máy bay ầm ù trên trời. Sớm hôm sau, mụ đi thẳng.

Từ đấy, không còn tăm hơi hai mẹ con. Đầu tiên, tôi cũng tưởng mụ chỉ dỗi bõ lăng nhăng rồi lại đâu vào đấy như mọi khi. Nhưng rồi bặt hẳn. Tôi sốt ruột, nhưng cũng không biết thế nào, biết hỏi ai. Hàng phố xì xào. Cô ấy đã theo người ta xuống Nam Định, tôi trông thấy ở Chợ Rồng. Cô ấy trốn vào Nam rồi. Có người lại nói như thật: cô ấy số đỏ như tiên rồi, xin được chân phụ bếp ở cục phục vụ được sang nấu bếp nhà khách sứ quán ta bên Liên Xô. Nhưng cũng chỉ là nghe nói, chẳng thấy tăm hơi đâu. Thế rồi đến năm đất nước thống nhất cũng vẫn bằn bặt thế. Có lúc nghĩ hay là vướng bom đạn chết đường chết chợ rồi. Trong chiến tranh, biết bao nhiêu người mất tin, mất tích, không phải riêng mẹ con nhà nó.

Tôi ở gian nhà ọp ẹp ấy và vẫn một mình với cái bơm xe. Hiu quạnh, có lúc cũng nhớ cái khi tung hoành ở xóm Am, xóm Chuôm nhưng chỉ nghĩ đến đã xấu hổ, còn ra cái thá gì mà vênh mặt. Lưỡi dao cạo hiếm mà đắt, tôi chẳng buồn cạo, mặc kệ. Râu ria tóc tai bù xù như con gấu vườn Bách Thú. Tôi cảm thấy mau lão quá, ngoài năm mươi mà lụ khụ, nói nói thở thở. Tôi đo sức bằng mỗi lần bơm xe. Năm trước chỉ ấn một cái được một nhát bơm, bây giờ phải nhảy trẹo mông mấy lần, buổi chiều thì móp bụng lại đến bốn nhát mới xuống được một nhát. Tối về lử lả, xiêu vẹo, xách cái bơm cũng trĩu tay, mặc dầu tôi tịnh không chè thuốc, bia rượu. Cái già xộc đến tận đít rồi. Đàn bà con gái dửng dưng qua mắt tôi và tôi cũng nhìn người ta thờ ơ như nhác mắt qua đường.

Một hôm, tôi nhận được giấy bưu điện báo nhận hàng. Lật xem đi xem lại: bưu cục Bờ Hồ báo lần thứ nhất – tôi đi hỏi, người ta bảo giấy này gửi từ bên nước Úc. Tôi bỏ một buổi làm, lên hiệu sách xem nhờ tờ bản đồ treo bán tìm nước Úc ở đâu. Đêm mất ngủ, hay là bưu điện nhầm. Tôi lại mở giấy xem lại, rõ ràng viết số nhà cái buồng cái lều này và cả ba bốn bên đường phố hàng xóm bao năm nay chỉ có một Nguyễn Văn Bối tôi.

Tôi lên nhà bưu điện. Người ta cho biết hàng nước ngoài gửi về phải có sổ nhận hàng trên thành phố cấp. Tôi bảo tôi không biết và hỏi hàng gì. Cô nhân viên chỉ cho tôi trong ngăn tủ bề bộn, một hộp giấy vuông, bảo: “Đấy, hôm nào đủ giấy tờ, hải quan cho mở ra mới biết hàng gì, bác ạ”.

Rồi tôi cũng lo được mọi cái từ khối dân phố lên khu, lên thành phố cho có nổi một tờ giấy sổ lĩnh hàng nước ngoài. Tiền mua các thứ phí tổn bạc nghìn. Đến nơi lại bảo nộp phạt tiền lưu kho mất hai nghìn rưỡi. Nặng quá, tôi đã nghĩ toan bỏ. Nhưng đằng nào cũng đâm lao rồi, tôi lại về cào cấu, cá, giựt nóng, cả vay lãi ngày. Cũng có lúc chợt hoảng. Nhỡ một cái lại là cái hộp cứt như trong truyện Trạng Quỳnh thì có mà toi đời. Nhưng không, một gói những lọ, những hộp xinh xinh. Người hải quan xem từng lọ rồi bảo đấy là thuốc bổ, được phép nhận. Tôi ôm cái hộp lên ngực mới gạt được đám người bâu ngoài cửa bưu điện, nhao nhao: Thuốc à? Có bán không. Bao nhiêu? Xem nào, xem nào…

Tôi đứng bơm hàng ngày một chỗ ngã năm ấy, có người bơm xe lâu đã thành quen biết, một vài phút đợi bơm, đã ra khối chuyện phố phường. Chỉ hôm sau tôi đã hỏi biết được toàn thuốc vitamin A, B, C, B6. Thuốc Pháp, thuốc Mỹ, đắt đấy, bán được tiền. Tôi hỏi mỗi người một tý, chắp lại, đã ước lượng được giá cả. Thế là không dưng trời cho tôi của.

Ai ở nước Úc gửi cho tôi? Không có thư, không tên người gửi. Hàng chữ tên tôi, số nhà, phố thì đánh máy. Người ta bảo ở các nước văn minh, ra hiệu xe đạp, mua cái xe rồi lại thuê gửi, thế là cửa hiệu cứ việc đóng gói và gửi đi, người mua không phải động tay, không cần biết mặt cái xe. Nhưng ai gửi, lục soát đến đâu cũng không ra ai. Không một cớ nào để đoán nổi. Cuối cùng, trong ý nghĩ tôi đọng lại hai con vợ mất tích kia, mà có lần người ta đồn nó đã đi những nước nào nước nào sướng hơn tiên. Có lẽ là… có lẽ là… Lúc khổ nhất người ta cũng nghĩ rồi ra có lúc được mở mặt, hay là nó, chỉ có nó mới biết tên tôi, số nhà tôi, mà xét những mặt quen biết thì quanh đây cả, chỉ bọn khố dây, ai mà có được hộp hàng này! Đích là nó rồi. Chỉ có con vợ trước ở Tám Mái thấy bảo lấy chồng, làm cút lit có thể nó về bên Tây bên Mỹ. Nhưng con ấy lại không biết chỗ tôi ở bây giờ. Thế thì ai gửi cho tôi, lại rối ruột thêm. Tôi có hai đời vợ, hai đứa con thật sự, còn con rơi con vãi ở đâu không kể. Nhưng mà chẳng nhẽ con vợ nào của tôi đã sa chân xuống tận vũng bùn tư sản thối nát lại còn hơi sức nhớ đến tôi. Hay là…

Hay là cái này của địch, là âm mưu địch, thằng địch chúa thằn lằn nham hiểm – đi cải cách ruộng đất đã thấy đấy. Tôi mất cái mũ cán bộ đã lâu mà vẫn chưa quên cách phân tích địch ta. Thế nhưng ở trên đời này, thằng địch ba đầu sáu tay nào mà lại biết tên tôi là quân tốt hỉn Nguyễn Văn Bối. Ông bơm xe, ông quán nước, quanh năm không nhìn ra ngoài cái bơm, cái chén, nhưng thoáng mắt đã nghe biết cái khôn dại của bao nhiêu người đời. Nghe nói có nhà có người ở nước ngoài gửi các thứ về cho mà bán để ăn, để sướng, tôi cũng đương được “tiếp tế” như thế, chứ có phải địch mua chuộc đâu.

Bao năm nay, trời nắng hay trời mưa, tôi chỉ có cái bơm và lê la quanh mấy gánh cơm dưa cà, đậu om, canh đậu, có cái ghế treo trôn quang, khách đến bà hàng mới bỏ ghế ra, sợ ngồi xúm xít thì công an đuổi.

Số thuốc tôi bán dần. Ôi, những chi tiêu thăng hoa khỏi mụ hàng cơm gánh. Tôi xuống chợ trời mua bộ quần áo ka ki đại cán cũ. Mới ngày nào, cán bộ thủ trưởng và nhân viên đều đại cán như nhau, bây giờ có tiền, hoạ hoằn mới có người mặc đại cán, anh xe ba gác, xe xích lô. Dù qua mặt cũng không ai nhìn, việc đời cái gì rồi cũng trôi đi. Đời cán bộ của tôi đã chấm dứt từ bộ đại cán sang cái bơm, tôi vẫn thấy mặc đại cán được và hợp mắt. Chặp tối, tôi không đến gánh cơm quán đầu ghế nào. Đã lâu mới nhớ phải hưởng một bữa có chất. Cuối phố kia mà tôi vẫn biết ở đấy có một hiệu ngoài tủ kính bày mấy lọ mắm tôm bán sỉ, nhưng trong nhà làm chui cơm tám giò chả. Tôi đi đánh chén một bữa cật lực, bội thực không thở được, chỉ còn sức bò được về nhà, lăn đùng ra.

Tôi nhét cái bơm vào gầm giường. Nghỉ ít lâu cho khuây khoả cơn sầu đã nào. Nhưng vài ba tháng nằm khàn, ăn vỗ béo rồi ngủ, gói tiền to đến bằng cái tải gạo cũng phải toang ngoảng. Rồi hết tiền, lại vác cái bơm ra ngã năm. Tôi chép miệng. “Tiền bắt được như tiền cờ bạc, của phù vân vào nhà rồi của phù vân lại đội nón ra đi, thế thôi”. Tôi thở dài, tự an ủi.

Tôi khắc khoải vu vơ mong lại nhận được giấy báo nhà bưu điện. Tôi tính ngày, so sánh năm tháng, đoán có lẽ vào dịp Tết may ra. Rồi mấy Tết cũng chẳng thấy đâu. Cái gói tiền đã xa như chiêm bao từ ngày xưa. Tôi lại cắm cúi, vật vã nhảy nhấp nhô cưỡi lên cái bơm.

Nhưng quái sao, tôi thở dốc: Tôi béo tốt hẳn hoi, râu mọc um tùm đen mỡ ra. Thế mà hai cánh tay rã rời muốn vập mặt xuống cái bơm gỉ. Tôi không bơm xe được nữa. Tôi đẫy đà ra nhưng tôi kiệt sức rồi. Cái túi tiền đã giết tôi.

Hôm sau, tôi lại vác cái bơm ra. Nhưng cả buổi chẳng được một nhát. Khách quen không có ai. Người lạ trông thấy tôi mặc cái áo đại cán, mặt mắt húp híp, người ta đạp xe thẳng. Rồi tôi cũng được khách, nhưng vừa buông cái bơm, tôi nghẹn cổ không thở được. Ông khách đùa: “Ông béo sung sướng phát phì thế thì đi nghỉ mát, chứ bơm xe là ốm đấy”.

Tôi chết thì thôi. Cái thằng Vách, thằng Vách chết như đi chơi, lại còn gọi người đến xem nó chết. Thế mà hay. Lẽ nào tôi hèn không bằng thằng Vách. Tôi chết cũng vừa, đủ mùi đời rồi.

Tôi ngồi dậy. Tôi với tay vào góc buồng, kéo cái hòm gỗ. Trong ấy, mọi thứ đều được nhặt nhạnh chẳng muốn vứt đi cái gì. Tôi tìm cái quần rách. Tôi bện thành cái thừng. Tôi chợt thấy vẫn còn chiếc ruột tượng đựng gạo ở cơ quan trên Thái Nguyên. Mỗi lần ra khỏi rừng đi công tác ai cũng đeo vắt vai một hai bao gạo. Ôi, cái ruột tượng đựng gạo còn lại đến bây giờ, được, được đấy.

Tôi đứng lên mặt bàn, buộc một đầu ruột tượng lên xà nhà, bên kia thòng xuống, thắt nút tròng lọng lại. Tôi ngắm nghía. Chui vào, đạp đổ cái bàn dưới chân thì tôi bằng thằng Vách.

Tôi ngồi thừ một lúc lâu. Không phải tôi ngần ngừ mà tôi mỏi như sắp chết, tôi ngồi thế này chắc một lúc nữa tôi cũng chết. Không phải. Tôi nhớ ra tôi sắp lả đi vì đói. Thế thì đi ăn cái gì, chẳng nên làm con ma đói.

Chiếc tròng lọng ruột tượng trắng nhờ như giải khăn tang lơ lửng giữa nhà. Tôi khoá cửa, bước ra.

Lại biết chỗ ấy có quán cơm mà mật hiệu là cánh cửa đóng một bên. Mở mảnh ni lông che tường ra, trong treo cỗ lòng tràng, cái cổ hũ trắng phau, có phở, có cháo lòng, tiết canh đủ thứ. Thành phố tiêu điều không phải vì chốc chốc lại báo động máy bay. Bề ngoài thôi, người ta ở trong nhà mà vẫn hàng phở, bánh cuốn, bánh giò, rượu cuốc lủi được gọi nhẹ nhàng là nước mưa…

Vừa đi vừa nghĩ những cái ăn, như người thành phố bom đạn đương thiếu đói, thì chết làm sao được. Tôi cũng tự mang máng thấy thế. Tôi lử khử, dật dờ đi. Dãy phố im ỉm. Thế mà cái quán này đèn sáng. Ngọn điện che mảnh bìa cứng, bớt sáng hắt ra, theo lệnh phòng không. Tôi bước qua chỗ cửa tối vào sáng đèn, tôi choáng người. Lão chủ quán cái mặt hệt thằng địa tư Nhỡ. Chỉ khác bộ râu quai nón trắng như cước, tóc và râu dài xuống giữa lưng, giữa ngực. Tôi hốt nhiên phấp phỏng. Hay là tôi đã thắt cổ tôi chết rồi, tôi gặp hồn thằng tư Nhỡ ở cửa địa ngục suối vàng.

Chủ quán nhác nhìn tôi, hỏi ngay:

“Anh đội Bối phải không? Cũng râu ria như thằng địa chủ rồi à?”

“Ông… Tư Nhỡ.”

“Nhớ dai đấy. Anh ngồi chơi.”

“Bây giờ ông…”

“Vẫn thế thôi. Ồ lâu lắm mới gặp. Đánh chén cái đã. Không phải ăn nhà hàng đâu, mà tôi thết ông. Dám chứ? Tôi vẫn ơn ông không qui tôi là địa, nhưng ông vượt mặt thế nào được thằng đội Cự, có phải không ạ?”

Toàn việc người sống. Tôi còn biết nói thế nào. Cái anh đội Bối cũng xa xôi hoá thành thằng bơm xe rồi. Những kiểu cách ta đây cán bộ ra vẻ hiểu biết, đứng nói hấm hứ băm băm tay, tôi chẳng còn đâu điệu bộ dơ dáng ấy nữa. Quên rồi, cứ như chuyện Âm Phủ. Tôi không ngại, cũng chẳng ngượng với tư Nhỡ. Dường như lại quen ngay. Ai cũng chỉ ưa nhớ lâu những cái dễ chịu. Rồi vừa nhớ lại vừa không muốn nhớ, như mê ngủ. Bây giờ rõ ràng tư Nhỡ mời tôi đánh chén. Ừ, đánh chén. Thằng bơm xe đạp nhặt từng hào giấy thì chỉ thèm đánh chén.

“Vào, vào uống chén nước đã.”

Nhà tư Nhỡ hai buồng, liền phòng trong, cái bếp đã được dênh ra ngay đầu gian bán hàng, đây chỗ ngủ kê vừa chiếc giường một. Trên mành mành che, buộc cái mẹt to sơn kẻ dòng chữ xanh tròn quanh theo khung: Hutte cent ans kèm chữ quốc ngữ hắc ín đen nhánh “Lều trăm năm”.

“Vẫn cái “động trăm năm”, ông ạ.”

Tôi pha trò:

“Có còn Tây càn nữa đâu!”

Tư Nhỡ vuốt râu cười:

“Vẫn còn công an, cán bộ thuế mà mình là thằng bán hàng chui. Cái lều “ông già trăm năm” này có giá trị trình bày lắm. Tôi lão rồi, tôi ốm yếu sắp chết rồi, tôi kiếm ăn cò con, các ông tha cho. ít người biết chữ Tây nên phải viết kèm chữ ta cho các anh ấy dễ hiểu để thông cảm. Chỉ có bây giờ mà đội cải cách bắt tôi thì tôi chịu chết, không còn sức leo tường nhà giam. Nhưng cũng chẳng cần. Mấy chục năm tu ở cái “động trăm năm” này tôi đã luyện đắc đạo phép tiên.”

Tư Nhỡ miết ngón tay cái vào ngón tay trỏ, giơ cao bật tanh tách rồi cười khớ khớ: Phép tiên Xìn! Xìn! Tiền! Tiền! Tôi bây giờ tên là thằng Xìn, là ông tiên Xìn!

Tôi lờ đờ vẻ không biết, hững hờ hỏi:

“Ông có hay về Am không?

“Tôi biệt xứ từ ngày ấy. Vợ tôi chết tôi cũng chôn ở Văn Điển. Không biết dưới ấy vào hợp tác rồi có cào bằng cả làng thành một họ không, còn tôi đã từ làng, từ họ rồi. Họ hàng mà đấu nhau đến thế, còn mặt mũi nào. Nhưng mà có phúc có phận cả, nhờ các anh về làm tan hoang lên thế, thằng tư Nhỡ có suýt chết mới lại được thế này. Mấy lỵ tôi mà thò đầu về, đứa nào dò được tông tích tôi ở đây, có khi tôi lại ăn đất, anh ạ. Chốc nữa anh lên công an khu báo cáo có thằng địa trốn lên đây đội lốt công thương thì tôi cũng rũ tù Hoả Lò. Nhưng mà anh đã có khi thương tôi, nỡ nào, phải không. À mà tôi cũng thay tên đổi họ rồi. Bây giờ họ tên tôi là Tạ Xìn, Tạ Xìn. Tiếng Tàu “xìn” là tiền, “tạ xìn” là một tạ tiền, tôi thờ thần tiền. Khỉ nhổ, tôi hay chơi chữ, đã “lều trăm năm” lại hoá ra “tạ tiền”. Tạ Xìn bán phở ngầu pín dái bò dái dê, lại cả phở không người lái. Phở Tạ Xìn đương có tiếng đấy.”

Lão nói toang toang gay gắt một cách tự tin. ở đời không rõ đầu lưỡi hay trong bụng, tôi thấy ai cũng tự tin hơn tôi, tôi càng đâm ra rúm ró. Tôi mù mờ những sóng gió thôn Am, thôn Chuôm. Tôi có cảm tưởng tư Nhỡ đương là thằng Tề Thiên Đại Thánh đánh cả trời mà tôi như con nhái đứng dưới đất giương mắt chẫu, mắt nhái há mõm nhìn lên.”

Tôi nhấm nháp chén chè Tân Cương pha bằng nước đun ở cái ấm điện tý hon chỉ vừa vài chén hạt mít. Một lát, thấy một đứa con gái bưng một mâm vào. Trên mâm, hai bát chậu đựng những cánh xương sườn lợn cong lên như cọc bờ rào, khói béo nồng bốc nghi ngút. Xương ninh làm nước phở, ngon nhất. “Bán phở mà tôi cấm có ăn phở. Tôi không thích mâm bát lôi thôi. Tôi chỉ nhắm rượu, gặm xương. Ông chiều tôi”.

Tư Nhỡ lại nói, giới thiệu:

“Cái con bé này là út của tôi. Nó làm mậu dịch, nó đương là cô mậu bán thịt cho nên bố nó mới được cái khoái này. Bây giờ là nhất nhà mậu, nhà mậu được có cái chén ngay, rồi mới đến nhì thân, ba thế.”

Lúc nãy nhìn đứa con gái tôi ngỡ con bé con, bây giờ mới nhận ra cô mậu dịch áo vét xanh da trời, hai bím tóc Hỉ Nhi tết buông xuống lưng, đôi dép râu, tôi đâm sợ. Ai mà chẳng sợ những cô mậu cong cớn, cô ném ra bán như thí cho bó rau nào thì được nhặt bó ấy.

Tôi uống rượu chẳng mấy. Tư Nhỡ thì vén râu tì tì từng chén. Tôi nhấm nháp theo cũng hào hứng dần lên và thế là nhãng mất cả chuyện lúc chiều định thắt cổ. Đấy, tôi ví thế nào, tôi hèn, tôi bằng thế nào được thằng đồ tể Vách kia, tôi mới chỉ gặm miếng xương mà đã…

“Ông tư ơi, ông được mấy người con giỏi như cô mậu này?”

“Mỗi đứa một phận, không đứa nào giống đứa nào.”

“À…”

Từ lúc ngồi ở cái giường trong “lều trăm năm” ở thành phố này mỗi lúc tôi lại rạp người xuống, tôi phục tư Nhỡ, rồi cúi đầu ăn như ma đói. Chẳng mấy lúc say đứ, nằm đờ ra. Cái thân tôi ăn cũng khổ, lúc nào cũng sắp chết vì bội thực. Tỉnh lại, thấy tư Nhỡ vẫn ngồi nguyên thế, đầu gối rung bành bạch, chốc lại vạch râu tợp một ngụm.

“Thức rồi à? Làm bát không người lái. Phở nóng, nhiều hành, tỉnh ngay.”

“Tôi về…”

“Về làm gì. Ông nằm cái giường này vừa, giường nhà ông như cái ổ chó!”

“Ông biết nhà tôi?”

“Tôi biết cả ông đứng bơm xe đạp ở ngã năm, biết lâu rồi.”

Chưa húp bát phở nóng mà tôi tỉnh tức khắc. Tôi bơm xe đã thành tật cứ lúi húi vặn van, lắp vòi, lúc nào cũng rũ mặt xuống hai tay ấn bơm, chứ mấy khi nhìn ai.

“Về đây làm với tôi.”

Tư Nhỡ đứng dậy chệnh choạng vịn tay vào tường.

“Ấy cái tội của các ông cải cách đây. Thằng tư Nhỡ tụt tường nhà giam, trốn ra, què một chân.
Mỗi câu của tư Nhỡ như đấm vào mặt, vào bụng, vào lưng, tôi chỉ biết oằn người ra chịu đòn.”

“Nhà nước chỉ cho ăn vã bo bo, bột mì rán khan, cái bánh phở là quốc cấm, phải chạy nhiều cửa mới có chén rượu, có miếng xương này. Mai ông đến đây, khối việc. Ông không ra sao cả.”

Tôi thì không ra sao từ lâu lắm rồi. Cái vốc tiền dạo trước cũng chỉ nuốt hết chứ có nên trò trống gì đâu. Nghe nói thế tôi coi như ông chủ đương mặc cả công. Được thì gật, không thì lắc, chẳng còn biết đỏ mặt. Nghe nó nói cũng thuận, có khi mà hay, đỡ nắng gió, khỏi phải há mồm nhảy bơm, mà cái tiền của trời ơi của tư sản giãy chết kia thì biết bao giờ nó còn rơi xuống nữa. Tôi gật gù, lóng ngóng.

Tư Nhỡ đập bốp bàn tay bên kia vào tay tôi.

“Mai đến nhé.”

Tôi bước len lét, lử khử, râu ria lướp tướp như con chó ốm. Đến khi mở cửa trông thấy cái tròng lọng ruột tượng lơ lửng giữa nhà, tôi mới nhớ lại. Tôi bần thần cởi xuống, vứt lại vào cái hòm rác rưởi. Quên ngay, tưởng như chưa khi nào đã định chết thắt cổ.

Tôi ngủ say như chết. Hôm sau, tôi cưỡi cái bơm, mỏi nhức lên đến cánh tay. Thật không thể trông vào cái bơm nữa rồi. Cái bọc tiền đã giết tôi. Nhớ đến những câu chuyện với tư Nhỡ lại càng đau ê ẩm.

Một buổi sáng, tôi đến nhà tư Nhỡ.

Tư Nhỡ cười, vỗ vai tôi.

“Biết anh còn nghĩ đi nghĩ lại mấy hôm mà. Cũng sĩ diện chứ, nhưng cái bơm chỉ bằng cái tăm hương ấy mà nặng đấy.”

Tôi bắt đầu làm một công việc kỳ quái mà dễ hiểu. Không phải phụ bếp, không lau bàn, bưng bê, không rửa bát hay giết gà, mổ lợn – thịt gà và từng súc thịt lợn sống đã có cái cô út làm nhà mậu mỗi buổi đèo trộm về một túi ni lông rồi.

Tôi đi lấy bánh phở. Hồi ấy, cả thành phố trông vào tem phiếu. Bánh trái, chè cháo hàng quán đều dùng đến gạo, bột gạo đều bị cấm, nhưng người ta vẫn chui lủi, thế nào cũng có cách nhoi ra. Mỗi ngày hai buổi đúng giờ như người đi làm cơ quan, tôi vác một bị bánh phở nặng lệch vai về.

Tư Nhỡ dặn:

“Chỗ lấy bánh này nghiêm lắm. Anh có bộ đại cán hay đấy, dễ vào. Nhưng cấm nói, không được nhìn ngang nhìn ngửa. Đem bánh về đến đây, gặp “cá” thì bảo là giữa đường người ta nhờ bán hộ. Rồi tôi gỡ cho, không được đổ cho tôi.”

Mấy lâu nay lặn ngụp trong chợ đời, tôi đã hiểu giữa đường ngoài hè còn biết bao những ma quái bằng bậc cụ những mưu mô và những đòn đánh ở các cơ quan tôi ngày trước.

Tôi đến một toà nhà hai tầng có vườn bao quanh ở một phố tĩnh mịch. Các cửa sổ gác đóng kín chắc là nhà cán bộ to. Tuy to, nhưng tôi để ý chưa phải cỡ có bốt gác cửa.

Tôi đi thẳng vào vườn sau. Bên cái nhà ga ra ô tô có một buồng lửng ngay cầu thang xuống. Trong buồng, một cái nồi ba mươi, bột đương nghi ngút sôi sùng sục. Mấy người xoay trần, tráng bánh cạnh cái công tơ điện xình xịch.

Một người đứng tuổi mặt mũi nhẵn nhụi mặc áo đại cán ka ki hồng nhạt. Trông thấy tôi, ông bước ra, bắt tay – lại bắt tay, chưa quen đã bắt tay lu bù. Ông ấy bỏ kính trắng, – tôi ngờ là kính giả, ông trỏ tay:

“Cái bọc to nhất để ngoài cùng là của anh – Người ấy cúi nhìn đồng hồ đeo tay. – Lúc nào ô tô ra đỗ chỗ kia thì anh vác bọc này đến, lên ngồi ghế trên. Chỗ nào ô tô dừng lại, chú lái mở cửa thì anh xuống. Không được quay lại nhìn, không phải chào hỏi ai cả. Nhớ chưa? Không thì mất lương đấy.”

Tôi đã nhớ từ lúc tư Nhỡ dặn. Nên cũng chẳng buồn trả lời. Nháy mắt, cái xe đen bóng lừ lừ chui ra, cửa kính sau và hai bên khoang dưới treo miếng vải hoa sặc sỡ như bướm đậu. Người lái xe mở cửa trên, tôi bê bọc bánh bước lên, mắt nhìn thẳng đằng trước. Nghe tiếng người bước lên đằng sau rồi sập cửa. Xe lướt ra cổng loang loáng. Nhớ những lần đi cải cách ở Thanh Hoá, ở Thái Bình, hội nghị tổng kết ở Hậu Hiền, ở Quỳnh Côi có cán bộ trên về dự cũng đi những xe đen kềnh càng choáng lộn như thế này. Các ông ấy ngày toàn mặc áo nâu, đi dép râu, không biết bây giờ ông ngồi sau tôi mặc áo nâu hay đại cán. Đương nghĩ loăng quăng, cái xe đã đỗ êm nhẹ. Người lái xe với tay mở cửa. Tôi lùi lũi ôm bọc bánh xuống. Chiếc xe lại bon vút đi. Đấy là ngã ba, rẽ vào một quãng thì đến nhà tư Nhỡ.

Mỗi ngày hai chuyến đi lấy bánh như thế, kể cũng nhàn. Được mươi hôm, dần dần tôi biết mọi lai lịch những bị bánh tôi lấy về và những túi thịt lợn, mỡ lợn, sườn lợn của cô ả mậu. Tư Nhỡ lại tự khoác đi bán các nơi khác. Thảo nào, lão bảo bánh phở Tạ Xìn có tiếng và cái hàng vắng, lão cũng chẳng cần.

Tôi lại biết bọn làm bánh không phải người nhà này, cũng không phải nhân viên cơ quan. Có manh mối, người ta đến xin làm nhờ ở đây. Mọi công chuyện và tiền nong tính toán với bà chủ. Làm bánh trong nhà hộ đặc biệt, các ông “cá” đánh hơi được cũng chịu. Lại ô tô thủ trưởng ngày ngày tải bánh ra, chẳng dám đụng đến.

Cái ông chủ lò bánh mặc áo đại cán, kính trắng, cắp cặp da như chánh văn phòng ngày nào cũng đến xin ý kiến thủ trưởng, ông ấy chuyện với tôi, ông tặc lưỡi:

“Cả làng bây giờ đều phải kiếm thêm, cán bộ nào chẳng như nhà ông này.”

Cái giọng lão ngất ngưởng hệt tư Nhỡ, đủng đỉnh, móc máy, nói đổng. Hay cũng là địa trốn lên thành phố, bây giờ tên là Xìn, là Tiền. Ai biết được.

Tôi đến lấy bánh chui ở nhà ông cán bộ to nọ, tôi lại tìm được cách nghĩ cho yên lòng hơn về sự an bài của xã hội bây giờ.

Tình cờ, tôi được tin cái lão trưởng phòng tổ chức đã sa thải tôi ngày trước, lão bị đi tù rồi. Ông “chánh văn phòng cũng tên là Xìn” ấy một hôm đọc báo rồi kể lại cho đám xay bột. Tôi đứng nghe đích xác tên người, tên cơ quan tôi trước. Nguyên do là lão ta sắp về hưu. Lão mưu với thủ kho làm một quắn lấy trộm hoá chất. Sau khi tuyên án, lão được nói một câu: “Lạy toà, một đời con công tác – toà án không cho lạy, không cho xưng con, nhưng lão cứ nói thế, – con không ăn cắp một tờ giấy, một ngòi bút. Nhưng con sắp phải được nghỉ hưu, con cần kiếm cái dưỡng già, con chỉ kiếm đồng tiền dưỡng già. Xin toà rủ lòng thương”. Lão ấy sáu mươi ba tuổi. Thì tôi ngậm ngùi nông nỗi đời người. Tôi lại quên cái lão trưởng phòng mặt sắt ngày trước. Ai chả thế, cố cùng mới chịu đói, ai chẳng thèm no.

Tối tối, tôi ngồi hầu rượu tư Nhỡ. Quan hệ của tôi với lão cứ nửa nạc nửa mỡ. Không ra chủ cũng chưa hẳn đầy tớ. Tôi chẳng còn nhớ về địa chủ tư Nhỡ ở thôn Am. Nhưng lão thì nhớ ác, thỉnh thoảng móc tôi vài cú.

“Cái đài Ôrêông này của tôi khoẻ lắm, nghe được Sài Gòn, cả đài Mỹ, đài Anh. Bây giờ tôi mới chính cống là việt gian toàn nghe đài địch. Cái thằng đội C. dốt đặc cán mai như con bò, cái galen kêu ẹc ẹc bắt dây lên cột tre lại bảo là dây điện đài đánh đi liên lạc với địch.”

Tôi im, hàm nhai thong thả.

Bát xương sườn lợn bốc khói mỡ béo ngậy. Tôi phải làm bát phở không người lái đã rồi mới uống – cũng giữ ý, kẻo lại kềnh ra như hôm nào.

Tôi đảo mắt nhìn tư Nhỡ. Lão vẫn đương ừng ực một lúc mấy chén cũng như lúc đứng bán phở, lúc đeo túi bánh túi thịt đi, lão nói lão làm phăm phăm, hống hách, máu nhà địa chủ và lão đương làm ông chủ, còn thằng Bối thì hủn hoẳn như con thằn lằn cụt đuôi.
Tôi đã lẻm xong bát phở không mà từ khi trời thành phố hay có máy bay không người lái của Mỹ vào thám thính, bát phở không thịt cũng thành cái tên “phở không người lái”, chẳng ra cợt chẳng ra mỉa nó hay mỉa ta. Tôi nhấc chai, rót lấy chén rượu. Tôi cũng đương làm ra tiền cho nhà này mà.

Tư Nhỡ bỗng dưng hỏi:

“Này cái thằng đội cải cách tên là thằng Cu, thằng Cụ gì nhỉ?”

“Thằng Cự.”

“Ừ, Cự. Nghe cái tên mà còn hốt đến tận giờ. Đêm hôm qua đài Sài Gòn nói có hai thằng đại tá Hà, đại tá Cự người bên ta mới chạy sang bên nó, hai thằng đi họp chống cộng châu Á ở Đài Loan về. Có phải cái thằng Cự ấy hả?”

Tôi lơ đãng:

“Nào biết được!”

Tư Nhỡ cười hê hê:

“Anh chỉ chúi mũi xuống cái bơm, chẳng biết con khẹc gì. Nói thế chứ tôi có biết đâu thằng Cu, thằng Cự. Chả là tôi mê cái giọng con Hà Thanh rồi con Hoàng Oanh đài Sài Gòn, chúng nó hát cho tê tái lòng người đến như thế mới là hát chứ. Đến giờ đấy, để tôi tìm luồng đài Sài Gòn… Mà đài nó nói đêm nay các thằng ấy họp báo. Anh nghe xem có phải không?”

Tôi lẳng lặng thong thả nhấm nháp mảnh xương sườn lợn. Thằng Cu, thằng Cụ, thằng Cự xa lăng lắc chẳng bận đâu đến tôi. Chiếc Ôrêông trên đầu giường tư Nhỡ đã lên nước ám khói màu vàng nhợt. Cái núm quay ọ ẹ ró ráy như chuột chạy. Tư Nhỡ áp tai nghe rồi rối rít: Đấy, đấy… Cúi xuống… này… này. Tư Nhỡ đứng dậy cẩn thận ra cài then cửa. Tôi hờ hững ghé tai vào mặt đài.

Tiếng người đương nói:… thưa đòm bào, chúng tôi đại tá Tám Hà, đại tá Huỳnh Cự… ngày… đi dự đại hội chống cộng toàn châu Á ở Đài Bắc về. Thưa đòm bào, tôi xin báo cáo…

Tôi nhỏm lên, nhớn nhác:

“Đúng, Huỳnh Cự…”

Tư Nhỡ kêu một câu:

“Ối giời ôi!”

Tôi còn đương ngổn ngang những thằng Đình, thằng Cự ngày nào chưa nghĩ thấu sự đời lộn phộc quái ác này. Tư Nhỡ choang choác:

“Bên ta có thằng chó ra hàng, hai thằng chó ấy ra hàng. No cơm ấm cật thì ở bên ta nó cũng sướng chán. Đâu không biết chứ dạo ấy, rễ chuỗi bần cố ngày nào chả lên chợ mua lậu rượu thịt về cho thằng đội Cự. Anh sai con Duyên, con Đơm mấy lần đi mua bánh ngô, bánh dày. Người ta đếm đấy, cả hàng huyện biết chứ. Thế ra nó vào B, nó hàng địch, nó mò ra chỗ ăn chơi, trâu đi tìm trâu đấy, các cụ nói không sai. Mà ai chả thích sướng. Bây giờ tôi sướng hơn ông, nhưng đã ra qué gì, bán cái bánh phở mà như thằng kẻ trộm.”

Tôi lủi về, tư Nhỡ vẫn lảm nhảm huyên thuyên một mình đến tận lúc nào. Tôi nằm xuống giường rồi vẫn máng tiếng thằng Cự với những câu chửi rủa của tư Nhỡ. Đúng nó, đòm bào, đòm bào lại nhớ như mới họp, mới mít tinh hôm qua. Nó leo cao đến thế thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên. Những mưu mẹo, những trắng trợn khủng khiếp. Thế rồi mà lại chạy.

Rồi tôi lại tơ tưởng đến những hộp đựng thuốc bên Úc gửi về. Ừ làm người ở đời ai chả muốn sung sướng, câu ấy rõ chẻ hoe khác cái thằng tôi bơm xe, thằng tôi đi lấy bánh. Tôi chợp mắt, những lọ thuốc tây rơi lả tả xuống mặt, gạt ra không kịp.

Tôi khệ nệ vác tải bánh vào nhà tư Nhỡ, đặt lên bàn. Rồi ngồi xuống thở. Có người lố nhố vào theo. Mấy người, cả người mũ áo công an vàng vàng. Hình như các ông thuế, ông công an đã ngồi chõm ven đường bên kia. Tôi bủn rủn, choáng váng.

“Yêu cầu mở cái gói.”

“Tôi, tôi…”

“Mở ngay!”

Tư Nhỡ ở trong cái lỗ “lều trăm năm” loạng choạng ra, dụi mắt, dường còn ngái ngủ.

“Chào các ông! Ơ thằng kia, thằng lưu manh ở đâu chạy vào đây? À nó đem hàng lậu. Mày định đổ vạ vào nhà ông hả?”

Tư Nhỡ xông đến đấm đạp liên hồi vào mặt, vào bụng tôi, vừa đánh vừa rền rĩ kêu: “Các ông trói nó lên đồn cho tôi. Mả cha thằng ăn cắp, thằng ăn cắp”. Trong khi tư Nhỡ sấn sổ đánh tôi, mấy người chức việc khác ngồi vào ghế mở sổ hý hoáy ghi chép, cũng không ai để mắt tới người bị đòn trước mặt.

Tư Nhỡ nghển lên với tay lấy cái roi mây phất trần. Tôi ù té vùng chạy thục mạng ra. Một lúc nhìn lại, chẳng thấy người đuổi. Xung quanh nhộn nhịp mọi qua lại buổi sáng. Tôi hổn hển bước trong đám đông. Không biết đòn thật hay đòn giả, hay nó làm phép đuổi tôi, quịt công tôi. Hai đầu gối tôi như muốn long ra.

Lúc buồn quá, người ta hay bíu vào những mơ màng. Nhưng tôi mơ màng phía nào cũng vướng. Lại loé lên thằng Vách và cái thừng tròng lọng. Cái ruột tượng ở nhà tôi hình như vẫn để múi tròng lọng. Nhưng tôi quên cái việc thắt cổ rồi. Tôi..

Tôi sờ lên môi. Ngón tay dính nhoè máu. Hàm trên, hổng một lỗ lợi mà không thấy đau. Cái răng gãy văng đi đâu hay đã tụt vào cổ họng lúc thằng tư Nhỡ đánh quai hàm tôi. Ôi, những đứa bị gãy răng đương ra đứng sắp hàng trước mắt, “con đĩ kẻ Đìa này, thằng Đình này, thằng tôi này..” Tư Nhỡ cũng đã khuyết chiếc răng cửa. Ngày ấy nó đã bị ăn cú đòn mất răng chăng.

TÔ HOÀI
Ba Người Khác
V

Ở xóm Am, xóm Chuôm và cả làng ấy đến bây giờ còn kể một câu chuyện ly kỳ.

Năm ấy, có một đợt tuyển bộ đội. Hai anh em Vó và Cò, con bác trưởng thôn Diệc đều tòng quân. Bấy giờ, cuộc kháng chiến chống Mỹ đương giai đoạn khẩn trương, tuổi trẻ cả nước ra mặt trận. Đôi khi, có thư chuyển tay về nhà, có lần có người qua lại, do vậy ở nhà cũng biết tin tức.

Cò thì vào bộ đội vận tải. Vó thành chiến sĩ đặc công. Ở làng bàn tán thấy bảo Vó là đặc công nước, không phải đặc công bộ. Có lẽ thật như thế, bỗng nhiên một lần kia Vó được về làng. Cả làng xúm lại hỏi: “Thế thì Vó bơi từ trong mặt trận ra à?” Rồi đâu đâu cũng đồn chiến sĩ đặc công Vó đã bơi từ mặt trận ra. Thật ra thì chiến sĩ đặc công Vó có công tác đi với đoàn ra miền Bắc. Bây giờ tên Vó là chiến sĩ Quyết Thắng.

Rồi chiến sĩ Vó lại đi ngay.

Thế mà cái tin đội trưởng Cự vào mặt trận phía Nam rồi ra hàng địch, nghe đài Sài Gòn nói, nhiều người cũng biết. Cự chẳng dây mơ rễ má, chẳng họ hàng bàng sang với nhà ai, nhưng bởi Cự đã về làng làm những chuyện động trời, cho nên người ta nhớ, nhớ cái hồi làng nước áo xám. Đòn đau nhớ lâu…

Mọi người còn biết rõ hơn nữa, không biết là thêu dệt hay tường tận. Chuyện cứ hệt như tận mắt trông thấy. Chuyện là bên ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt bằng được thằng phản bội ấy. Cả một trung đội sẽ tấn công, nhưng đặc biệt phải bắt sống hay là giết nó tại trận. Nhiều người giơ tay xin nhận lệnh, rồi chỉ có chiến sĩ đặc công Vó được vinh dự. Quyết Thắng nói: “Tôi biết mặt thằng Cự, nó đã ở nhà tôi mà”.

Một trận đánh chớp nhoáng đột nhập vào cơ quan chiêu hồi của nguỵ ở giữa Sài Gòn. Chiến sĩ Vó đã rút dao chém đứt cổ Huỳnh Cự trong đám quân tháo chạy.

Câu chuyện kỳ lạ cứ được các xóm kể lại mãi, không biết thực hư thế nào.

TÔ HOÀI 1992

RỒNG ĐÁ – Truyện Ngắn – Vũ Ngọc Tiến

RỒNG ĐÁ
- Truyện Ngắn -
Vũ Ngọc Tiến

Kim Hoà gấp cuốn sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn, lặng lẽ nhìn Trần Thăng. Đã một tuần nay chị thấy chồng mình đi về như một cái bóng không hồn. Anh không nói năng, bỏ cả lệ đọc sách. Thỉnh thoảng anh uống rượu, mắt lờ đờ nhìn vào góc tối, luôn miệng thở dài. Có lúc anh cao hứng ngâm thơ Nguyễn Trãi: “Kim cổ vô cùng giang mạc mạc – Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu”. Chị là nhà nghiên cứu lịch sử nên hiểu xuất xứ hai câu thơ ấy Nguyễn Trãi viết khi cáo quan về ở ẩn trên núi Côn Sơn. Vào một chiều cuối thu sắp sang tiết lập đông, ông nhìn thấy từng đàn mây trắng đùn từ phía biên ải xa mờ kéo đến, dòng sông Đá Bạc ầm ào vỗ sóng và rừng cây sau lưng xào xạc trút lá khô vàng rơi đầy mặt đất. Ông tức cảnh, sinh tình mà ngâm hai câu thơ bày tỏ nỗi lòng mình.
Nhưng Thăng đâu có giống tình cảnh Nguyễn Trãi. Anh là giáo sư tiến sĩ toán học, sao anh không an phận với những công trình lý thuyết về toán tin học của mình. Chức viện trưởng lâu nay chỉ tổ làm anh suốt ngày bận bịu với những vụ linh tinh, biến anh thành thứ viên chức hành chính tầm thường, báu gì. Đã thế, cái viện cỏn con của anh có một dúm người mệnh danh là “nhà” hay “lều” khoa học cả đấy, mà sao quanh năm suốt tháng vẫn gầm ghè, đấu đá tranh ăn, giành ghế. Họ ăn không nói có, tung lời đặt chuyện về nhau chẳng khác gì mấy chị hàng tôm, hàng cá ngoài chợ.

Hình như đam mê quyền lực là thứ bệnh thâm căn, cố đế của cánh đàn ông. Sa đà vào đó, mặt người bỗng trở nên lem luốc, chẳng ra mặt người. Biết thế mà có ai chịu từ bỏ dễ dàng đâu ! Nhiều lần anh thanh minh với chị rằng không phải anh ham quyền chức, nhưng làm viện trưởng sẽ thuận lợi cho công trình nghiên cứu và có dịp giao tiếp học hỏi với thế giới bên ngoài. Chị biết đó chỉ là nguỵ biện. Làm vợ ai chẳng muốn hãnh diện về chồng. Anh làm xếp có xe đưa, xe đón, thỉnh thoảng lại xuất hiện trên ti vi, đài báo thì vợ con cũng nở mày mát mặt. Chồng đi Tây, đi Tàu, chị cũng có thêm đồ này, thứ nọ để khoe với chị em, bè bạn. Nhưng chị cũng là nhà trí thức. Chị khao khát anh có những công trình khoa học sáng giá để lại cho đời, lưu danh sử sách. Ngày ấy chị yêu anh vì anh đẹp trai, thông minh, lịch lãm và rất hồn nhiên yêu đời. Anh là nhà toán học trẻ tuổi, có công giúp nhà vật lý bên quân đội tính toán ra vùng mù sóng nhiễu máy bay B52. Nhờ đó mà mấy vị tướng lĩnh quân đội đã bố trí các trận địa tên lửa, các trạm ra đa trong vùng mù nhiễu sóng ấy để phát hiện và bắn rơi máy bay địch, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội. Nếu anh cứ vẫn yên tâm theo đuổi các công trình toán học, biết đâu sẽ có nhiều cống hiến lớn khác trong thời bình. Chức viện trưởng và quyền lực như ma ám, làm anh u mê chỉ biết say sưa lao vào các vụ đấu đá, củng cố quyền lực.

Rất nhiều năm rồi, chị chưa thấy anh có thêm phát minh nào mới, mặc dù học hàm, học vị của anh đã lên tới tột đỉnh. Anh trở nên người thích xu nịnh, háo danh và mất cảnh giác. Đợt bầu viện trưởng vừa rồi anh bị hạ bệ êm ru cũng vì mất cảnh giác. Chắc anh nghĩ rằng gã viện trưởng mới ngày nào chỉ là một thằng cử nhân “gia công” dốt đặc cán mai, làm sao dám so bì uy tín với anh trong giới khoa học. Nhưng anh đã lầm, là phụ nữ nên nhạy cảm và đã sớm nhắc anh đề phòng. Mấy năm nay vợ hắn buôn bán phất lên nhờ mấy vụ sốt giá nhà đất. Hắn có tiền chạy vạy để được làm phó tiến sĩ trong nước. Anh là người hướng dẫn phụ, nhưng nể lời ông bạn làm giáo sư ở trường Đại học đã gần như viết hộ luận văn tốt nghiệp cho hắn. Mỗi lần thấy hắn đến nhà khệ nệ ôm gói to gói nhỏ, mắt la mày lét, miệng luôn vâng dạ, hai tay xoa vào nhau, lưng hơi cúi khòng, chị thấy khinh bỉ đến lợm giọng. Chị nhắc anh nhớ lại lời của Jo-han Gốt-liep Phích-tơ, nhà triết học cổ điển Đức: “Kẻ nào làm thuộc hạ mà lúc nào trước mặt anh cũng sẵn sàng quỳ mọp xuống đất một cách đê tiện thì sớm muộn gì nó cũng phản anh”. Thật lòng mà nói, khi nghe tin anh mất chức viện trưởng chị cũng hơi choáng váng, hụt hẫng. Nhưng chị không ngờ anh hốc hác, gày rộc, chán đời và mất hết thăng bằng đến như vậy. Chị nghiên cứu lịch sử, hiểu thấu mọi lẽ hưng phế của các triều vua. Chị là người ngoài cuộc nên có lẽ chị bình tĩnh, sáng suốt hơn anh chăng. Chị muốn an ủi, động viên, nhưng anh cứ ậm ừ rồi lảng tránh. Tính anh xưa nay không muốn làm phiền người khác. Nhưng chị là vợ, gắn bó suốt đời với anh chia ngọt sẻ bùi. Chị sẽ phải làm gì để lấy lại thăng bằng cho anh, để anh lại tiếp tục say sưa với công trình khoa học như ngày xưa anh say sưa tính toán ra vùng mù sóng nhiễu của B52.

Kim Hoà đứng dậy, nhẹ nhàng đi về phía chồng. Trần Thăng vẫn nằm dài trên ghế xích đu đặt gần ban công để anh ngắm trời, ngắm đất. Đêm cuối tháng tối thâm, không một vì sao, vẳng tiếng côn trùng eo óc, nỉ non. Chiếc đôn sứ bên cạnh với bao thuốc gần rỗng và chiếc gạt tàn đầy ặc các mẩu đầu lọc. Xưa nay anh vốn ít hút, cứ thế này thì đen xì hai lá phổi còn gì! Chị thầm nghĩ, lắc đầu chua xót nhìn anh, tròng mắt ươn ướt. Lồng ngực của chị như có gì chèn tức đến ngẹt thở. Chị âu yếm quàng tay lên cổ, ray ray cằm lên mái tóc bồng đốm bạc của anh.

- Em không đọc sách nữa à? – Anh hỏi.

- Không . Đêm nay em muốn mình đi ngủ sớm. Chiều em một tí, đi mình! -Chị lắc người nũng nịu như hồi trẻ. Tay chị vuốt lên ngực anh để trần.

- Nghĩ mà ngao ngán cho đời, không ngủ được.

- Quên mọi chuyện đi. Nghĩ lắm cho già người.

- Quên sao được hở em. Mình dày công xây dựng viện từ khi còn trứng nước, công lao và học vấn là thế, bỗng nhiên bị thằng mất dạy nó đá đít với lý do trẻ hoá cán bộ. Nếu phải giao quyền cho mấy cậu vừa tốt nghiệp tiến sĩ ở nước ngoài về đã đành một nhẽ. Đằng này…

- Quan nhất thời, dân vạn đại mà anh. Xưa nay có triều vua nào ngự trị bền mãi đâu anh.

- Em lại sắp lên cơn bệnh nghề nghiệp, bà phó tiến sĩ sử học của anh ạ! Hôm nay anh hết hứng thú nghe em kể chuyện xưa, tích cũ rồi. Bụng anh đang rối bời, chán phè. Ước gì anh hoá rồng lúc này, bay tít lên cao nhìn rõ mọi cuộc đấu đá, tranh giành ở khắp thế gian.

- Vậy chúng mình buông màn đi nghỉ. Nằm trên giường em sẽ kể chuyện rồng cho anh nghe.

Chị dìu anh đứng dậy, đi về phía giường, nhẹ nhàng đặt đầu anh xuống gối và tháo dép cho anh. Lòng chị lâng lâng sung sướng khi thấy vầng trán anh bớt nhăn, khoé mắt anh sáng lên nụ cười hiếm hoi. Chiếc màn tuyn xanh mát buông xuống, thoảng bay mùi nước hoa chị vừa kín đáo phun nhẹ bốn góc màn để xua muỗi. Cả chiếc quần lót và váy ngủ của chị cũng thoảng bay mùi hương quyến rũ, được chị mua về từ siêu thị chiều nay. Trần Thăng xoay người nhìn sâu vào mắt vợ. Anh vuốt nhẹ mấy sợi tóc mai, mỉm cuời, nháy mắt hỏi yêu:

- Chuyện rồng của em thế nào? Ở bên Tây người ta xem rồng là ma. Vợ anh đừng kể chuyện gì về rồng làm anh sợ ma mất ngủ là bắt đền đấy.

- Đền gì nào, anh yêu?

- Đêm hai ngày một.

- Khiếp… sức đâu mà đền ! nhưng sao đêm nay anh bỗng thành con nít sợ ma thế ?

- Thì chuyện bầu viện trưởng ở chỗ anh cũng là ma hiện đại còn gì.

- Nói cho cùng trên đời làm gì có rồng- Chị lựa lời kéo dài thời gian bằng câu chuyện bâng quơ, tay mơn man thoa nhẹ khắp người anh..

- Em nói đúng. Nếu cắt bỏ cái đầu rồng có bờm như sư tử đi thì nó có khác gì con rắn, con rết hay con giun đất, em nhỉ !

- Bởi vì rồng không có thật nên mới linh thiêng. Lúc đầu nó tượng trưng cho sức mạnh huyền bí của thiên nhiên có thể hô gió, gọi mưa. Lâu dần nó được con người huyền hoặc, gắn nó tượng trưng cho vương quyền và sức mạnh của vua chúa.

- Đời thật thú vị! Cứ cái gì hư thực, thực hư bỗng thành thiêng liêng, uy quyền trùm khắp thiên hạ.

- Chẳng có gì là uy quyền tuyệt đối anh ạ! Em nghiên cứu rồng qua các triều vua thấy thế rồng cũng biến đổi theo thời cuộc, theo quyền uy và điểm yếu của các ông vua. Triều Lý, vương quyền còn đang manh nha, chưa với tới được các bộ tộc, bản làng ở rừng núi xa xôi. Người ta phải mượn tích Âu Cơ có trăm trứng để nhắc nhở các tộc trưởng miền núi thần phục vương triều. Vậy nên thế rồng thời Lý có thân cuộn lại thành khúc tròn và trong mỗi khúc cuộn ấy chứa biểu tượng một quả trứng rồng, theo tích Lạc Long và Âu Cơ. Sang đến thời nhà Lê, nhất là triều vua Lê Thánh Tông, vương quyền được củng cố, vươn ra thâu tóm các bộ tộc xa gần , lấn át cả vua nước Chàm và Ai Lao. Thế rồng thời Lê trở nên lượn sóng hình sin, rất tao nhã và thanh thản, hài hoà. Đến thời nhà Mạc các nghệ nhân ngầm có ý ám chỉ vương quyền đang trong tay cha con một ông võ tướng tiếm ngôi, biến vị. Thế rồng thời nhà Mạc biến đổi một cách kỳ lạ. Lưng rồng không còn uốn éo hình sin như thời nhà Lê và gồng lên như một cái yên ngựa. Nó khác nào con rồng thời Lê vừa bị đánh một côn trượng đau oằn lưng. Dưới triều nhà Nguyễn, văn hoá phương Tây tràn qua, tư tưởng và lối sống của con người trở nên phóng khoáng, không câu nệ, chấp nhặt theo các giáo lý các bậc hủ nho. Các nghệ nhân điêu khắc ở nước mình sáng tác đủ các thế rồng không theo một khuôn mẫu nhất định nào. Cái lạ là rồng vẫn ra rồng, không thể lẫn với con vât nào khác. Một điều lạ nữa là có lẽ rồng thời Nguyễn biến đổi nay thế này mai thế khác nên đã ứng nghiệm vào cuối triều Nguyễn vương quyền được thay như thay áo. Có ông lên ngôi được ba tháng, có ông được ba ngày…

Trần Thăng nằm yên tận hưởng sự vuốt ve và nghe vợ kể chuyện rồng. Trong lòng anh bỗng nhiên thanh thản. Anh chạnh nhớ về miền quê Kinh Bắc. Nhớ cái làng nhỏ bên bờ đê sông Đuống nơi an chôn nhau, cắt rốn và tuổi thơ anh thả diều, bắt bướm. Lòng anh nôn nao nhớ từng con đường gạch lát nghiêng, cây đa, bến nước, sân đình. Ôi ! Cái ngôi đình nhỏ ở quê anh có tự bao giờ sao anh chẳng biết,chẳng bận tâm hỏi rõ ngọn ngành. Ở hai bên thành của bậc tam cấp bước lên thềm cao ngôi đình cổ ấy có hai con rồng đá, sao anh chẳng nhớ nó cuộn khúc ủ trứng rồng, hay lượn sóng hình sin, hay oằn lên như yên ngựa.

Thăng nhớ thằng bạn nối khố có tên là Tươi mà suốt đời chỉ gặp chuyện buồn. Tươi ra trận, trở về với một chân và nhằng nhịt vết sẹo ở lưng, ở bụng. Giờ đây Tươi đang yên phận làm anh chăn vịt. Có lẽ bù lại Tươi được Thảo yêu, chờ đợi gần chục năm ròng. Họ đã có với nhau cả một nửa tá thị mẹt và đang sống nheo nhóc ở làng quê nghèo bán sơn, bán địa. Vậy mà sao những lúc vinh hiển, vào Nam ra Bắc, đi Tây đi Tàu, anh chẳng có chút bận tâm mua ít quà nhỏ cho sáu cô lọ lem của Tươi và Thảo… Thăng nhớ như in cô bé Thảo ngày nào. Nàng kém anh và Tươi chừng năm sáu tuổi. Khi hai đứa học cấp hai thì Thảo còn bé tí, suốt ngày cùng đám trẻ mẫu giáo trèo lên, trượt xuống trên lưng hai con rồng đá. Hợp tác xã hồi ấy biến ngôi đình cỏ thành nhà trẻ, mẫu giáo. Trẻ con nhà quê thường lấm lem nhếch nhác, có khi cởi truồng đến lớp. Thăng và Tươi hay ra sân đình trêu Thảo: “lêu lêu có đứa cởi truồng!” Phải đến khi Thảo khóc ré lên hay cô giáo ra quát mắng hai đứa mới chịu rủ nhau ra ao tắm hay mò ốc vặn.

Năm qua đi, tháng qua đi, thoắt cái Thăng đã trở thành chàng sinh viên khoá bảy Bách khoa. Lần trở về làng, anh không dám tin ở mắt mình trước một cô Thảo mắt bồ câu lúng liếng, bộ ngực căng tròn, tấm thân thắt đáy lưng ong. Anh và Tươi cùng ngấm ngầm mê Thảo, cùng ganh đua để được Thảo yêu. Hoá ra anh chàng Tươi củ mỉ cù mì mà có duyên ngầm nên đã chiếm được trái tim nàng… Thăng nhắm mắt mơ màng thả hồn theo dòng hồi ức. Hoà bồi hồi nhìn chồng đang mỉm cười, nụ cười làm sáng cả đêm tối trăng. Chị khẽ lay anh.

- Mình! Mình buồn ngủ rồi à?

- Không, anh đang nhớ quê, nhớ bạn bè thủa ấu thơ, nhớ đôi rồng đá ở hai bậc tam cấp ngôi đình.

- Vậy thì mai chúng mình về quê, anh nhé!

- Có lẽ nên như vậy. Anh sẽ cảm thấy nhẹ lòng, thư thái hơn.

Họ ôm nhau, xoắn chặt vào nhau như đôi rồng phun nước. Thăng như chàng trai mới lớn đầy ham hố, chồm lên đi thật sâu vào cơ thể vợ tìm khoảnh khắc thần tiên. Chị hưởng ứng bằng tất cả sự phấn khích trào dâng trong từng động tác mặn mòi của tuổi hồi xuân. Hơi thở hai người làm ấm cả trời đêm mùa thu se lạnh, lác đác hạt sương rơi. Đêm cuối tháng chìm sâu, huyền bí, ẩn hiện những bóng rồng giữa bốn bề lặng im bao la trời đất và cả trong cõi nhân sinh muôn thủa những kiếp người.

Sáng. Hoà tỉnh dậy sớm. Chị sợ làm động giấc của anh sau nhiều đêm thao thức, dằn vặt. Chị khẽ khàng trườn qua người anh, trượt gót xuống nền nhà. Hoà đẩy cửa ra ban công hít thở không khí trong lành buổi sớm mai. Phía rạng đông bắt đầu hé sáng. Những mái nhà rêu mốc của khu phố cổ đang ửng dần những tia nắng màu hồng nhạt, lẫn pha sắc tím, chiết quang từ những hạt sương li ti. Nó bò dần theo các ống máng và chuyển sang màu đỏ. Từng vạt nắng lung linh lan trải trên hàng sấu và trên hè phố loáng thoáng rơi mấy quả sấu chín vàng vỏ đã nhăn nheo, báo mùa thu sắp hết. Hoà chợt giật mình nhận ra một mùa đông sắp về theo ngọn gió heo may trên các ngọn mía bên đê sông Đuống quê chồng. Đã nhiều năm bận rộn với công việc nghiên cứu, việc nhà lút cổ, Hoà không về quê. Những ngồng cải hoa vàng sau ngôi nhà ngói năm gian thân thương ở vùng quê Kinh Bắc như vẫy gọi chị về. Hoà thẫn thở vơ vẩn hồi lâu rồi quay vào tủ lạnh, lấy quả bầu dục với hai gói mì xuống bếp. Chị ý tứ giấu một nửa trái bầu dục dưới đáy bát của anh. Nửa còn lại chị chia đều hai bát. Các con đã trưởng thành, đi xa. Ở nhà ăn miếng gì ngon chị cũng nhường anh. Chị khẽ mỉm cười vì nếu anh biết nhất định sẽ đòi vợ đổi bát và ép chị ăn bằng hết mới chịu đụng đũa. Hạnh phúc đơn sơ thầm kín này chị sẵn sàng đánh đổi mọi thứ quyền chức, giàu sang để được nó. Thăng đã nghe thấy tiếng lục đục dưới bếp và tỉnh dậy. Anh khăng khăng giành lấy chậu quần áo từ tay chị mang lên sân thượng phơi. Hai người thủng thẳng ăn hết bát mì. Chị tất tưởi đi chuẩn bị hành lý về quê, còn anh ngồi uống cà phê vợ đã pha sẵn. Thăng không quên nhắc vợ gói ít kẹo và mấy mảnh vải hoa mang về cho mấy đứa cháu ngoại của Tươi và Thảo.

Xe bon bon trên con đường nhựa rộng rênh, phẳng lì. Hai bên đường những thửa ruộng vừa gặt còn trơ lại gốc dạ nâu đen. Những chú chim gáy đi ăn sớm đang tha thẩn tìm hạt lúa sót trên các đường cày lật đất nổi gợn lên giữa cánh đồng, nhìn từ xa nom giống như vồng ngực của người thiếu nữ tuổi dậy thì. Xe đưa Thăng rẽ lên bờ đê sông Đuống vàng rực nắng, lồng lộng gió. Lòng anh phơi phới niềm vui. Con đường càng ngắn lại, tình yêu quê càng bùng cháy, thiêu đốt mọi nỗi ưu tư, phiền muộn. Câu chuyện về những con rồng qua các triều vua Hoà kể đêm qua khiến Thăng thao thiết mong gặp lại ngôi đình cổ với đôi rồng đá tuổi thơ. Vừa đến đầu làng, anh cho xe lượn thẳng vào sân đình. Hoà nắm tay chồng cùng hớn hở chạy lại quỳ bên con rồng đá. Thăng vỗ tay vào lưng vợ reo lên thích thú:

- Mình ơi! Nó uốn lượn mềm mại, bay bướm, uyển chuyển hình sin. Đúng là rồng đời Lê rồi.

- Vâng. Đình làng mình có từ đời Lê. Em cũng không ngờ quê nội các con có ngôi đình cổ đến như vậy. Mọi lần về quê đều sấp ngửa, vội vàng em chưa ra sân đình lần nào.

- Anh nghĩ, rất có thể góp thêm tư liệu cho công trình nghiên cứu của em cũng nên.

Hòa nhoài người bò lên thân con rồng đá. Chị áp sát cặp kính cận dày cộp vào từng nét chạm sâu, từng đường uốn lượn của các hoạ tiết trên mặt, lưng và bụng rồng. Hồi lâu chị ngẩng lên nhìn Thăng say sưa giải thích cho anh ý nghĩa từng hoạ tiết. Thăng nghe vợ như uống từng lời. Anh bồi hôi xúc động, thầm cảm phục Hoà. Cuộc sống quanh anh có bao cái đẹp, cái quý giá mà anh hờ hững hoặc chưa chịu khám phá, cảm nhận được nó. Anh nghĩ vậy và cảm thấy yêu đời hơn, gắn bó với làng quê nghèo khó, với những con người quanh năm lam lũ mà rất hồn nhiên, không màng danh lợi, không bon chen đấu đá, tranh cướp quyền lực. Chợt anh nhìn thấy bóng Tươi chống nạng phăm phăm đi tới, sau lưng Tươi là Thảo là mấy đứa trẻ nhỏ trong làng.

- Thăng về đấy phỏng? – Tươi hỏi như quát.

- Sao biết vợ chồng mình về mà ra đón?

- Đón điếc cóc khô gì. Mình nghe trẻ con trong làng kháo nhau có hai ông bà lịch sự ngoài Hà nội, mỗi người đeo hai đít chai dày cộp, đang ở ngoài sân đình xem con rồng đá nên đoán ngay ra vợ chồng ông thôi mà. Ngọn gió lành nào đưa ông bà về quê đẩy, hử?
- Nhớ thì về chứ gió lành, gió dữ gì…

Thăng đẩy nhẹ vợ về phía Thảo. Hai người đàn bà thẽ thọt chào nhau, làm thân rất nhanh và rủ rỉ tâm sự. Tươi vẫn nói oang oang như sân đình chỉ có anh và Thăng.

- Ông là chúa tệ, làm quan rồi, giàu sang rồi chẳng thèm ngó ngàng hỏi đến bạn bè.

- Bận tối mũi tối mắt, ông và các bạn bè ở quê tha cho mình.

- Bận… Bận… Bận cái nỗi gì? Có mà bận đỡ đòn giữ ghế. Cái tạng ông thật thà như đếm, chống đỡ làm sao cho được bọn tiểu nhân mẹo vặt đầy người. Bị chúng nó cho lộn tùng phèo rồi phỏng?

- Thế ra ông biết hết mọi chuyện? –Thăng ngỡ ngàng hỏi lại.

- Đừng khinh thằng bạn lính què, chăn vịt ở xó quê nhá. Chuyện to chuỵên nhỏ của bạn bè ngoài Hà Nội cũng không lọt qua lỗ tai, con mắt của mình. Mà thôi, vứt quách ba cái chuyện ấy cho nó nhẹ lòng. Ông và Hoà từ nãy ngắm nghía con rồng đá đố biết có gì hay không?… Đám trí thức thị thành các vị không rành rõ chuyện nay bằng cánh nhà quê ấm ớ như mình đâu. Này nhé! Các con rồng thiêng ở đâu mình không biết, chỉ thấy nó dù làm bằng gỗ, bằng đồng, bằng đá, hay bằng vàng đi nữa mà đặt xa cách với con người là vứt ! Nếu nó không mốc meo, mối mọt thì cũng nhện chăng, bụi bám rồi khuất chìm dưới đáy bể thời gian. Cứ như con rồng đá đình làng ta lại hoá hay. Bao nhiêu thế hệ mẫu giáo xa xưa đến lớp mụ Thảo nhà mình và bây giờ là lớp con, lớp cháu đã nối tiếp nhau, áo quần nhếch nhác, leo lên tụt xuống nên cái lưng rồng mời nhẵn bóng, sáng loáng. Chỉ cần nhìn xuống chân, xuống bụng con rồng đá khắc thấy chỗ nào các thằng cu, con hĩm ít gí chim,chạm bướm tới là rêu mốc đã bám ngay rồi…

Tươi nói say sưa, giọng choang choang như chuông không cần e dè, kiêng nể. Có lúc cao hứng, anh gõ chiếc nạng cạch cạch xuống sân đình. Hoà liếc nhìn sang chồng. Chị mừng vì chưa thấy bao giờ anh hồn nhiên, vui vẻ như vậy. Cái chất nhà quê thật thà, nói nhanh, nói to của Tươi như lây sang người Thăng. Họ vung tay, múa chân, nói cười ngả ngớn, tự do. Cái tự do không dễ tìm được ở các hội nghi trang nghiêm giả tạo, nói lời vay mượn mà Thăng và chị vẫn từng miễn cưỡng tham dự đã nhiều năm. Nó giá trị chẳng bằng nửa lời của Tươi vừa nói về rồng chăng?…Chị xúc động ngả đầu vào vai Thảo ngắm nhìn hai người đàn ông thao thao, bất tận những câu chuyện mà họ dành cất trong kho kỷ niệm từ thời tám hoánh.

Nắng trưa đã lên tròn bóng. Mặt nước ao đình lăn tăn gợn sóng theo nhịp khoả chân của các cô thôn nữ đi làm đồng về. Lòng Hòa thầm reo: Ôi quê hương, con cám ơn ngườI ! Nếu biết thế này, con đã đưa Thăng về với người từ hôm đầu xảy ra câu chuỵên bầu bán ở viện của anh…

Ngày đăng: 16.5.2006, Nguồn : Văn Nghệ Sông Cửu Long